phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án kết cấu gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với các nƣớc trên thế giới Chƣơng 3. Chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á Chƣơng 4.
Chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam và một số gợi ý chính sách. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Có thể khẳng định r ng, chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với các nƣớc trên thế giới nói chung trong đó có chiến lƣợc kinh tế đối với khu vực Đông Á là chủ đề nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nƣớc. Các công trình đề cập đến các khía cạnh khác nhau về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á tập trung ở bốn xu hƣớng sau: - Thứ nhất, lý luận về quan hệ kinh tế đối ngoại của Trung Quốc - Thứ hai, chiến lược kinh tế của Trung Quốc đối với Đông Bắc Á - Thứ ba, chiến lược kinh tế của Trung Quốc đối với Đông Nam Á - Thứ tư, chiến lược kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam Khó có thể so sánh định lƣợng về số lƣợng các nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài bên nào nhiều hơn hay ít hơn, bởi giới học giả trong và ngoài nƣớc đều dành sự quan tâm lớn cho chủ đề nghiên cứu về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á. Tuy nhiên, đi sâu từng hƣớng nghiên cứu cụ thể thì có sự khác biệt rõ rệt.
Hƣớng nghiên cứu thứ nhất về lý luận quan hệ kinh tế đối ngoại của Trung Quốc có sự cân b ng về các tài liệu trong và ngoài nƣớc; nhƣng hƣớng nghiên cứu thứ hai về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với Đông Bắc Á lại có sự khác biệt c n bản khi số lƣợng học giả nƣớc ngoài quan tâm lớn hơn hẳn các học giả trong nƣớc; trong khi đó, hƣớng nghiên cứu thứ ba về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với Đông Nam Á thì số lƣợng và sự bao quát về nội dung ở tài liệu của các học giả trong nƣớc có nhiều hơn so với các tài liệu nƣớc ngoài; tuy nhiên, hƣớng nghiên cứu thứ tƣ về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam lại chứng kiến sự vƣợt trội của các học giả trong nƣớc. Khác với nhiều chủ đề nghiên cứu, các tài liệu nghiên cứu thƣờng đƣợc phân biệt khá cụ thể và rành mạch giữa các tài liệu trong nƣớc và tài liệu nƣớc ngoài. Chủ đề “chiến lược kinh tế của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á ba thập niên đầu thế kỷ XXI” là sự đan xen lẫn nhau giữa các học giả trong nƣớc và nƣớc ngoài ở cùng một hƣớng nghiên cứu. Do đó, trong chƣơng này tác giả tổng quan tài liệu nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến luận án theo từng nội dung nghiên cứu, không tách ra riêng nhóm tài liệu nghiên cứu trong nƣớc, nhóm tài liệu nƣớc ngoài, với mục đích khẳng định các hƣớng nghiên cứu nhận đƣợc sự quan tâm của cả các học giả trong và ngoài nƣớc.
8 Có một hƣớng nghiên cứu khá phổ biến về chiến lƣợc của Trung Quốc với Đông Á là chiến lƣợc ngoại giao, chính trị ở cả hai khía cạnh chiến lƣợc ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Á và phản ứng chính sách của Đông Á đối với chiến lƣợc ngoại giao của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chú trọng vào khía cạnh kinh tế đối ngoại của Trung Quốc, nếu đề cập đến khía cạnh ngoại giao và chính trị thì chỉ nh m làm nổi bật hơn quan hệ kinh tế Trung Quốc - Đông Á. Về lý luận quan hệ kinh tế đối ngoại của Trung Quốc Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là động lực, là yêu cầu tất yếu của kinh tế thế giới, nó đã định hình lại kinh tế và các mối quan hệ quốc tế đồng thời tạo ra cả cơ hội và thách thức. Tiến trình này dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia ngày càng gia t ng, liên kết khu vực và tƣơng tác giữa các nƣớc với nhau trở thành vấn đề then chốt trong chiến lƣợc kinh tế của mỗi quốc gia đối với bên ngoài.
Đối với Trung Quốc, toàn cầu hóa không những làm cho hoạt động kinh tế đối ngoại của họ thay đổi c n bản mà còn khiến họ chuyển đổi một loạt những quan niệm truyền thống cũ trƣớc đây, từng bƣớc xóa bỏ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung thống nhất, xóa bỏ mô hình kinh tế kh p kín dựa trên nguyên tắc “tự lực cánh sinh”, giao lƣu hạn chế với phần còn lại của kinh tế thế giới. Trong quá trình thực hiện chính sách mở cửa, cải cách thể chế kinh tế, Trung Quốc đã từng bƣớc đi vào nền kinh tế toàn cầu, tham gia sâu rộng vào tiến trình phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế s n có của mình. Đồng thời, trong quá trình này, kinh tế đối ngoại Trung Quốc đã tiếp nhận những ảnh hƣởng mang cả những yếu tố có lợi và bất lợi, làm cho hoạt động kinh tế đối ngoại vừa có sự phát triển, vừa đứng trƣớc những trở ngại, thách thức to lớn. Khi nói về chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc đối với các nƣớc trên thế giới, các nhà nghiên cứu kinh tế đều thống nhất r ng, thành công của Trung Quốc trong tiến trình phát triển kinh tế là sự kết hợp hài hòa và phù hợp giữa chiến lƣợc cải cách mở cửa, nhấn mạnh đến chiến lƣợc kinh tế đối với các quốc gia trên thế giới với khả n ng chớp thời cơ trong môi trƣờng quốc tế hội nhập.
Cuốn “Mưu lược Đặng Tiểu Bình”, NXB Chính trị Quốc gia 1996, Hà Nội của học giả ngƣời Trung Quốc - Tiêu Thi Mỹ là ấn phẩm đáng chú ý. Tác giả phân tích mƣu lƣợc kinh tế của Đặng Tiểu Bình, trong đó nhấn mạnh đến mƣu lƣợc kinh tế đối ngoại và cho r ng nền tảng phƣơng pháp luận chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc 9 nói chung cũng nhƣ chiến lƣợc kinh tế đối với khu vực Đông Á nói riêng đƣợc xây dựng trên cơ sở lý luận kinh tế của Đặng Tiểu Bình. Với lý luận “Mèo Trắng - Mèo Đen”, Ông Đặng Tiểu Bình đề cao phát triển sức sản xuất của quốc gia, không nặng hình thức bên ngoài là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tƣ bản, cốt lõi là lực lƣợng sản xuất phải phát triển không ngừng, đem lại cuộc sống giàu mạnh cho dân chúng, xây dựng đƣợc đất nƣớc hùng cƣờng. Lý luận kinh tế đối ngoại Đặng Tiểu Bình có thể đƣợc tổng hợp ngắn ngọn là “cải cách bên trong, mở cửa với bên ngoài”; “xây dựng một đất nƣớc không nên đặt mình vào trạng thái đóng kín và địa vị cô lập.
Cần coi trọng giao lƣu quốc tế rộng rãi. Có thể giao dịch với bất k ai, trong quá trình giao dịch phải tìm lợi tránh hại”. Đầu những n m 1990, nh m đối với phó với tình hình bất ổn ở Đông Âu, Đặng Tiểu Bình đƣa ra chiến lƣợc “giấu mình chờ thời” - “bình tĩnh quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời”. Đây là chiến lƣợc không chỉ áp dụng đối với lĩnh vực ngoại giao chính trị mà đƣợc vận dụng đối với ngoại giao kinh tế [38].
Hồ An Cƣơng (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, NXB Thông tấn, Hà Nội là công trình nghiên cứu nổi tiếng của giáo sƣ ngƣời Trung Quốc. Tác phẩm đƣợc chia làm 12 phần với những nội dung chiến lƣợc của Trung Quốc khác nhau. Khi đề cập đến tình hình châu Á - Thái Bình Dƣơng và chiến lƣợc Đông Á của Trung Quốc, ông cho r ng khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng có đặc điểm đơn cực tƣơng đối mờ nhạt, khuynh hƣớng đa cực rõ rệt, quan hệ Trung - Mỹ - Nhật là mấu chốt định hình khu vực. Ông đề xuất chiến lƣợc đối với Trung Quốc là phải suy tính ở góc độ xấu nhất và vạch ra kế hoạch chống chiến lƣợc r n đe của Mỹ; tạo điều kiện phát triển quan hệ Trung - Nhật, tận dụng lợi thế từ Nhật để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế trong nƣớc và hội nhập bên ngoài; đối với Đông Nam Á là tiếp tục coi khu vực này là trung gian cân b ng quan hệ nƣớc lớn [18].
Nguyễn Kim Bảo là một trong những học giả dành nhiều quan tâm vào hƣớng nghiên cứu này. Trong ba tác phẩm “Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa có đặc sắc Trung Quốc”- NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội n m 2002, “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992-2010” - NXB Khoa học Xã hội n m 2004 và “Gia nhập WTO Trung Quốc làm gì và được gì”- NXB Thế giới n m 2006, Nguyễn Kim Bảo đều đề cập đến chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc, đồng thời cho r ng hội nhập kinh tế quốc tế đã mang đến nhiều lợi ích cho phát triển kinh 10 tế của Trung Quốc. Nếu nhƣ trong tác phẩm “Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa có đặc sắc Trung Quốc”, bà cho r ng kinh tế đối ngoại cũng phải mang màu sắc Trung Quốc, không quan trọng là quốc gia nào miễn mang lại lợi ích cho Trung Quốc là có thể hợp tác. Trong khi đó,”Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992-2010”, tác giả tiếp tục nhấn mạnh vào nội dung then chốt của công cuộc cải cách kinh tế mở cửa ở Trung Quốc, việc điều chỉnh chính sách kinh tế phải đƣợc thay đổi phù hợp, nhấn mạnh đến việc t ng cƣờng hội nhập khu vực và quốc tế; bà khẳng định cuộc điều chỉnh chính sách này của Trung Quốc đã và đang có tác động lớn đối với khu vực và thế giới, trong đó có Việt Nam.
Khác với hai tác phẩm trên, ở tác phẩm thứ ba “Gia nhập WTO Trung Quốc làm gì và được gì” - NXB Thế giới n m 2006, tác giả vẫn đề cập đến chiến lƣợc kinh tế của Trung Quốc, tuy nhiên tác giả đi sâu phân tích những cái đƣợc và mất khi Trung Quốc hội nhập sâu hơn với thế giới. Đó là tận dụng cơ hội thành viên của WTO, Trung Quốc thúc đẩy chiến lƣợc xuất khẩu hàng hóa ra bên ngoài, tận dụng bối cảnh thế giới để phát triển kinh tế trong nƣớc.