Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế - khái niệm, nội dung và giá trị. - Chương 2: Thực trạng đoàn kết quốc tế trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam và vấn đề đặt ra. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay. 10 z Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ – KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Chủ quyền biển đảo và chủ quyền biển đảo Việt Nam Quy chế pháp lý của các vùng biển và thềm lục địa đã được Luật Biển quy định một cách cụ thể, chặt chẽ và rõ ràng, với những nội dung rất khác nhau. Để hiểu được một cách cơ bản các quyền của quốc gia ven biển thực hiện trên các vùng biển và thềm lục đia của mình, trước hết cần tìm hiểu về chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia gồm 2 nội dung: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định, các quốc gia khác, cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp, mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nếu điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết không có quy định khác. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện: Tự quyết định mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp hoặc áp đặt; không có một thế lực nào, cơ quan nào đứng trên quốc gia, có quyền đặt ra pháp luật và bắt buộc quốc gia phải thực hiện. Quốc gia chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, các quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia, đồng thời tôn trọng các tập quán quốc tế cũng như các điều ước quốc tế do các quốc gia khác ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại.
11 z Chủ quyền quốc gia trên biển cũng bao hàm những nội dung cơ bản nói trên. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền của mình một các tuyệt đối, đầy đủ, toàn vẹn ở trong vùng Nội thuỷ và thực hiện chủ quyền một cách đầy đủ, toàn vẹn ở trong Lãnh hải. Bởi vì, Nội thuỷ được coi là bộ phận đất liền như ao hồ, sông suối, các vùng nước nằm trong đất liền. Lãnh hải cũng được coi là lãnh thổ biển của quốc gia ven biển.
Ranh giới ngoài của Lãnh hải là biên giới quốc gia ven biển. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của lãnh hải. Tham gia Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam là quốc gia ven biển được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà Việt Nam được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.
Tính đến nay đã có 161 quốc gia và tổ chức quốc tế tham gia Công ước Luật Biển năm 1982, trong đó có 7 quốc gia ven biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Brunei. Áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc vào điều kiện cụ thể của biển Đông cho thấy các điểm cơ bản. Các quốc gia ven biển Đông có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải 12 hải lý kể từ đường cơ sở của mình. Đáng lưu ý là theo Luật Biển quốc tế những năm 40 - 50 của thế kỷ trước, vùng lãnh hải của các quốc gia ven biển Đông chỉ có 3 hải lý và toàn bộ phía ngoài 3 hải lý đó là vùng biển quốc tế.
Như vậy, Công ước đã mở rộng phạm vi vùng lãnh hải của các quốc gia ven biển Đông thêm 9 hải lý. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tối thiểu 200 hải lý của mình. Chiều 12 z rộng của hai vùng biển này đều được đo từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải. Trong trường hợp thềm lục địa thực tế lớn hơn 200 hải lý thì quốc gia ven biển Đông có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý với điều kiện tuân thủ đúng các quy định và thủ tục nêu trong Công ước.
Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền thăm dò, khai thác các tài nguyên trong các vùng biển của mình, đặc biệt là trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa để phục vụ đời sống nhân dân và phát triển đất nước. Mỗi quốc gia ven biển Đông có toàn quyền quyết định cho phép hay không cho phép các quốc gia khác khai thác tài nguyên trong các vùng biển của mình. Mỗi quốc gia ven biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng các quyền chủ quyền đó của các quốc gia láng giềng khác ven biển Đông Điều 12, Luật Biển Việt Nam quy định: ''Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982'' [33;tr.01] Luật biên giới quốc gia được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/06/2003 ghi rõ: Quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ, là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần dảo của Việt Nam được xác định theo công ước giữa cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Các đường ranh giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xác định chủ quyền quyền tài phán của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.
Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như: cấp 13 z phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó. Quyền chủ quyền có nguồn gốc từ chủ quyền lãnh thổ trong khi quyền tài phán là hệ quả của quyền chủ quyền, có tác dụng hỗ trợ, tạo ra môi trường để thực hiện quyền chủ quyền được tốt hơn. Bên cạnh đó, trong khi chủ quyền và quyền chủ quyền chỉ được thực hiện trên vùng lãnh thổ mà quốc gia có quyền thì quyền tài phán có không gian mở rộng hơn, tới những nơi mà quốc gia đó không có chủ quyền (ví dụ quyền tài phán áp dụng trên tàu thuyền có treo cờ của một quốc gia nhất định đang hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia khác). Như vậy, Chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo nói chung, Biển đảo Việt Nam nói riêng là hai khái niệm pháp lý được quy định trong pháp luật về biển của các quốc gia ven biển trên cơ sở Công ước Liên hợp quốc (LHQ) về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước 1982, tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982), được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157).
Luật Biển của Việt Nam được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIII, ngày 21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 (gọi là Luật Biển năm 2013) đã quy định về chủ quyền, quyền chủ quyền biển Việt Nam. Đoàn kết quốc tế và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế Đoàn kết quốc tế Đoàn kết quốc tế là tập hợp, thống nhất các lực lượng ngoài nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 14 z Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là một hệ thống những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp nhằm tập hợp đoàn kết với các nước, phát huy đến mức cao nhất sự đổng tình ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ là biểu tượng sáng ngời của đại đoàn kết dân tộc, mà còn là hiện thân của tinh thần đoàn kết quốc tế.
Hồ Chí Minh đã từng đến nhiều nước trên thế giới, đến đâu Người cũng luôn thể hiện sâu sắc tình đoàn kết quốc tế. Với lòng yêu nước, thương dân và sự cảm thông với những người cùng khổ, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã sớm nhận thức được muốn giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thì giai cấp cần lao toàn thế giới phải đoàn kết đấu tranh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được hình thành và phát triển trên nền tảng truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc; trên cơ sở thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhờ chú ý tổng kết thực tiễn, Hồ Chí Minh đã từng bước phát hiện ra sức mạnh vĩ đại tiềm ẩn trong các trào lưu cách mạng thế giới mà Việt Nam cần tranh thủ.
Các trào lưu đó nếu được liên kết, tập hợp trong khối đoàn kết quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh to lớn.