Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Khái niệm biển đảo và các vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam 1. Khái niệm biển đảo và chủ quyền biển đảo của Việt Nam Có nhiều khái niệm khác nhau về biển đảo, theo Bách khoa toàn thư “biển” được định nghĩa như sau: “Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên”. Vùng biển Việt Nam là một phần của Biển Đông, nó là một biển nửa kín - là một vịnh, một vũng hay một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay đại dương qua một cửa hẹp hoặc là hoàn toàn do chủ yếu hay các lãnh hải hay các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành (Điều 122 Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982); được bao bọc bởi lục địa châu Á và bờ biển phía Đông bán đảo Malacca về phía Tây, đảo Đài Loan, Philippines và đảo Kalimantan về phía Đông.
Bao xung quanh biển Đông là 9 nước: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Singapore và 1 lãnh thổ là Đài Loan. Việt Nam có bờ biển dài 3260 km và có 28/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giáp biển, đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển và giao lưu với các nước. Có Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc của Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển miền Bắc Việt Nam ở phía tây, bờ biển Nam Trung Hoa ở phía Bắc và phía Đông. Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía tây nam của Biển Đông có bờ biển chung dài khoảng 2300 km với 4 quốc gia là: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia [20].
Vùng biển nước ta gồm các bộ phận: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với đất liền, ở phía trong đường cơ sở. Vùng Nội thủy được xem như một bộ phận lãnh thổ trên đất liền. Lãnh hải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia trên biển, có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý = 11 Luan van 1.
Ranh giới của lãnh hải (Được xác định bởi các đường song song cách đều đường cơ sở về phía biển và đường phân định trên các vịnh với các nước hữu quan) chính là đường biên giới quốc gia trên biển. Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhầm bảo đảm cho việc thực hiện chủ quyền của quốc gia ven biển. Trong vùng này, nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư,… Vùng đặc quyền kinh tế là vùng tiếp liền với lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ở vùng này, Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng vẫn để các nước khác đặt đường ống dẫn dầu, giây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hoạt động hàng hải và hàng không theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1892.
Thềm lục địa nước ta là phần ngầm dưới biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần thuộc địa kéo dài, mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu 200 mét hoặc hơn nữa. Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam. Còn “đảo” được định nghĩa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 như sau: “Đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước biển bao bọc, khi thủy triều lên cao nhất vùng đất này vẫn ở trên mặt nước” (Khoản 1, Điều 121 Công ước). Quần đảo là một nhóm các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước biển giữa các đảo và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau về mặt địa lí, kinh tế và chính trị (Điều 46 điểm b Công ước).
Thuộc vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ. Có những đảo đông dân như: Cái Bầu, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc; có những đảo cụm lại thành quần đảo như: Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Nam Du, quần đảo Thổ Chu,…Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa. Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có 12 Luan van ý nghĩa là cơ sở khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo. Hệ thống đảo của Việt Nam gồm các đảo và quần đảo như sau: Quần đảo Hoàng Sa: Quần đảo Hoàng Sa hay còn gọi là bãi cát vàng nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi.
Quần đảo Hoàng Sa nằm gằn với đất liền của Việt Nam nhất: từ đảo Tri Tôn đến Mũi Ba Làng An 135 hải lý và cách đất liền của Trung Quốc tối thiểu là 235 hải lý. Hoàng Sa đã được người Việt biết tới từ rất lâu và xác lập thực thi chủ quyền một cách liên tục vì đoạn bờ biển Quảng Trị chạy dài xuống Quảng Ngãi đối mặt với đảo Hoàng Sa là nơi hứng gió mùa Đông Nam hay Đông Bắc, nên các thuyền gặp bão bị hư hại thường dạt vào đó và được cứu giúp. Vùng đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm chính: nhóm đảo phía Đông gồm nhóm An Vĩnh khoảng 12 đảo, một số cồn san hô, trong đó có 2 đảo lớn nhất là Phú Lâm và Linh Côn. Nhóm đảo phía Tây gồm những đảo xếp thành vòng cung nên được gọi là nhóm đảo Lưỡi Liềm hay còn gọi là nhóm Trăng Khuyết gồm 8 đảo chính là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng, Đá Bắc, Bạch Quy và Tri Tôn.
Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng. Có đảo cây cối um tùm nhưng có đảo chỉ có các cây nhỏ và cỏ dại. Thực vật phần lớn thuộc các loài có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam. Hải sản ở quần đảo Hoàng Sa có nhiều loài quý như: tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi và loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế.
Quần đảo Trường Sa: Quần đảo Trường Sa cách vùng đảo Hoàng Sa gần 200 hải lý về phía Nam, bao gồm hàng trăm đảo, đá, bãi ngầm trải dài trên vùng biển rộng gấp 10 lần vùng biển của vùng đảo Hoàng Sa. Là một tập hợp thực thể địa lý được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ, khí đốt thuộc Biển Đông. Quần đảo Trường Sa là một tập hợp gồm nhiều đảo san hô, cồn cát, rạn đá, san hô nói chung và các bãi ngầm trải dài trong khoảng vĩ độ 6030’ đến 120 Bắc, từ kinh độ 111030’ đến 117020’ Đông. Đảo lớn nhất trong vùng đảo này là Ba Bình rộng khoảng 0,65.
Quần đảo Trường Sa chia thành 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên. Trong đó cụm đảo rộng nhất là cụm Nam Yết gồm nhiều 13 Luan van đảo đá, bãi ngầm xếp liền nhau thành một vành đai bao quanh vùng biển nông trên dưới 10m. Do sở hữu rất nhiều thực thể địa lý nên quần đảo Trường Sa được các nhà hàng hải quốc tế cũng như một số quốc gia phân chia thành nhiều cụm riêng biệt dựa trên sự gần gũi hoặc tương đồng về mặt địa lý hay đơn thuần chỉ là phân chia tương đối. “Biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta” [22].
Hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Nhà nước Việt Nam từ nhiều thế kỉ nay, nhân dân Việt Nam luôn luôn ý thức được điều đó và kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Biển Việt Nam là một bộ phận không tách rời và chiếm vị trí trọng yếu trong Biển Đông - một khu vực địa lý giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chủ quyền biển đảo phức tạp và kéo dài trong lịch sử. “Rừng vàng, biển bạc” là câu nói cho thấy tài nguyên rừng và biển vô cùng phong phú và đa dạng; nhưng ở đây nhóm tác giả chỉ đề cập đến biển đảo của nước Việt Nam, đặc biệt là Biển Đông. Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với các nước trong khu vực về địa - chiến lược, về an ninh quốc phòng, giao thông vận tải và kinh tế, bởi lẽ Biển Đông nằm trên tuyến giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á; gắn bó với bao thế hệ, là chỗ dựa sinh kế của người dân.
Cụ thể: Về kinh tế - xã hội: Với những điều kiện thuận lợi về vị trí, địa lý, khí hậu ôn hòa làm cho nguồn tài nguyên sinh vật biển, hệ sinh thái biển ở Biển Đông trở nên vô cùng phong phú và đa dạng với 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình (có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển,…). Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đấy góp phần ổn định đời sống của dân cư vùng ven biển và trên các đảo ven bờ, cũng như là nguồn xuất khẩu thủy hải sản thu ngoại tệ chủ yếu của các nước xung quanh Biển Đông và nước Việt Nam nói riêng, giúp phát triển kinh tế của một quốc gia. Trữ lượng 14 Luan van hải sản đánh bắt được khoảng 3-3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế rất cao.