Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông Biển Đông là một trong những vùng biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với hòa bình, an ninh và phát triển của khu vực Đông Á, Đông Nam Á mà của toàn châu Á - Thái Bình Dương. Chính vì vậy, nghiên cứu về CQBĐ ở Biển Đông đã có nhiều cuốn sách, bài viết của các tác giả nước ngoài, trong đó nổi lên những công trình khoa học tiêu biểu sau: Carlyle A.
Trên cơ sở phân tích các hành động của Trung Quốc đối với khu vực như: tăng cường căn cứ hải quân Tam Á; đơn phương ban hành và thực thi lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông; mở rộng thềm lục địa bằng yêu sách “đường đứt khúc 9 đoạn” tạo thành một khu vực hình chữ U bao vây lấy toàn bộ Biển Đông. Theo tác giả, hành động của Trung Quốc gây ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định trong khu vực. Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực, các quốc gia có lợi ích trên khu vực Biển Đông cần có thể chế đa phương giải quyết bất đồng thông qua đối thoại và các biện pháp xây dựng lòng tin. Renato Cruz De Castro (2012), “The Risk of Applying Realpolitik in Resolving the South China Sea Dispute: Implications on Regional Security” (Tóm tắt về rủi ro của việc áp dụng chính trị thực tiễn trong giải quyết tranh chấp Biển Đông: Hệ lụy đối với an ninh khu vực) [119].
Tác giả đã đi sâu luận giải việc Trung Quốc sử dụng, trích dẫn yêu sách lịch sử của họ trên Biển Đông cũng như thực hiện ngoại giao nước lớn nhằm đối phó riêng từng nước thành viên ASEAN. Đặc biệt, thời gian gần đây Trung Quốc không ngừng tăng cường sức mạnh quân đội, nhất là lực lượng hải quân để thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông theo cách luan an 10 riêng của họ. Tóm lại, việc Trung Quốc sử dụng cách tiếp cận chính trị thực tiễn thông qua sức mạnh quốc gia trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho khu vực Đông Nam Á ngày càng trở nên phức tạp, ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh chung cho cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân căng thẳng gia tăng ở Biển Đông thời gian gầy đây, tác giả đề xuất những giải pháp góp phần giảm căng thẳng, tránh nguy cơ xung đột, xây dựng vùng biển hòa bình.
Trước hết cần phải đánh giá vai trò, trách nhiệm của Trung Quốc trong thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông với tư cách là bên tranh chấp chính. Cuối cùng tác giả nhấn mạnh để giảm căng thẳng trên Biển Đông các bên liên quan chỉ có thể được giải quyết thông qua một thỏa thuận đa phương trên cơ sở tôn trọng lợi ích của các bên và phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS năm 1982. Michael Tkacik (2018), “Understanding China’s goals and strategy in the South China sea: Bringing context to a revisionist systemic challenge - intentions and impact” (Nhận diện mục đích và chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông) thuộc Đại học Stephan F. Austin State, Nacogoches, Mỹ [162].
Tác giả đánh giá chính sách Biển Đông của Trung Quốc và tác động của nó đối với tình hình Biển Đông, trong đó nhấn mạnh, việc kiểm soát quân sự trên Biển Đông vừa giúp Trung Quốc ngăn chặn các hoạt động do thám trên biển, vừa tạo ra các điểm dễ tổn thương mới cho các nước khu vực, vừa tạo ra tiền lệ cho việc vi phạm Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển và các nguyên tắc tự do hàng hải như: đưa ra yêu sách Đường chín đoạn bao trùm hơn 80% bề mặt Biển Đông; yêu cầu những tàu cá không thuộc Trung Quốc phải có xin giấy phép khi triển khai đánh bắt trên những vùng biển mà Trung Quốc yêu sách; ra sức mở rộng các đảo, rạn san hô và những thực thể khác trên quần đảo Trường Sa. Hành động trên của Trung Quốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và an toàn tự do hàng hải ở khu vực. luan an 11 Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định vị trí địa chiến lược của Biển Đông đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, nhưng cũng luôn tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Để giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông các công trình nêu trên đã nhấn mạnh đến các bên có tranh chấp cần kiên trì đàm phán, tăng cường đối thoại đa phương, kiềm chế các hành động bạo lực, đặc biệt là minh bạch hóa các yêu sách về chủ quyền biển, đảo.
Tuy nhiên, do lập trường và lợi ích quốc gia - dân tộc khác nhau nên việc đưa ra các giải pháp cho vấn đề Biển Đông cũng theo những hướng khác nhau, cá biệt có những đề xuất gây bất lợi cho việc bảo vệ vững chắc CQBĐ của Việt Nam. Do đó, cần phải nghiên cứu, thống nhất quan điểm giải quyết vấn đề CQBĐ ở Biển Đông một cách khoa học, hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế và lợi ích chung của các nước. Các công trình nghiên cứu về đối ngoại quốc phòng Andrew Cottey and Anthony Forster (2004), Reshaping Defence Diplomacy: New Roles for Military Cooperation and Assistance (Định hình lại ngoại giao quốc phòng cho hợp tác và hỗ trợ quân sự) [154]. Tác giả cho rằng: Trong thập kỷ qua, đã có nhiều thay đổi lớn trong mô hình ngoại giao quốc phòng quốc tế.
Ngoại giao quốc phòng - hợp tác và hỗ trợ quân sự trong thời bình là hoạt động liên quan đến việc sử dụng lực lượng vũ trang và cơ sở hạ tầng liên quan như một công cụ của chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia một cách hòa bình. Nội dung, hình thức ngoại giao quốc phòng: hợp tác song phương và đa phương giữa các quan chức quân sự cấp cao; thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương; bổ nhiệm tùy viên quốc phòng; tư vấn chuyên môn trong các lĩnh vực kỹ thuật quân sự; liên lạc và trao đổi giữa các nhân viên quân sự và các đơn vị; cung cấp các thiết bị quân sự và các viện trợ vật chất khác; các cuộc tập trận quân sự song phương hoặc đa phương cho mục đích huấn luyện. Brig KA Muthana (2011), “Military Diplomacy” (Đối ngoại quân sự) [156]. Đối ngoại quân sự của Bộ Quốc phòng Ấn Độ được thực hiện qua các luan an 12 chuyến thăm cấp cao liên quan đến quốc phòng trong xây dựng lòng tin và tạo điều kiện phòng ngừa xung đột để thực hiện các mục tiêu chính sách an ninh và đối ngoại cụ thể của quốc gia.
Mục tiêu của ĐNQP cần hướng đến: củng cố quan hệ quốc phòng để tăng cường sự ảnh hưởng; hợp tác quốc phòng để nâng cao khả năng phòng thủ và năng lực quân sự của quốc gia; hỗ trợ, nâng cao năng lực quốc phòng các nước đồng minh; thúc đẩy khả năng phòng thủ và tương tác quân sự; mở rộng chính sách ĐNQP thông qua đội ngũ tùy viên quân sự. Tác giả nhấn mạnh, trong bối cảnh tham gia chiến lược toàn cầu và khu vực, ĐNQP góp phần xây dựng niềm tin quốc phòng, tạo nhận thức chung, ngăn ngừa xung đột, đưa các mối quan hệ hợp tác giữa các nước ngày càng bền vững. Đối ngoại quốc phòng với các nội dung, hình thức đa dạng như: trao đổi, đào tạo quân sự, kết hợp tập trận; tìm nguồn cung ứng, phát triển sản xuất các thiết bị quốc phòng và các hình thức hợp tác khác. Spain Defence Ministry (2012), Defence Diplomacy Plan (kế hoạch ĐNQP của Bộ Quốc phòng Tây Ban Nha phát hành [164].
Tác giả cho rằng, bước sang thế kỷ 21 trong bối cảnh quốc tế mới thì sự hợp tác giữa các quốc gia diễn ra qua nhiều hình thức, trong đó có đối ngoại quốc phòng. Đối với Tây Ban Nha, an ninh và quốc phòng là vấn đề cơ bản và là trụ cột trong chính sách đối ngoại của quốc gia. Tác giả đã trình bày khá chi tiết về khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và hình thức, vai trò của đối ngoại quốc phòng. Theo đó, ĐNQP là các hoạt động quốc tế của các quốc gia, chủ yếu dựa trên đối thoại và hợp tác do Bộ Quốc phòng tiến hành với các đối tác để đạt được các mục tiêu quốc phòng của quốc gia.
Thông qua ĐNQP sẽ ngăn chặn những xung đột, tăng sự tin cậy lẫn nhau trong việc xác định những lợi ích chung của các quốc gia, giúp củng cố khả năng an ninh và quốc phòng của các quốc gia một cách hiệu quả. Tác giả cho rằng, ĐNQP là một thuật ngữ tương đối mới, được tạo ra để luan an 13 đáp ứng nhu cầu gọi tên các nhiệm vụ và chức năng quốc tế mới của quân đội và các lãnh đạo Bộ Quốc phòng sau Chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, nó không nên được hiểu là một dạng “quân sự cộng ngoại giao” truyền thống. Mục đích của ĐNQP là thiết lập và thực hiện chính sách an ninh quốc gia, nhiệm vụ của nó là tạo ra các mối quan hệ quốc tế ổn định, lâu dài trong lĩnh vực quốc phòng.
Các công trình nghiên cứu về đối ngoại quốc phòng của hải quân Tuneer Mukherjee (2018), “China’s naval power and national prestige” (Sức mạnh Hải quân Trung Quốc và uy tín quốc gia) [165]. Tác giả cho rằng, Hải quân Trung Quốc có vai trò rất quan trọng cho sự toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực. Trong công cuộc phục hưng vị thế nước lớn của mình, Trung Quốc đã đem lại cho các lực lượng biển: Hải quân, Cảnh sát biển và dân quân biển - quyền tự trị đáng kể mà không ai kiểm soát, thậm chí cả luật pháp quốc tế. Khi những lực lượng này quấy rối ngư dân từ các quốc gia khác và hạn chế quyền tiếp cận của họ tới các ngư trường truyền thống đã khiến người dân các quốc gia này tức giận và nuôi dưỡng các quan điểm dân tộc chủ nghĩa của họ.
Những hành động này thách thức chủ quyền của các quốc gia láng giềng, năng lực và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên, đe dọa các chuẩn mực vốn chi phối luận bàn chính trị ở châu Á kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.