phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được cơ cấu thành 03 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về Biển Đông và và các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, phụ lục VII và phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982. Chƣơng 2: Cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tài phán quốc tế đƣợc quy định tại Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII theo Công ƣớc Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982. Chƣơng 3: Những khuyến nghị và giải pháp sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc LHQ về Luật biển 1982 để bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển Đông. 6 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ VÀ CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982 1.
Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông Biển Đông là một biển nửa kín, diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Đây là biển lớn ở Châu Á Thái Bình Dương, được bao bọc bởi mười quốc gia: Trung Quốc và Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapo, Indonexia, Brunei và Philipines. Biển Đông bao gồm 200 hòn đảo, trong đó có nhiều đảo chìm, đảo đá và các bãi đá ngầm. Đồng thời đó cũng là vùng biển có hệ sinh học đa dạng phong phú cũng các nguồn tài nguyên biển, bao gồm các nguồn năng lượng hydrocarbon, các ngư trường và 30% rặng đá san hô ngầm trên thế giới.
Là tuyến đường ngắn nhất giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Biển Đông gần như một tuyến đường hàng hải cao tốc, đóng vai trò như một cầu nối tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Trung Quốc với Ấn Độ, giữa Đông Á và Đông Nam Á với Trung Đông. Đồng thời, Biển Đông cũng bao quanh một trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới và là khu vực có những quốc gia hàng hải hàng đầu đang chiếm giữ tỷ trọng lớn trên thế giới về năng lực chuyên chở hàng hóa và số lượng hàng hóa lưu thông trên các cảng. Biển Đông - Tuyến đƣờng giao thông quan trọng Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.
Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, 7 z trong đó có hai cảng thuộc loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và cảng Hồng Kông. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng phát triển ở khu vực [35]. Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào các con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc.
Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á.
Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới [36]. Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại ở Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 3.000 tấn trở lên. Tàu đi qua eo biển Malacca hàng năm lên đến 18.000 chiếc, chuyên chở 25% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung và 50% khối lượng dầu mỏ, 66% khối lượng khí đốt thiên nhiên của cả thế giới. Năm 2010, tổng lượng nhập khẩu dầu của Trung Quốc là 150 triệu tấn.
Nhật Bản coi đường vận tải qua eo biển Malacca là “con đường sinh mệnh” với 90% khối lượng dầu thô và một lượng lớn nguyên vật liệu khác nhập khẩu từ Châu Phi và Trung Đông. Hàn Quốc có 79% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông đi qua khu vực này. Quan hệ hàng hóa và thị trường giữa Mỹ và Trung Quốc, các nước Đông Nam Á tăng đáng kể với hơn một triệu tấn hàng hóa trao đổi qua Biển Đông [35]. 8 z Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm trọng yếu: Điểm thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia).
Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. (Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do nào đó. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hóa giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn). Điểm trọng yếu thứ hai là vùng biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á. Xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la) [35]. Nếu khủng hoảng bùng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Biển Đông - Khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu 1.
Tài nguyên thiên nhiên Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và nguồn gen. Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng xung quanh, hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các hệ sinh thái giữa các vùng biển ở Biển Đông. Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển [35]. Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh.
Trữ lượng hải sản đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn [35], cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao có thể khai thác được hàng năm. Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines. Tài nguyên nhiên liệu Biển Đông được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa sông Châu Giang.
Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam. Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi 10 z là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần.
Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo. Biển Đông – Khu vực quan trọng về chính trị và an ninh quốc gia Phía Tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimata và eo biển Malaca. Phía bắc và phía đông của Biển Đông giao lưu với Thái Bình Dương và qua các eo biển sâu rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải lý, sâu 70 và eo biển Bashi sâu hơn 1. Chính khả năng trao đổi với các vùng biển lân cận qua các eo biển này mà Biển Đông đã tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trong an ninh quốc phòng khu vực.
Cụ thể Biển Đông với 4 eo biển: Malacca, Lombok, Sunda và Ombai trong 16 eo biển có mực nước sâu tự nhiên trên thế giới. Đây là những căn cứ có thể triển khai các loại tầu ngầm hạt nhân chiến lược. Vùng biển sâu xung quanh quần đảo Trường Sa có thể xây dựng thành các căn cứ cho tầu ngầm hạt nhân cỡ lớn với bán kính kiểm soát lên tới 4. Các đảo và quần đảo trong Biển Đông cũng có ý nghĩa phòng thủ quan trọng với nhiều quốc gia.