Tổng quan luận án

Việt Nam sở hữu bờ biển dài 3.260 km trải dài từ Móng Cái đến Hà Tiên, tiếp giáp vùng biển của 7 quốc gia trong khu vực gồm Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Thái Lan và Campuchia. Vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bao gồm hệ thống thềm lục địa và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, tiêu biểu như gần 3.000 hòn đảo tại khu vực Vịnh Bắc Bộ (Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ), hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài khơi xa, cùng các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, Thổ Chu ở phía Nam và Tây Nam.

Trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông diễn biến phức tạp, yêu cầu bảo vệ chủ quyền biên giới biển đảo và khai thác tiềm năng kinh tế biển đòi hỏi phải có hệ thống cứ liệu lịch sử, cơ sở pháp lý và thông tin khoa học xác thực. Mặc dù khối lượng tài liệu về biển đảo của Việt Nam rất phong phú nhưng hiện nay đang phân tán tại nhiều cơ quan, bộ ngành, thư viện, trung tâm lưu trữ và trong nhân dân. Nguồn lực thông tin này chưa được tập hợp có hệ thống, chưa được tổ chức và quản lý thống nhất, dẫn đến tình trạng "đóng băng" thông tin và làm giảm hiệu quả khai thác phục vụ nghiên cứu, quản lý và bảo vệ Tổ quốc.

Hệ thống câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin; nhận dạng thực trạng xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin biển đảo tại mạng lưới thư viện công cộng, cơ quan lưu trữ và cơ quan quản lý nhà nước; từ đó đề xuất mô hình và giải pháp xây dựng, khai thác hiệu quả nguồn lực thông tin biển đảo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo.
    2. Nghiên cứu đặc điểm nguồn tin và nhu cầu của người dùng tin về biển đảo Việt Nam.
    3. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo tại hệ thống thư viện công cộng, hệ thống lưu trữ và các cơ quan quản lý nhà nước.
    4. Đề xuất mô hình và các nhóm giải pháp xây dựng, khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo Việt Nam.
  • Giả thuyết khoa học: Công tác xây dựng và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin biển đảo tại các cơ quan hiện còn mang tính tự phát, tự trị cục bộ, dựa trên kinh nghiệm và thiếu mô hình tích hợp liên thông. Việc luận chứng chính sách và thiết lập mô hình quản lý nguồn lực thông tin biển đảo quốc gia theo hướng phân định, tích hợp sẽ tạo điều kiện tổ chức khai thác tốt nguồn tin, đáp ứng kịp thời nhu cầu xã hội.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Phương pháp luận khoa học và thực tiễn xây dựng, khai thác nguồn lực thông tin biển đảo tại hệ thống thư viện công cộng, hệ thống lưu trữ Nhà nước và các cơ quan quản lý chuyên môn trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn hiện nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan và kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:

Về phân loại và thành phần nguồn lực thông tin

  • Tài liệu quốc tế: Krishna Subramanyam (1981) trong công trình về nguồn lực thông tin khoa học và kỹ thuật đã phân loại các nguồn tin sơ cấp (tạp chí, hội thảo, luận án, báo cáo kỹ thuật, sáng chế) và kiểm soát thư mục; I. I. Popov (1989, 1990) và Viện sĩ A. B. Antopolskii (Trung tâm Inforegistr, CHLB Nga) phân tích nguồn lực thông tin theo hình thái (dữ liệu nguồn, dữ liệu tham khảo), phương tiện mang tin và xuất xứ (nội sinh, ngoại sinh); Evans G. Edward và Margaret Zarnosky Saponaro (2007) khảo sát sự phát triển bộ sưu tập điện tử trong thư viện.
  • Tài liệu trong nước: PGS. Nguyễn Hữu Hùng (1998, 2000, 2010) hệ thống hóa khái niệm nguồn lực thông tin, cấu trúc dữ liệu và dự báo mô hình mạng lưới chia sẻ thông tin quốc gia; TS. Phạm Văn Vu (2013) phân chia nguồn lực thông tin phục vụ lãnh đạo quản lý, phát triển kinh tế, nghiên cứu và đào tạo.

Về tổ chức, phát triển và chính sách nguồn lực thông tin

  • Tài liệu quốc tế: John W. Liston mô tả mô hình truyền tải thông tin; A. I. Chernyi và R. S. Giliarevskii (VINITI) tiếp cận cấu trúc tổ chức và nội dung của hệ thống thông tin; B. S. Elepov nghiên cứu mạng thông tin - thư viện phân định tự động hóa; Peggy Johnson (2009), Sheila Corrall (2000), Diane K. Kovacs và Angela Elkordy phân tích nguyên tắc phát triển vốn tài liệu và bộ sưu tập số; Peter Collins (Đại học Pennsylvania) và Yafan Song nghiên cứu mô hình liên hiệp thư viện chia sẻ nguồn tin; V. Montviloff (UNESCO) và Chương trình nghiên cứu chính sách tài nguyên thông tin của Đại học Harvard (thập niên 80) đề xuất nguyên tắc xây dựng chính sách thông tin quốc gia; IFLA đưa ra quan điểm về quyền tác giả trong môi trường số.
  • Tài liệu trong nước: Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Hữu Hùng (RGGU, 1985) và Phạm Văn Rính (LGIK, 1986); các bài viết của TS. Tạ Bá Hưng (2006), Nguyễn Tiến Đức, PGS. Trần Thị Quý, TS. Mai Hà, TS. Nguyễn Viết Nghĩa, Vũ Anh Tuấn, TSKH. Bùi Loan Thùy, TS. Lê Văn Viết và ThS. Bùi Thu Hằng về phát triển nội dung số, bản quyền và mô hình liên hợp (consortium) bổ sung tài liệu.

Về nguồn lực thông tin biển đảo

Các nghiên cứu của TS. Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Nguyễn Văn Kết, Ngô Thanh Hải, Lê Văn Viết và Lê Quỳnh Hoa (2013) đã khẳng định giá trị lịch sử và pháp lý của các khối tài liệu lưu trữ, Châu bản, Mộc bản triều Nguyễn, tài liệu lưu trữ thời Pháp thuộc và vốn tư liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam đối với chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.

Khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận nguồn lực thông tin ở góc độ lý thuyết chung hoặc khảo sát từng bộ sưu tập đơn lẻ. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, phương pháp luận và thực tiễn xây dựng, tích hợp và khai thác nguồn lực thông tin biển đảo Việt Nam trên quy mô liên ngành giữa thư viện, lưu trữ và các cơ quan quản lý nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Khái niệm nguồn lực thông tin (NLTT): Được định nghĩa là phần thông tin tiềm năng được kiểm soát, có cấu trúc, có thể truy cập được và có giá trị phục vụ cho hoạt động thực tiễn của con người. Về nghĩa rộng, NLTT bao gồm toàn bộ nguồn dữ liệu sơ cấp, thứ cấp, các bộ sưu tập và các quy trình chuyển đổi dữ liệu. Về nghĩa hẹp, NLTT là vốn tài liệu được tổ chức khoa học.
  • Khái niệm nguồn lực thông tin về biển đảo: Là không gian thông tin có tổ chức, xác định theo đối tượng biển đảo, bao gồm các văn bản, số liệu, bản đồ, hình ảnh, âm thanh ghi nhận các yếu tố về quy chế pháp lý vùng biển (nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa), các hải đảo, hoạt động kinh tế, an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Đặc trưng của NLTT: Luận án vận dụng 7 đặc trưng hệ thống của Viện sĩ Iu. Arskii và 5 thuộc tính cơ bản theo luận điểm của Nguyễn Hữu Hùng:
    1. Tính vật lý: Thông tin được cố định trên các vật mang tin cụ thể (giấy, giấy dó, mộc bản, vi phim, đĩa quang, môi trường số).
    2. Tính giá trị: Thể hiện qua mức độ sử dụng, tính chính xác và giá trị minh chứng pháp lý, lịch sử.
    3. Tính cấu trúc: Tổ chức theo quy chuẩn phân loại, biên mục, từ khóa và cơ sở dữ liệu.
    4. Tính truy cập: Khả năng tìm kiếm thông qua các điểm truy cập (tác giả, nhan đề, chỉ số phân loại, từ khóa).
    5. Tính chia sẻ: Khả năng liên thông, trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan trong mạng lưới.
  • Đặc thù của NLTT biển đảo: Tính phân tán rộng, tính độc bản và quý hiếm (Mộc bản, Châu bản, tài liệu Hán Nôm, bản đồ cổ), tính bảo mật cao dẫn đến hiện tượng khép kín, hạn chế tiếp cận.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về biển đảo và biên giới quốc gia (Luật Biên giới quốc gia, UNCLOS 1982, Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 30/5/2007).
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tổng hợp và phân tích tài liệu; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp mô hình hóa.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Được tiến hành trên phạm vi 3 miền Bắc, Trung, Nam, tập trung tại các tỉnh thành phố ven biển và trung tâm đô thị lớn:
    • Mẫu 1 (Khảo sát cơ quan): Thực hiện qua 2 đợt (năm 2014 và năm 2016) tại 3 nhóm đơn vị: 19/25 Thư viện công cộng (đạt 76%), 23/25 Cơ quan lưu trữ (đạt 92%), 19/25 Cơ quan quản lý nhà nước về biển đảo (đạt 76%).
    • Mẫu 2 (Khảo sát người dùng tin): Tổng số phát ra 470 phiếu tại 19 thư viện công cộng và 23 cơ quan lưu trữ, thu về 457 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 97,2%).
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn sâu các nhà quản lý, lãnh đạo cơ quan thông tin - thư viện, lưu trữ và chuyên gia nghiên cứu biển đảo.
STT Nhóm người dùng tin khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu thu về Tỷ lệ thu hồi (%)
1 Cán bộ lãnh đạo, quản lý 54 51 94,4%
2 Nghiên cứu, giảng dạy 300 293 97,6%
3 Học sinh, sinh viên 63 61 96,8%
4 Lĩnh vực khác (Kinh doanh, hưu trí...) 53 52 98,2%
Tổng cộng Toàn bộ mẫu khảo sát 470 457 97,2%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm của nguồn lực thông tin biển đảo và làm rõ đặc trưng của người dùng tin cùng nhu cầu tin về biển đảo Việt Nam.

Tài liệu biển đảo thể hiện sự đa dạng về vật mang tin (gỗ, vải lụa, lá buông, giấy dó, giấy công nghiệp, phim ảnh số). Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, vốn tài liệu ấn phẩm có khoảng 2.000 bản chuyên sâu về biên giới hải đảo trong tổng số 1,5 triệu bản sách tiếng Việt và trên 10.000 tên xuất bản phẩm nhiều kỳ. Về tài liệu lưu trữ lịch sử, các khối tài liệu Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản (tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV - Đà Lạt), tài liệu thời kỳ Pháp thuộc (1887-1954 tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II) và hơn 2.000 trang ảnh tài liệu sưu tầm từ Pháp (gồm 523 trang khổ A4, 20 bản đồ khổ A0 về Hoàng Sa, Trường Sa) là các chứng cứ pháp lý xác thực.

Kết quả điều tra xã hội học 457 người dùng tin chỉ ra cơ cấu và hành vi khai thác thông tin:

  • Cơ cấu giới tính và trình độ: Nữ giới chiếm 61,1% (279 người), nam giới chiếm 38,9% (178 người). Trình độ học vấn của người dùng tin đạt mức cao: Trình độ trên đại học chiếm 16,6% (76 người), đại học chiếm 69,6% (318 người), cao đẳng chiếm 9,2% (42 người), trung học chuyên nghiệp chiếm 3,3% (15 người), trung học phổ thông chiếm 1,3% (6 người).
  • Cơ cấu độ tuổi: Dưới 30 tuổi chiếm 32,4%; từ 31-40 tuổi chiếm 25,4%; từ 41-50 tuổi chiếm 22,5%; từ 51-60 tuổi chiếm 14,9%; từ 61 tuổi trở lên chiếm 4,8%.
  • Tần suất nghiên cứu: Nhu cầu nghiên cứu không mang tính đều đặn mà phụ thuộc vào tính thời sự của các sự kiện biển đảo. Tần suất thường xuyên (1-2 lần/tuần) chỉ chiếm 23,40% (107 phiếu); không thường xuyên (1 lần/tháng) chiếm 61,70% (282 phiếu); thỉnh thoảng (1 lần/6 tháng) chiếm 9,00% (41 phiếu); rất ít (1 lần/năm) chiếm 5,90% (27 phiếu).
  • Loại hình tài liệu được sử dụng: Báo và tạp chí chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,1% (nhờ tính thời sự và hệ thống 57 ấn phẩm chuyên khảo tại Thư viện Quốc gia như Bulletin administratif d'Annam, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí...); sách chuyên khảo chiếm 56,9%; tài liệu văn bản chiếm 43,3%; tài liệu Mộc bản chiếm 6,3%.
  • Ngôn ngữ tài liệu: 100% người dùng tin sử dụng tiếng Việt; 20,0% có nhu cầu sử dụng tiếng Anh; 13,0% sử dụng tiếng Pháp; 9,8% sử dụng tiếng Hán - Nôm (phục vụ giải mã văn bản cổ và Mộc bản).
Tiêu chí Phân loại chi tiết Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 178 38,9%
Nữ 279 61,1%
Trình độ học vấn Trên đại học 76 16,6%
Đại học 318 69,6%
Cao đẳng 42 9,2%
Trung cấp chuyên nghiệp 15 3,3%
Trung học phổ thông 6 1,3%
Lĩnh vực hoạt động Nghiên cứu, giảng dạy 293 64,1%
Sinh viên, học sinh 61 13,3%
Lãnh đạo, quản lý 51 11,2%
Các lĩnh vực khác 52 11,4%

Chương 2: Thực trạng xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo Việt Nam

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại mạng lưới các cơ quan thông tin - thư viện, cơ quan lưu trữ và cơ quan quản lý chuyên môn về biển đảo:

  • Thực trạng bổ sung và phát triển nguồn tin: Kinh phí dành cho việc thu thập tài liệu biển đảo tại các thư viện và trung tâm lưu trữ còn hạn chế và không đồng đều. Hoạt động bổ sung chủ yếu dựa trên các hình thức truyền thống (mua theo ngân sách hàng năm, tiếp nhận lưu chiểu, nhận tài liệu biếu tặng). Việc thu thập các nguồn tài liệu quý hiếm, tài liệu nước ngoài, bản đồ cổ và tài liệu trong nhân dân chưa có quy trình thống nhất.
  • Thực trạng xử lý, tổ chức và bảo quản: Công tác phân loại, biên mục tài liệu biển đảo áp dụng các chuẩn nghiệp vụ thư viện và lưu trữ nhưng chưa có sự thống nhất về khung phân loại chuyên đề biển đảo. Một tỷ lệ lớn tài liệu gốc bằng giấy đã bị ố vàng, giòn rách theo thời gian; tài liệu Mộc bản và Châu bản đòi hỏi quy trình bảo quản đặc thù nhưng trang thiết bị kỹ thuật tại nhiều đơn vị chưa đáp ứng tiêu chuẩn.
  • Thực trạng tổ chức khai thác và dịch vụ thông tin: Công cụ tra cứu chủ yếu là mục lục truyền thống kết hợp cơ sở dữ liệu thư mục điện tử cục bộ. Các sản phẩm thông tin thư mục chuyên đề, cơ sở dữ liệu toàn văn về biển đảo còn ít. Tỷ lệ người dùng tin đánh giá mức độ đáp ứng thông tin kịp thời chỉ đạt 41,6%, trong khi 58,4% đánh giá việc đáp ứng còn ít, chậm trễ và bị hạn chế.
  • Đánh giá nguyên nhân hạn chế: Do tâm lý e ngại tính chất nhạy cảm và bảo mật của thông tin biển đảo, dẫn đến hiện tượng khép kín, cục bộ giữa các cơ quan. Thiếu chính sách điều phối quốc gia và thiếu cơ chế chia sẻ, liên thông dữ liệu giữa hệ thống thư viện công cộng với hệ thống lưu trữ lịch sử và các viện nghiên cứu.

Chương 3: Các giải pháp xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và mô hình quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, khai thác nguồn lực thông tin biển đảo:

  • Xây dựng mô hình quản lý nguồn lực thông tin về biển đảo quốc gia: Luận án thiết kế mô hình tổ chức theo cấu trúc phân định và tích hợp (Sơ đồ 3.1, Sơ đồ 3.2, Sơ đồ 3.3). Mô hình xác lập cơ chế phối hợp đa tầng giữa:
    1. Cơ quan điều phối trung tâm: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Ủy ban Biên giới Quốc gia.
    2. Các đơn vị thành viên: Hệ thống thư viện công cộng cấp tỉnh/thành phố, các trung tâm lưu trữ quốc gia (I, II, III, IV), lưu trữ bộ ngành, thư viện các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành.
  • Các nhóm giải pháp thực hiện:
    • Giải pháp về cơ chế, chính sách: Xây dựng chính sách quốc gia về phát triển nguồn lực thông tin biển đảo; ban hành quy chế phân định trách nhiệm thu thập, giải mật, số hóa và chia sẻ tài liệu; bảo đảm quyền tác giả và quyền tiếp cận thông tin theo quy định pháp luật.
    • Giải pháp về nghiệp vụ và công nghệ: Thống nhất chuẩn biên mục (MARC21, ISBD), chuẩn siêu dữ liệu (Dublin Core), chuẩn trao đổi dữ liệu (Z39.50, OAI-PMH); xây dựng Cổng thông tin tích hợp và cơ sở dữ liệu thư mục/toàn văn chuyên đề biển đảo quốc gia.
    • Giải pháp về phát triển dịch vụ thông tin: Thiết lập quy trình dịch vụ đa dạng từ cung cấp tài liệu gốc, tài liệu số hóa, biên soạn thư mục chuyên đề, dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu (SDI) phục vụ nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước và tuyên truyền chủ quyền.
    • Giải pháp về đầu tư nguồn lực và đào tạo: Tăng cường ngân sách nhà nước cho bảo quản, phục chế tài liệu cổ; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp, chữ Hán - Nôm) và kỹ năng công nghệ cho đội ngũ cán bộ thông tin - lưu trữ.
  • Đánh giá hiệu quả: Khẳng định việc triển khai mô hình quản lý phân định tích hợp giúp tiết kiệm kinh phí trùng lặp trong bổ sung tài liệu, giải quyết tình trạng phân tán và đóng băng thông tin, nâng cao hiệu suất phục vụ người dùng tin.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ nội hàm khái niệm nguồn lực thông tin biển đảo trong khoa học thông tin - thư viện, xác lập các đặc trưng bản chất (tính vật lý, giá trị, cấu trúc, truy cập, chia sẻ) và các nét đặc thù của nguồn tin biển đảo (tính độc bản, phân tán và bảo mật).
  • Xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa công tác xây dựng (thu thập, xử lý, tổ chức) và khai thác (tra cứu, phổ biến, sử dụng) nguồn lực thông tin chuyên đề trong kỷ nguyên số.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng toàn diện về thực trạng tổ chức, lưu trữ và nhu cầu khai thác tài liệu biển đảo trên quy mô 45 đơn vị (thư viện công cộng, cơ quan lưu trữ, cơ quan quản lý) và 457 người dùng tin trên cả nước.
  • Đề xuất mô hình phân định - tích hợp quản lý nguồn lực thông tin biển đảo cấp quốc gia, giải quyết rào cản cục bộ giữa hệ thống thư viện và lưu trữ.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp cụ thể, có tính khả thi về chính sách, công nghệ chuẩn hóa dữ liệu và liên thông dịch vụ, làm cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chính sách thông tin về biển đảo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào hệ thống thư viện công cộng cấp tỉnh, hệ thống trung tâm lưu trữ quốc gia và một số cơ quan quản lý nhà nước trọng điểm, luận án chưa khảo sát sâu toàn bộ các tủ sách tư nhân, gia phả dòng họ ven biển và các bộ sưu tập tài liệu biển đảo của các tổ chức, cá nhân người Việt tại nước ngoài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuyển đổi số và chuẩn hóa siêu dữ liệu liên thông giữa thư viện - lưu trữ - bảo tàng; nghiên cứu xây dựng phần mềm chuyên dụng và hạ tầng dữ liệu lớn (Big Data) phục vụ tích hợp tự động các nguồn tư liệu số về chủ quyền biển đảo Việt Nam trên không gian mạng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Ngành Khoa học Thông tin - Thư viện, Lưu trữ học, Lịch sử, Việt Nam học và Luật quốc tế sử dụng làm tài liệu nghiên cứu phương pháp luận phát triển vốn tài liệu và khảo cứu tư liệu chủ quyền.
  • Giảng viên các trường đại học: Sử dụng các bảng số liệu, mô hình tổ chức dữ liệu và phương pháp điều tra xã hội học làm học liệu giảng dạy các học phần Quản trị nguồn lực thông tin, Phát triển vốn tài liệu và Dịch vụ thông tin.
  • Cán bộ quản lý thư viện, lưu trữ: Tham khảo mô hình phân định tích hợp để áp dụng quy trình xử lý, bảo quản, số hóa và tổ chức các sản phẩm tra cứu chuyên đề biển đảo.
  • Nhà hoạch định chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Biên giới Quốc gia) khai thác cơ sở thực tiễn để ban hành quy chế phối hợp liên ngành về quản lý và chia sẻ thông tin biển đảo.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng người dùng tin về biển đảo gồm những nhóm nào và nhóm nào chiếm tỷ lệ lớn nhất?

Dựa trên kết quả khảo sát 457 người dùng tin tại hệ thống thư viện công cộng và lưu trữ, luận án phân chia thành 4 nhóm chính:

  1. Nhóm nghiên cứu, giảng dạy: Chiếm tỷ lệ cao nhất với 64,1% (293 người).
  2. Nhóm học sinh, sinh viên: Chiếm 13,3% (61 người).
  3. Nhóm các lĩnh vực khác (kinh doanh, hưu trí...): Chiếm 11,4% (52 người).
  4. Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: Chiếm 11,2% (51 người).

2. Tần suất nghiên cứu thông tin biển đảo của người dùng tin có đặc điểm gì nổi bật?

Tần suất nghiên cứu của người dùng tin mang tính thời sự, biến động theo các sự kiện liên quan đến chủ quyền và an ninh biển đảo. Tỷ lệ nghiên cứu không thường xuyên (1 lần/tháng) chiếm đa số với 61,70% (282 người); nghiên cứu thường xuyên (1-2 lần/tuần) đạt 23,40% (107 người); thỉnh thoảng (1 lần/6 tháng) chiếm 9,00% (41 người); rất ít (1 lần/năm) chiếm 5,90% (27 người).

3. Người dùng tin có nhu cầu sử dụng những loại hình tài liệu biển đảo nào nhiều nhất?

Số liệu khảo sát chỉ ra rằng người dùng tin sử dụng nhiều loại hình tài liệu khác nhau, trong đó báo và tạp chí chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,1% nhờ tính cập nhật; tài liệu dạng sách chiếm 56,9%; tài liệu văn bản hành chính/lưu trữ chiếm 43,3%; tài liệu Mộc bản chiếm 6,3%. Về ngôn ngữ, 100% người dùng tin sử dụng tiếng Việt, 20% sử dụng tiếng Anh, 13% sử dụng tiếng Pháp và 9,8% sử dụng tiếng Hán - Nôm.

4. Đánh giá của người dùng tin về mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin biển đảo tại các cơ quan hiện nay ra sao?

Kết quả khảo sát phản ánh thực trạng đáp ứng thông tin còn nhiều bất cập: Chỉ có 41,6% người dùng tin đánh giá các cơ quan đáp ứng thông tin kịp thời; trong khi đó có tới 58,4% người dùng tin đánh giá mức độ đáp ứng còn ít, không kịp thời và bị hạn chế do tình trạng tài liệu tản mạn, bảo mật khép kín và thiếu công cụ tra cứu tích hợp.

Kết luận

Luận án "Xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin về biển đảo Việt Nam" đã giải quyết một vấn đề khoa học và thực tiễn cấp bách của ngành Thông tin - Thư viện trong việc bảo đảm cơ sở tư liệu phục vụ phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành và hệ thống dữ liệu thực nghiệm tại 45 cơ quan cùng 457 người dùng tin, công trình đã làm rõ toàn diện thực trạng phân tán, khép kín của nguồn tin biển đảo hiện nay. Mô hình quản lý phân định - tích hợp cùng hệ thống giải pháp chính sách, nghiệp vụ và công nghệ được đề xuất trong luận án là luận cứ khoa học tin cậy nhằm liên thông mạng lưới thông tin biển đảo quốc gia trong giai đoạn mới.