phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, phụ lục. Luận án được kết cấu bao gồm: tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, 3 chương, 10 tiết. 7 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về chủ quyền biển đảo và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam 1.1 Những công trình trong nước Một là, các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của của biển đảo Việt Nam Biển Đông là một biển nửa kín được bao bọc bởi các quốc gia bao gồm Việt Nam, Trung Quốc, Philippins, Indonesia, Campuchia, Singapo, Brunay, Đài Loan, Malaysia.
Tác giả Lưu Văn Lợi trong tác phẩm “Việt Nam đất, biển, trời” đã nhấn mạnh: Biển đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Biển đối với mỗi quốc gia đồng nghĩa với an ninh và phát triển. Biển đối với con người thuộc các tỉnh, thành, đặc khu (của Việt Nam) là đời sống và phồn vinh. Chính vì vậy, không thể giữ mãi quan điểm biển là “biển ven bờ” như hiện nay mà phải hiểu theo nghĩa rộng của nó, tức Biền phải là một trong hai vế của chiến lược bảo vệ và xây dựng đất nước để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu [83, tr.
Cuốn “Biển và hải đảo Việt Nam” [7] do Ban Tuyên giáo Trung ương ấn hành, các tác giả khẳng định: “Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt đối với khu vực và trên thế giới. Vì vậy, “biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung”. Trong thời gian gần đây, lợi dụng thế mạnh về trình độ kinh tế biển phát triển cao, một số nước và vùng lãnh thổ tiến hành triển khai lực lượng quân sự trên biển, dẫn tới sự xung đột, tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt [7, tr. Hai là, các công trình nghiên cứu về chủ quyền biển đảo Việt Nam Ngay từ năm 1974 đã có Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa (1974).
8 Sau chiến tranh bảo về tổ quốc ở biên giới phía bắc năm 1979, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa XHCN Việt Nam công bố một số tài liệu và sách như: Sách trắng về Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1979), Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam (1981), Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế (1988). Bên cạnh ba Sách Trắng được đông đảo dư luận quốc tế thừa nhận, tại nhiều diễn đàn quốc tế xuyên suốt thập niên 1980, như hội nghị quốc tế về Khí tượng châu Á lần thứ 2 tháng 6/1980; hội nghị Địa chất quốc tế lần thứ 26 tháng 7/1980; Thông tin vô tuyến điện thế giới tháng 1/1983,… Việt Nam đã vạch trần và tố cáo Trung Quốc lợi dụng các diễn đàn để tuyên truyền về cái gọi là chủ quyền của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời khẳng định Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Năm 2010, với tác phẩm “Những điều cần biết về Đất - Biển - Trời Việt Nam” [84] tác giả Lưu Văn Lợi khẳng định: vấn đề thiêng liêng đối với tất cả các quốc gia luôn là vấn đề lãnh thổ và toàn vẹn lãnh thổ, trong đó tất yếu có cả vấn đề về chủ quyền biển đảo Tổ quốc [87, tr. Việt Nam trên chặng đường bốn mươi thế kỉ, đã kiên trì và từng bước mở rộng ra biển Đông, đây là một quá trình khó khăn và gian khổ đối với một quốc gia có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp.
Quá trình “lấn biển” ấy từ ven bờ tiến ra biển gần, rồi biển xa, từ đất liền tiến vào các đảo ven bờ rồi các đảo xa hơn. Vì vậy Biển có vai trò rất quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người Việt [84, tr. Tác giả Trần Công Trục với tác phẩm “Dấu Ấn Việt Nam trên biển Đông” đã nhấn mạnh về vị trí vai trò của biển Đông trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, trong tác phầm, tác giả đã giới thiệu rõ những khái niệm mang tính chuyên ngành như khái niệm nội thủy, lãnh hải, 9 vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; quan điểm về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia [124].
Trong cuốn “Lẽ phải - luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” trên cơ sở phân tích các sự kiện với tinh thần khách quan và khoa học, dưới góc độ pháp lý, cuốn sách sau khi phác họa toàn cảnh Biển Đông và nêu bật tầm quan trọng của hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (về vị trí địa lý, về nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên vị thế.) tác giả Nguyễn Việt Long đã vận dụng công pháp quốc tế để phân tích lập trường các bên có liên quan qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời trình bày các giải pháp hợp lý nhằm giải quyết mọi tranh chấp theo hướng tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền tài phán chính đáng của các bên trên Biển Đông, hướng tới góp phần gìn giữ hòa bình, an ninh cho toàn khu vực và thế giới [85]. Trong cuốn “Hoàng sa - Trường Sa là máu thịt Việt Nam” tập hợp bài viết của nhiều tác giả [102]; cuốn “Chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc” của Trần Hoàng Tiến [117], cuốn “Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa” của tác giả Hãn Nguyên Nguyễn Nhã [100]… thông qua những câu chuyện sinh động đã khắc họa về con người, sự kiện gắn liền với những phần lãnh hải cơ bản thiêng liêng của Tổ quốc từ “thuở hồng hoang cha ông ta xuống biển” đến ngày nay. Và phần Phụ lục sách có trình bày một số nét về biển, đảo Việt Nam và các chứng cứ xác lập chủ quyền. Cuốn “Những vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông” do Trần Duy Hải chủ biên [68]; cuốn “Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sức mạnh từ tài liệu lưu trữ” do tác giả Nguyễn Văn Kết chủ biên [76] đã khái quát về biển Đông và tình hình biển Đông hiện nay, đưa ra các minh chứng lịch sử, cơ sở pháp lý khẳng định 10 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác phẩm cũng tổng hợp một số bài viết của các nhà báo, nhà nghiên cứu khoa học về những tài liệu, tư liệu lịch sử khẳng định chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo HS-TS như: Châu bản triều Nguyễn, Bản tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco năm 1951, bộ Atlas Universel năm 1827. Ngoài ra, còn một số bài viết của các nhà báo, nhà nghiên cứu khoa học thu thập tài liệu, tư liệu lịch sử khẳng định chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Bản tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu tại Hội nghị Sanfrancisco năm 1951, bộ Atlas Universel năm 1827. và các bài báo “Châu bản triều Nguyễn & những chứng cứ lịch sử - pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa - Trường Sa” [80]; “Châu bản triều Nguyễn - Những bằng chứng không thể tranh cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa” [79] của tác giả Phan Huy Lê… đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về giá trị sử liệu, giá trị pháp lý của tài liệu lưu trữ đối với chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này. Những nghiên cứu này đã góp phần khẳng định một cách chắc chắn và không thể chối cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bên cạnh đó, khi vấn đề tranh chấp CQBĐ ở biển Đông trở nên gay gắt và phức tạp, đã có một số công trình khoa học và bài viết khẳng định: “Quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước” [23] của tác giả Nguyễn Tấn Dũng; “Đẩy mạnh tuyên truyền về biển, đảo góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” Vũ Đình Tấn [112];. các tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền biển đảo, giáo dục ý thức BVCQBĐ. Trong các bài viết, các tác giả đã đánh giá những kết quả đạt được đồng thời chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và rút ra ý nghĩa của công tác tuyên truyền biển, đảo của quân và dân thời gian qua. Mặt khác, các tác giả cũng nhấn mạnh đến những yêu cầu, đề xuất đồng bộ nhiều giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền BVCQBĐ trong thời gian tới.
11 Ba là, các công trình nghiên cứu về luật biển và chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam “Luật Biển Việt Nam” [108] do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII ban hành bao gồm: 7 Chương, 55 Điều là văn bản luật đầu tiên của Việt Nam quy định về đường cơ sở (Điều 8), nội thủy và chế độ pháp lý của nội thủy (Điều 9 và 10), lãnh hải và chế độ pháp lý của lãnh hải (Điều 11, 12), vùng tiếp giáp lãnh hải và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải (Điều 13, 14), vùng đặc quyền kinh tế (Điều 15), thềm lục địa (Điều 17), các đảo, quần đảo (Điều 19), chế độ pháp lý của đảo và quần đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo. Công trình “Chiến lược bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo Việt Nam đến năm 2020” [11] nêu rõ: yêu cầu cấp thiết nhất đối với Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế biển và bảo vệ vững chắc CQBĐ hiện nay là phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước về biển và phát triển kinh tế biển.