phần mở đầu; tổng quan vấn đề nghiên cứu; 3 chƣơng (8 tiết); kết luận; danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục. 9 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. có liên quan đến đề tài Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài, nội dung đề cập nhiều vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị, QP-AN của khu vực Biển Đông nói chung và vùng biển, đảo Việt Nam nói riêng. Trong đó, chủ yếu các công trình tập trung luận giải mấy vấn đề chính sau: Một là, về vấn đề tranh chấp CQBĐ giữa các quốc gia trong khu vực, nhất là vấn đề tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Những công trình đề cập trực tiếp đến vấn đề này, tiêu biểu có: “Cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa: Ai là người sở hữu đầu tiên?” của Daniel - J.Dzuck [32]; “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của Monique Cheminier [61]; “Phân tích về địa lý - chính trị cuộc xung đột và tranh chấp biên giới Việt - Trung liên quan đến quần đảo Paracel và Sparaly ở biển Nam Trung Hoa” của Peaun Medes Antunes [67]; “Các đảo tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Hoa, Hoàng Sa - Trường Sa - Pratas - Bãi Maccelesfield”, công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu các vấn đề châu Á tại Hamburg [2]; “Quần đảo Trường Sa: liệu có còn thích hợp khi tranh cãi về vấn đề chủ quyền”, công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (trƣờng Đại học Tổng hợp Philippin) [3]; “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa: Thử phân tích lập luận của Việt nam và Trung Quốc” của Từ Đặng Minh Thu [78]; “Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai hòn đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế” của Đào Văn Thụy [81]; “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và sự sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa” của Michael Bennett [57]… Điểm chung của các công trình nghiên cứu về tình hình Biển Đông, nhất là về tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển giữa các quốc gia trong khu vực đều khẳng định: Biển Đông đang là “vùng biển nóng”, nơi hội tụ nhiều mâu thuẫn về kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới; tranh chấp chủ quyền trên biển ở khu vực vừa là vấn đề của lịch sử vừa là vấn đề hiện tại đang diễn ra hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lƣờng. 10 Trên cơ sở đánh giá thực trạng tranh chấp và nhận định cơ sở pháp lý, lịch sử, có tính chứng cứ để khẳng định chủ quyền của các bên tranh chấp, một số công trình đƣa ra các giải pháp giải quyết các vấn đề tranh chấp, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp thƣơng lƣợng hoà bình. Điều đáng lƣu ý là, nhiều công trình khi đề cập đến vấn đề chủ quyền quốc gia ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa đều nhận định: mặc dù khi tranh chấp các bên đều đƣa ra các chứng lý của riêng mình để khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này, nhƣng về mặt luật pháp, nhất là về cơ sở lịch sử, những chứng cứ của Việt Nam đƣa ra là có tính thuyết phục nhất. Luật gia ngƣời Mỹ Michel Bennett trong bài báo “Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và sự sử dụng luật pháp quốc tế trong tranh chấp quần đảo Trường Sa”, từng nhận xét: Nếu các đảo hoặc không đƣợc quản lý bởi một chính phủ, hoặc không đƣợc thăm viếng bởi các nhân viên nhà nƣớc, vấn đề đặt ra ở đây là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngƣ dân Trung Quốc có đủ thiết lập chủ quyền trên Spratlys (Trƣờng Sa) theo luật quốc tế không.
Vì vậy giá trị lập trƣờng chính thức của Trung Quốc (đƣa ra khi tranh cãi) là đáng nghi ngại [57, tr. Riêng nhà nghiên cứu ngƣời Pháp, giáo sƣ Monique Chemillier Gendrau trong công trình nghiên cứu “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, thẳng thắn khẳng định: “Chủ quyền ở hai quần đảo (Hoàng Sa, Trƣờng Sa) trên Biển Đông (cũng nhƣ những yêu sách về biển của Trung Quốc hiện nay) bộc lộ rõ tham vọng bá chủ khu vực, xa hơn nữa là bá chủ thế giới của Trung Quốc, đe doạ trực tiếp tới an ninh khu vực và thế giới” [61, tr. Tuy nhiên, có một số nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu, do nhiều yếu tố chủ quan (chủ yếu là xuất phát từ lập trƣờng chính trị) và khách quan (chủ yếu xuất phát từ tính phức tạp, nhậy cảm của vấn đề, sự thay đổi trong thực tiễn luật pháp quốc tế về biển…), dƣới góc độ này hay góc độ khác cũng có những quan điểm khác nhau về nhiều vấn đề liên quan đến tranh chấp CQBĐ ở khu vực Biển Đông. Thực tế cho thấy, vẫn có một số nhà nghiên cứu, nhất là những nhà nghiên cứu thuộc các nƣớc có liên quan trực tiếp đến vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, xuất phát từ lập trƣờng dân tộc, từ lợi ích của quốc gia, trong các công trình hay cố gắng tìm mọi cách đƣa ra các 11 chứng lý mang tính chủ quan của mình nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia của họ trên vùng biển, đảo đang có tranh chấp.
Vì lý do đó, những công trình của họ thƣờng thiếu tính khách quan khoa học. Hai là, về chiến lược của một số nước lớn đối với Biển Đông và tác động của nó tới an ninh khu vực, an ninh CQBĐ của Việt Nam. Những công trình đề cập trực tiếp đến vấn đề này, tiêu biểu có: một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài đƣợc Trung tâm Thông tin tƣ liệu Khoa học - Công nghệ và Môi trƣờng (Bộ Quốc phòng) tập hợp lại trong tập tài liệu có tiêu đề “Chiến lược của các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á” [22], ví dụ nhƣ: “Đặc điểm mới trong chính sách Đông Á của Mỹ” (Kim Xán Vinh, Chu Hán Vũ); “Mỹ thúc đẩy chương trình đối tác cảnh vệ” ; “Chiến lược của Ấn Độ trong việc tăng cường quan hệ với ASEAN” (Trƣơng Đảng Nặc, Kiệt Nhân Quý); “Nga tiến vào Châu Á thông qua Inđonêxia” (Đông Phƣơng Thuần), “Trung Quốc và Ấn Độ cạnh tranh ảnh hưởng đối với ASEAN” (Sheng Lijun); một số tham luận khoa học tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông, đƣợc tác giả Đặng Đình Quý tập hợp trong cuốn sách “Biển Đông - Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” [71], ví dụ nhƣ: “Biển Đông: Chẳng lẽ cứ thụ động ngồi chờ làn gió mát?” của Geoffrey Till; “Tranh chấp Biển Đông sẽ đi tới đâu?” của Mark J. Valencia; “Những diễn biến gần đây ở Biển Đông - Hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực” của Daniel Schaeffer; “Liệu có thể giải quyết được các tranh chấp về phân định biển và chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông?” của Stein Tonesson; “Thực địa chính trị của khu vực cùng tồn tại trong cái ao của Trung Quốc” của Ba Hamzah; “Những diễn biến gần đây ở Biển Đông: Hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực” của Carlyle A.
Thayer; “Những biến chuyển gần đây trên Biển Đông: lý do để quan ngại” của Ian Storey; “Cách tiếp cận quản lý các tranh chấp biên giới của Trung quốc và Việt Nam - Bài học, liên hệ và tác động đối với tình hình Biển Đông” của Ramses Amer; hoặc những công trình nghiên cứu khác, nhƣ: “Chiến lược của Hải quân Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông” của Ngô Vĩnh Long [53]; “Trung Quốc tấn công trên biển Nam Trung Hoa” của Shigeo Hiramatsu [73]. 12 Về cơ bản các công trình nêu trên đều khẳng định: Biển Đông là vùng biển chiến lƣợc có tác động lớn tới sự phát triển về kinh tế, QP-AN không chỉ đối với khu vực mà còn với cả thế giới, vì thế các quốc gia trong khu vực và các nƣớc khác, nhất là những nƣớc lớn luôn tìm cách cạnh tranh, khẳng định vị thế, tầm ảnh hƣởng của mình ở địa bàn chiến lƣợc này; tình hình Biển Đông đã và đang diễn biến vô cùng phức tạp bởi sự tranh chấp về lợi ích, chủ quyền giữa các quốc gia trong khu vực và sự can thiệp của các nƣớc lớn vào địa bàn Biển Đông; chiến lƣợc của các nƣớc lớn đối với Biển Đông một mặt góp phần tạo thế cân bằng lực lƣợng ở khu vực nhƣng mặt khác cũng khiến cho an ninh khu vực, trong đó có Việt Nam thêm phức tạp. Đối với Trung Quốc, một quốc gia có những lợi ích chiến lƣợc trực tiếp ở Biển Đông, đồng thời cũng là quốc gia hiện đang có nhiều tham vọng vƣơn lên trở thành một cƣờng quốc mà trƣớc hết là một cƣờng quốc về biển, các nhà nghiên cho rằng: chiến lƣợc biển của Trung Quốc, nhất là chiến lƣợc đối với Biển Đông, có tác động rất lớn đến an ninh chủ quyền biển, đảo của các nƣớc trong khu vực. Trong bài “Chiến lược của Hải quân Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông”[53], nhà nghiên cứu Ngô Vĩnh Long trên cơ sở phân tích những động thái mới của Trung Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là việc Trung Quốc tăng cƣờng xây dựng một lực lƣợng hải quân hùng mạnh, đã chỉ rõ ý đồ của Trung Quốc là muốn thao túng khu vực Biển Đông, đồng thời dùng Biển Đông nhƣ lá bài để mặc cả với các nƣớc khác trong toan tính về kinh tế, chính trị của mình, cũng nhƣ coi Biển Đông là bàn đạp để vƣơn ra biển xa khẳng định vị thế nƣớc lớn đối với khu vực và thế giới.
Shigeo Hiramatsu, nhà nghiên cứu Nhật Bản với bài “Trung Quốc tấn công trên biển Nam Trung Hoa”[73], trên cơ sở đặt ra giả thiết: nếu Trung Quốc tấn công trên biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) thì ảnh hƣởng của nó tới tình hình an ninh khu vực và thế giới nhƣ thế nào? Các nƣớc sẽ có đối sách ra sao để giữ gìn sự ổn định, hoà bình ở vùng biển chiến lƣợc này? – Shigeo Hiramatsu cho rằng: Trung Quốc có những động thái gây xung đột với các nƣớc trong cuộc tranh giành CQBĐ vừa coi đó nhƣ một đòn răn đe, vừa tạo lợi thế thực hiện âm mƣu về kinh tế, chính trị của mình trên trƣờng quốc tế nhƣng ít có khả năng mở cuộc chiến tranh lớn trên Biển Đông. Bởi vì làm nhƣ thế, Trung Quốc sẽ 13 tự cô lập mình, vì phải đối đầu không chỉ với các nƣớc Đông Nam Á, nhất là các nƣớc nằm ở Biển Đông mà còn với cả các nƣớc lớn nhƣ Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ.