Luận án tiến sĩ về hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam từ 2011 đến 2018

Chuyên đề hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam giai ..., tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong chuyên ngành

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

188
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến ngoại giao nhân dân của các nước

1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về lý luận

1.3. Nhóm công trình nghiên cứu đánh giá, tổng kết hoạt động thực tiễn

1.4. Nhóm công trình nghiên cứu về ngoại giao nhân dân của Việt Nam

1.5. Nhóm công trình nghiên cứu đường lối, chính sách ngoại giao nhân dân

1.6. Nhóm công trình nghiên cứu, đánh giá tổng kết hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO NHÂN DÂN VIỆT NAM (2011-2018)

2.1. Cơ sở lý luận chung về ngoại giao nhân dân

2.1.1. Lý luận về ngoại giao nhân dân

2.1.2. Một số khái niệm

2.2. Cơ sở chính trị, pháp lý của ngoại giao nhân dân

2.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại giao nhân dân

2.2.2. Văn bản pháp lý của Nhà nước về hoạt động ngoại giao nhân dân

2.2.3. Chủ thể, đối tác, đối tượng, vai trò và nguyên tắc phối hợp hoạt động

2.3. Cơ sở thực tiễn

2.3.1. Khái quát thành tựu ngoại giao nhân dân Việt Nam trước năm 2011

2.3.2. Những nhân tố tác động đến hoạt động ngoại giao nhân dân

2.3.3. Mục tiêu, nội dung hoạt động ngoại giao nhân dân giai đoạn 2011-2018

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO NHÂN DÂN VIỆT NAM (2011-2018)

3.1. Thực tiễn triển khai hoạt động ngoại giao nhân dân trên các lĩnh vực

3.1.1. Quốc phòng - an ninh

3.1.2. Thông tin đối ngoại

3.2. Thành công và hạn chế của hoạt động ngoại giao nhân dân

3.2.1. Thành công và nguyên nhân thành công

3.2.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT, KINH NGHIỆM VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

4.1. Một số nhận xét về hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam từ năm 2011-2018

4.1.1. Đặc điểm của hoạt động ngoại giao nhân dân từ năm 2011-2018

4.1.2. Vai trò của hoạt động ngoại giao nhân dân từ năm 2011-2018

4.2. Kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý

4.2.1. Kinh nghiệm triển khai hoạt động

4.2.2. Kinh nghiệm trong phối hợp hoạt động

4.3. Một số khuyến nghị chính sách

4.3.1. Đổi mới sự lãnh đạo Đảng, quản lý của Nhà nước

4.3.2. Đổi mới về cơ chế, chính sách

4.3.3. Đầu tư phát triển nguồn lực

4.3.4. Đầu tư xây dựng nội dung, phương thức hoạt động

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài

Tóm tắt

I. Cơ sở của hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam 2011 2018

Hoạt động ngoại giao nhân dân (NGND) Việt Nam từ năm 2011 đến 2018 được xây dựng trên nền tảng lý luận vững chắc, bao gồm tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin. Các chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ vai trò của NGND trong việc thúc đẩy quan hệ quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia. Đặc biệt, giai đoạn này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong hoạt động ngoại giao, với việc áp dụng các phương thức mới nhằm tăng cường sự hiện diện của Việt Nam trên trường quốc tế. Các tổ chức như Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO) đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối và thúc đẩy các hoạt động NGND, từ đó tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến hợp tác quốc tếhòa bình. Những thành tựu này không chỉ phản ánh sự phát triển của NGND mà còn cho thấy sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh toàn cầu hóa.

1.1. Cơ sở lý luận và chính trị

Cơ sở lý luận của NGND Việt Nam được xây dựng dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng NGND là một trong ba trụ cột của ngoại giao Việt Nam, bên cạnh ngoại giao nhà nướcngoại giao kinh tế. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa hoạt động ngoại giao và các hoạt động của nhân dân, nhằm tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế. Điều này không chỉ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam mà còn góp phần vào việc xây dựng một môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực và thế giới.

II. Thực trạng hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam 2011 2018

Thực trạng hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 2011-2018 cho thấy nhiều thành công đáng kể, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế. Các hoạt động NGND đã được triển khai rộng rãi trên nhiều lĩnh vực như văn hóa, kinh tế, và quốc phòng-an ninh. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức NGND vẫn còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Một số hoạt động còn mang tính chất thụ động, chưa đáp ứng kịp thời với những thay đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế. Việc thiếu sự đầu tư đúng mức cho các hoạt động này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động ngoại giao. Để khắc phục tình trạng này, cần có những chính sách cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả và tính linh hoạt của NGND.

2.1. Thành công và hạn chế

Trong giai đoạn 2011-2018, hoạt động ngoại giao nhân dân đã đạt được nhiều thành công, đặc biệt trong việc tăng cường hợp tác quốc tế và xây dựng hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Các sự kiện như Diễn đàn nhân dân ASEAN hay các hoạt động giao lưu văn hóa đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, vẫn tồn tại nhiều hạn chế như sự thiếu đồng bộ trong triển khai các hoạt động, cũng như sự chưa đầy đủ trong việc đánh giá hiệu quả của các chương trình NGND. Những hạn chế này cần được nhận diện và khắc phục để nâng cao hiệu quả của NGND trong tương lai.

III. Nhận xét kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách

Nhận xét về hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam từ năm 2011 đến 2018 cho thấy sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy rằng việc kết hợp giữa hoạt động ngoại giao và các tổ chức xã hội là rất quan trọng. Cần có những khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức NGND, đồng thời nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền về vai trò của NGND. Việc đầu tư vào nguồn lực và xây dựng nội dung hoạt động cũng cần được chú trọng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của NGND trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

3.1. Kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo quản lý

Kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo và quản lý hoạt động NGND cho thấy rằng sự chủ động và linh hoạt trong việc triển khai các hoạt động là rất cần thiết. Các cơ quan nhà nước cần có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội để đảm bảo rằng các hoạt động NGND không chỉ mang tính chất hình thức mà còn có hiệu quả thực tiễn. Việc xây dựng các chương trình hợp tác cụ thể, cùng với việc đánh giá định kỳ về hiệu quả của các hoạt động, sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của NGND trong thời gian tới.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài Trong chương đầu tiên, tác giả chọn lọc, điểm qua những công trình nghiên cứu liên quan đến NGND của nước ngoài và hoạt động NGND Việt Nam của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án. Trên cơ sở đó rút ra nhận xét, xác định được các vấn đề, luận điểm có giá trị cho nghiên cứu, đồng thời xác định những “khoảng trống” trong nghiên cứu mà luận án có thé góp phần giải quyết vấn đề. Cơ sở của hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam (2011-2018) Trong chương này, nghiên cứu sinh chỉ ra cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và những cơ sở thực tiễn (chính là những nhân tố) chỉ phối, tác động đến hoạt động NGND Việt Nam từ năm 2011-2018: quan điểm về vai trò của nhân dân đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc và QHQT của một số lý thuyết QHQT; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về NGND; nhân tố tác động đến NGND từ năm 2011-2018.

Các khái niệm liên quan đến hoạt động NGND Việt Nam, mối quan hệ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và NGND; Chỉ ra mục tiêu hoạt động NGND từ năm 2011-2018 trên các lĩnh vực. Thực trạng hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam (2011-2018) Đây là chương trọng tâm của luận án, tập trung làm rõ mục tiêu, phân tích quá trình hoạt động NGND trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh và TTĐN của các TCCTXH đại diện nòng cốt cho các tang lớp nhân dân, VUFO là đầu mối. Trên cơ sở đó chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động NGND. Nhận xét, kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách Trên cơ sở nội dung ở ba chương nêu trên, nghiên cứu sinh đưa ra nhận xét tổng thể về vai trò, đặc điểm NGND Việt Nam từ năm 2011-2018, chỉ ra kinh nghiệm hoạt động NGND, qua đó đề xuất kiến nghị góp phan nâng cao hiệu quả hoạt động NGND.

TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE DE TÀI 1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến ngoại giao nhân dân cúa các nước trên thế giới 1. Nhóm công trình nghiên cứu về lý luận Lich sử nhân loại cho thay mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc chủ yếu dựa trên mục tiêu tìm kiếm lợi ích, các nguồn lực bên ngoài dé phát triển đất nước, ngoại giao là công cu quan trọng thực hiện mục tiêu CSĐN. Cùng với QHQT ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực, khoa học công nghệ phát triển đang định hình lại thế giới trong đó có phương thức giao tiếp giữa các quốc gia, dân tộc, ngoại giao luôn được đổi mới, phát triển mở rộng.

Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức, nội hàm của ngoại giao thay đổi, quan hệ ngoại giao giữa các chính phủ với các nghỉ lễ, quy định chặt chẽ khó có thé bao quát hết các lĩnh vực của ngoại giao. Trong QHQT, những khả năng, nguồn lực, công cụ được các quốc gia sử dụng nhằm đạt được sự hậu thuẫn cho việc đạt được mục tiêu CSĐN. Do đó vai trò của hoạt động ngoại giao không mang tính chính thức, hướng đến nhân dân, công chúng nước khác được nghiên cứu ở nhiều nước với những luận điểm liên quan đến NGND. Ở phương Tây, thời kỳ cận dai Emanuel Kant (1724-1804) trong bài luận Hướng về một nên hòa bình vĩnh cửu công bỗ năm 1795 đã chi ra động lực phát triển xã hội.

Kant quan niệm an ninh chính là sự tự do của nhân dân, tự do làm bộc lộ lòng yêu hoà bình và dần hình thành ý nguyện hoà bình của quốc gia, đây là cơ sở thiết lập nền hoà bình quốc tế. Nhân dân có vai trò quan trọng với hòa bình của quốc gia và QHQT. Quan hệ nhân dân giữa cộng đồng này với cộng đồng khác phát triển dựa trên nên tảng quyền tự do của người dân. Kant nhân mạnh đến nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo vệ các quyền tự do dân sự, quyền sở hữu tư nhân đề cao vai trò cá nhân, nhân dân, hạn chế vai trò của nhà nước [25, tr 72-73].

Năm 1843, trong tác phẩm Góp phân phê phán triết học pháp quyền của Héghen, C. Mác chỉ ra vai trò của nhân dân: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân”, “không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước” [63]. Để phát huy tối đa sức mạnh và vai trò sáng tạo 9 của nhân dân cần có một chính đảng vững chắc lãnh đạo và phải xuất phát từ lợi ích, nhu cầu, thống nhất lợi ích của nhân dân. Trong công trình Lý thuyết quan hệ quốc tế do giáo sư Hoàng Khắc Nam biên soạn năm 2017 đề cập tổng thé, hệ thống các vấn đề lý thuyết và thực tiễn QHQT trong đó nghiên cứu sinh có thể kế thừa, vận dụng về mặt lý luận trong nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa các chủ thé QHQT phi nhà nước.

Các quan điểm lý thuyết của trường phái Mác-Lênin, trường phái Tự do, trường phái Kiến tạo về vai trò của chủ thê phi nhà nước, yếu tố cầu thành quyền lực, sức mạnh quốc gia trong đó những luận điểm về vai trò đặc điểm của ngoại giao phi nhà nước là cơ sở giúp tác giả nhận diện bản chất các khái niệm liên quan đến hoạt động NGND. Các quan điểm này đã chỉ ra vai trò của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, đối với quá thúc đây quan hệ hòa bình giữa các cộng đồng, quốc gia, dân tộc sớm được nghiên cứu và thừa nhận. Trong chính trị quốc tế ngày nay, không chỉ nhà nước mà các cá nhân, TCPCP đều là tác nhân có vai trò quan trọng, thúc đây hợp tác để cùng đạt được lợi ích thay vì đối đầu. Thế giới là một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau được thúc đây bởi những thỏa thuận giữa các lực lượng bắt nguồn từ nội tại mỗi quốc gia và một trong những yếu tố quan trọng của chính trị đối nội, đối ngoại đó là mối quan hệ giữa chính thể và nhân dân.

Những quan điểm đánh giá về vai trò của nhân dân, tổ chức, cơ chế hợp tác nhân dân đã thúc day các nước phát triển các hoạt động hướng đến nhân dân, công chúng các nước nhằm tăng hiểu biết, tác động đến công luận quốc tế. Đây cũng là môi trường tương tác, cơ sở xác định mục tiêu, phương thức hoạt động của NGND, nhân dân Việt Nam vừa là chủ thể hoạt động NGND đồng thời là đối tượng của hoạt động NGND, NGCC của các nước. Có nhiều công trình nghiên cứu về NGCC của Nga: Công trình “Russian public diplomacy in the 21st century: Structure, means and message” (Ngoại giao công chúng Nga trong thé kỷ XXI: Cdu trúc, phương tiện và thông điệp) của Simons Greg, Thụy Điển (2014), trên cơ sở nghiên cứu NGCC của Mỹ và một số nước châu Âu ông cho rằng Nga cần xem xét các phương thức NGCC khác biệt, thực dụng nhằm thu hút công chúng, định vị quốc gia [190]. Công trình “The limits of Russia’s ‘soft power” (Giới hạn của sức mạnh mém' của Nga) của Peter Rutland & Andrei Kazantsev (2016) [183] đã chỉ ra quyền lực mềm là công 10 cụ khôi phục vi thế cường quốc.

Với di sản văn hóa đồ sé, tài nguyên giàu có, Nga có lợi thé phát huy quyền lực mềm qua các hoạt động NGCC, TTĐN quảng bá hình ảnh tích cực trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, hỗ trợ chuyên gia, kỹ thuật công nghệ quân sự, viện trợ và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (TCPCP) quốc tế của Nga. Cơ quan thực hiện NGCC gồm: Cơ quan Liên bang Cộng đồng các quốc gia độc lập, người Nga sống ở nước ngoài, Chương trình hợp tác nhân đạo quốc tế, Quỹ Gorchakov (FPDS), Hội đồng quan hệ quốc tế Nga (RIAC), Quỹ thé giới Nga (RWF), Câu lạc bộ Valdai, Hội đồng kết nối văn hóa-nghệ thuật và hệ thống cơ quan truyền thông quốc tế, mạng xã hội, đã định hình cơ cấu té chức hoạt động NGCC. Bat lợi của Nga trong NGCC là những di sản phức tạp từ thời Liên Xô, quan hệ với láng giéng, tìm kiếm mô hình phát triển quyền lực mềm, sự đình trệ kinh tế. Công trình “Soft power, Russia and the former Soviet states: a case study of Russian language and education in Armenia” (Sức mạnh mém, Nga và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ: nghiên cứu trường hop về ngôn ngữ và giáo duc Nga ở Armenia) của Anna Mikhoyan Đại học Geneva, trên tạp chí Chính sách Văn hóa Quốc tế số 6/2017, tác giả cho rằng quyền lực mềm của Nga dưới thời V.

Putin bắt nguồn từ các yếu tố hợp tác giáo dục, phổ biến ngôn ngữ, văn hóa. Do vậy Nga cần phát triển dạy tiếng Nga ở các khu vực Nga có lợi ích chiến lược và địa-chính trị quan trọng như các nước trong không gian hậu Xô Viết, Trung Đông, Nam Á, Đông Nam Á, Mỹ Latinh và châu Âu. Đây mạnh quảng bá tiếng Nga trong môi trường đa văn hóa bằng tiếng Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, coi trọng NGCC qua việc hợp tác hiệu quả với các cộng đồng địa phương. Trong công trình “The Role of Russian NGOs in New Public Diplomacy” (Vai tro cua cac TCPCP cua Nga trong NGCC, tap chi Journal of Political Marketing tap 17, số 2 năm 2018, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử NGCC, Simons Greg lý giải nguyên nhân các quốc gia đều coi trọng NGCC do cá nhân, tổ chức đều muốn cạnh tranh ảnh hưởng, xây dựng môi trường giao tiếp hòa bình, tìm kiếm khách hàng, thị trường, khán thính giả, nhà đầu tư qua đó tác động đến QHQT.

Nước Nga cần phát triển NGCC thông qua truyền thông, hoạt động phi chính phủ nước ngoài nhằm tác động đến công luận và chính trị quốc tế do vị thế, ảnh hưởng của Nga bị suy giảm sau năm 1991, thông tin về Nga bị sai lệch trên truyền thông của Mỹ, phương Tây. Nga coi trọng các hoạt động NGCC thông qua hỗ trợ kỹ thuật quân sự, thông tin, tạo môi 11 trường thuận lợi hợp tác phát triển văn hóa, viện trợ phi chính phủ, diễn đàn trao đổi thảo luận về các vấn đề nước Nga đương đại, vấn đề quốc tế, quảng bá CSĐN. Mặc dù các công trình không đề cập trực tiếp đến những vấn đề lý luận về hoạt động NGND Việt Nam song những quan điểm về NGCC của Nga hướng đến công chúng quốc tế trong đó có nhân dân Việt Nam giúp tác giả hiểu được môi trường tương tác, đối tượng của hoạt động NGND Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam giai đoạn 2011-2018" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và vai trò của ngoại giao nhân dân trong bối cảnh chính trị và kinh tế toàn cầu. Tác giả phân tích các hoạt động ngoại giao nhân dân, từ việc xây dựng hình ảnh quốc gia đến việc tăng cường quan hệ với các đối tác quốc tế. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về chiến lược ngoại giao của Việt Nam mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của người dân trong các hoạt động ngoại giao.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ quốc tế học chính sách ngoại giao văn hoá của việt nam 2009-2020", nơi phân tích chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong giai đoạn gần đây. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết quốc tế trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo việt nam hiện nay" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về cách mà tư tưởng Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến các hoạt động ngoại giao hiện nay. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ đảng cộng sản việt nam với quan hệ kinh tế việt nam liên xô giai đoạn 1976 1991", để thấy được sự phát triển của quan hệ kinh tế trong bối cảnh lịch sử. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động ngoại giao của Việt Nam.