Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế (mã số: 62 31 02 06) với đề tài "Hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam từ năm 2011 đến 2018" do nghiên cứu sinh Ngô Thị Thúy Hiền thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Dương Xuân Ngọc và Hội đồng đánh giá do GS. Hoàng Khắc Nam làm Chủ tịch.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả luận án trình bày tính cấp thiết của đề tài dựa trên bốn căn cứ thực tiễn và lý luận:
- Vị trí trụ cột của ngoại giao nhân dân: Ngoại giao nhân dân (NGND) là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam (cùng với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước), được hình thành từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao lịch sử. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự gia tăng của ngoại giao công chúng (NGCC) từ các nước, NGND cần có sự điều chỉnh và phát triển để bảo vệ con đường xã hội chủ nghĩa.
- Yêu cầu khắc phục các hạn chế lịch sử: Báo cáo tổng kết Chỉ thị số 44-CT ngày 20/9/1994 của Ban Bí thư về "Mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân" chỉ ra rằng hoạt động NGND trước năm 2011 còn bộc lộ tính thụ động, thiếu linh hoạt, cơ chế phối hợp giữa cơ quan chuyên trách với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước chưa thực sự chặt chẽ, nhận thức của một số cấp ủy còn chưa đầy đủ.
- Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi quan hệ quốc tế: Toàn cầu hóa và internet thúc đẩy các mối quan hệ dân sự xuyên biên giới, làm xuất hiện các chiều tương tác đan xen trong quan hệ quốc tế (QHQT): song phương giữa các nước (chiều ngang), quan hệ với các tổ chức đa phương liên chính phủ (chiều lên), và quan hệ với các chủ thể phi nhà nước (chiều xuống). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) chuyển hướng sang chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, đòi hỏi NGND phải nâng cao năng lực hỗ trợ cho đường lối đối ngoại chung.
- Sự thay đổi trong mạng lưới đối tác quốc tế: Sự tan rã của Liên Xô cùng sự xuất hiện của các cơ chế hợp tác nhân dân mới như Diễn đàn nhân dân Á - Âu (AEPF, 1996), Diễn đàn nhân dân ASEAN (APF/ACCS, 2006) đặt ra yêu cầu định vị lại vai trò của NGND Việt Nam nhằm tranh thủ nguồn lực và bảo vệ lợi ích quốc gia trước các mặt trái của kinh tế thị trường toàn cầu.
Khoảng trống nghiên cứu: Dù có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ về từng khía cạnh đối ngoại, việc phân tích toàn diện, có hệ thống quá trình hoạt động của NGND Việt Nam giai đoạn 2011–2018 dưới góc nhìn chuyên ngành Quan hệ quốc tế và đặt trong mối quan hệ phối hợp với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước vẫn chưa được giải quyết đầy đủ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ thực trạng sự chuyển biến của hoạt động NGND Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2018, trên cơ sở đó chỉ ra bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách nâng cao hiệu quả NGND trong thời kỳ mới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, làm rõ cơ sở của hoạt động NGND Việt Nam: cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn.
- Phân tích thực trạng hoạt động NGND Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2018 trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và thông tin đối ngoại.
- Làm rõ đặc điểm, vai trò của hoạt động NGND từ năm 2011 đến năm 2018, chỉ ra bài học kinh nghiệm và đề xuất khuyến nghị chính sách góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động NGND trong thời kỳ mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động NGND của Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2018, trọng tâm là hoạt động của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO), các tổ chức chính trị - xã hội tham gia hoạt động NGND, và mối quan hệ phối hợp với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Triển khai chính sách đối ngoại trên 5 lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và thông tin đối ngoại (TTĐN).
- Về không gian: Địa bàn Việt Nam và không gian thuộc các đối tác quan hệ quốc tế (bao gồm các tổ chức hội hữu nghị song phương, đa phương, hội sinh viên, luật gia, nông dân, phụ nữ, công đoàn và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài).
- Về thời gian: Giai đoạn 2011–2018. Mốc 2011 gắn liền với Đại hội XI của Đảng, việc ban hành Chỉ thị 04-CT/TW ngày 06/7/2011 của Ban Bí thư về đối ngoại nhân dân, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020 và Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011). Mốc 2018 đánh dấu thời điểm tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 28-CT/TW ngày 02/12/2008 của Ban Bí thư về VUFO và tổng kết 20 năm hoạt động của Ủy ban công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm chính:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Nền tảng lý luận cổ điển và quan hệ quốc tế: Tác giả dẫn bài luận Hướng về một nền hòa bình vĩnh cửu (1795) của Emanuel Kant nhấn mạnh vai trò quyền tự do của nhân dân là nền tảng thiết lập hòa bình quốc tế; tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Héghen (1843) của C. Mác khẳng định chủ quyền nhân dân; công trình Lý thuyết quan hệ quốc tế (2017) của Hoàng Khắc Nam hệ thống hóa các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa Tự do và chủ nghĩa Kiến tạo về vai trò của các chủ thể phi nhà nước.
- Nghiên cứu về ngoại giao công chúng của Nga: Simons Greg (2014, 2018) phân tích cấu trúc NGCC và vai trò của các tổ chức phi chính phủ Nga; Peter Rutland & Andrei Kazantsev (2016) nghiên cứu giới hạn quyền lực mềm của Nga; Anna Mikhoyan (2017) nghiên cứu trường hợp giáo dục ngôn ngữ tại Armenia; Thomas Just (2016) và Martin Kragh & Sebastian Bergsberg (2017) phân tích chiến lược xây dựng bản sắc dân tộc và truyền thông của Nga qua các kênh RT và Sputnik.
- Nghiên cứu về ngoại giao văn hóa và quan hệ công chúng của Pháp: Philippe Lane (2003) nghiên cứu mạng lưới ngoại giao khoa học và văn hóa Pháp; Carl H. Botan & Vincent Hazleton (2006) và Jacquie L'Etang (2019) phân tích lý thuyết quan hệ công chúng trong bối cảnh toàn cầu hóa và tương tác với các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO).
- Nghiên cứu về ngoại giao công chúng, ngoại giao đa tuyến và quyền lực mềm của Mỹ: Hans N. Tuch (1990) tổng kết việc thực thi Đạo luật USIEEA (1948) và các chương trình truyền thông quốc tế; Eytan Gilboa (1998) phân loại 3 mô hình ngoại giao truyền thông; Henrikson (2006) nghiên cứu tác động của NGCC; John W. McDonald (2008) phát triển mô hình Ngoại giao đa tuyến (Multi-Track Diplomacy); Joseph Nye (2012) phân tích khái niệm sức mạnh mềm và sức mạnh thông minh; Kevin Cottrell (2018) nghiên cứu mô hình Ngoại giao văn hóa 2.0: Ngoại giao công dân; cùng các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2010, 2011) về đặc trưng NGND và ngoại giao văn hóa Mỹ.
- Nghiên cứu về ngoại giao công chúng của Trung Quốc: Gao Fei (2005), Zhang Yunling & Tang Shipin (2006), Lara Natascha Bühler (2010), Hessarbani Anja Lejli (2011), Zhao Kejin (2015), Kerstin Lohse-Friedrich (2019), Tsan-Kuo Chang & Fen Lin (2014), Anne Marie Brady (2015) phân tích cơ cấu bộ máy tuyên truyền đối ngoại, mạng lưới Viện Khổng Tử, và sự điều chỉnh chiến lược NGCC của Trung Quốc nhằm xử lý dư luận quốc tế.
- Các nghiên cứu so sánh và ngoại giao chuyên ngành: Candace White & Danijela Radic (2014) so sánh chiến lược thông điệp trong EU; Jae Woong Yoo & Samsup Jo (2014) so sánh nhận thức về quan hệ công chúng tại Trung Quốc và Hàn Quốc; Se Jung Park & Yon Soo Lim (2014) so sánh việc sử dụng mạng xã hội giữa Hàn Quốc và Nhật Bản; Olubukola S. Adesina (2017) nghiên cứu ngoại giao kỹ thuật số; Paula Orrico, Sandrin Andrea, Ribeiro Hoffman (2018) nghiên cứu mạng lưới EUNIC của EU; Tuyên bố Madrid về Ngoại giao Khoa học (2019); Phạm Minh Sơn (2016) nghiên cứu mô hình NGCC của một số nước.
Nhóm nghiên cứu về ngoại giao nhân dân Việt Nam
Bao gồm các văn bản đường lối của Đảng (Chỉ thị 44-CT, Chỉ thị 28-CT/TW, Chỉ thị 04-CT/TW, Chỉ thị 17-CT/TW), các văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 41/2013/QĐ-TTg, Nghị định 45/2010/NĐ-CP, Nghị định 12/2012/NĐ-CP), cùng các báo cáo tổng kết thực tiễn của VUFO, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, hệ thống hóa toàn bộ quá trình vận hành, thực trạng và mối quan hệ phối hợp liên ngành của NGND Việt Nam trong giai đoạn 2011–2018 dưới góc nhìn lý thuyết Quan hệ quốc tế, xác định rõ đặc điểm, vai trò và các khuyến nghị chính sách cụ thể cho hệ thống chính trị Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Nền tảng tư tưởng: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và ngoại giao nhân tâm ("chinh phục lòng người").
- Lý thuyết Quan hệ quốc tế: Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa Tự do, chủ nghĩa Kiến tạo về vai trò của các chủ thể phi nhà nước; lý thuyết hợp tác và hội nhập quốc tế; mô hình ngoại giao đa tuyến (Multi-Track Diplomacy).
- Khung thể chế - pháp lý của Việt Nam:
| Văn bản / Thể chế |
Cơ quan ban hành |
Nội dung cốt lõi liên quan đến NGND |
| Chỉ thị số 04-CT/TW (06/7/2011) |
Ban Bí thư Trung ương Đảng |
Xác định NGND là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung; phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả"; xác định VUFO, MTTQVN và các đoàn thể làm nòng cốt. |
| Chỉ thị số 28-CT/TW (02/12/2008) |
Ban Bí thư Trung ương Đảng |
Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của VUFO; xác định VUFO là tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách về đối ngoại nhân dân. |
| Chỉ thị số 17-CT/TW (28/8/2012) |
Bộ Chính trị |
Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hội quần chúng; yêu cầu hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải. |
| Quyết định số 41/2013/QĐ-TTg (15/7/2013) |
Thủ tướng Chính phủ |
Quy định chế độ, chính sách, biên chế công chức/viên chức và ngân sách nhà nước đảm bảo cho cơ quan thường trực của VUFO ở Trung ương và địa phương. |
| Nghị định số 12/2012/NĐ-CP (01/3/2012) |
Chính phủ |
Quy định việc đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) tại Việt Nam. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lôgic - lịch sử: Phân tích sự phát triển của NGND qua các mốc thời gian, kế thừa giai đoạn trước năm 2011 và tập trung vào giai đoạn 2011–2018.
- Phương pháp phân tích chính sách: Đánh giá quá trình thể chế hóa các chỉ thị của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc và liên ngành: Xem xét NGND trong mối quan hệ hữu cơ với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, gắn với các phân ngành chính trị học, sử học và luật học.
- Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu tài liệu, thống kê biểu bảng, quan sát và mô tả thực tiễn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Nhóm tài liệu thứ nhất: Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị định, quyết định của Nhà nước về công tác đối ngoại và quản lý hội, tổ chức phi chính phủ.
- Nhóm tài liệu thứ hai: Báo cáo tổng kết công tác định kỳ và chuyên đề của VUFO, Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PACCOM), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; các kỷ yếu hội thảo quốc tế, công trình nghiên cứu học thuật của các tác giả trong và ngoài nước bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến ngoại giao nhân dân, ngoại giao công chúng, ngoại giao văn hóa và ngoại giao đa tuyến. Tác giả phân tích các mô hình NGCC của các nước lớn (Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc), qua đó chỉ rõ môi trường tương tác quốc tế nơi nhân dân Việt Nam vừa là chủ thể thực hiện NGND, vừa là đối tượng hướng tới của NGCC các nước. Tác giả xác lập luận điểm rằng giai đoạn 2011–2018 có những biến chuyển căn bản về đường lối đối ngoại nhưng chưa được phân tích toàn diện, tạo cơ sở khẳng định tính cấp thiết của đề tài.
Chương 2: Cơ sở của hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam (2011-2018)
Chương này làm rõ cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn của hoạt động NGND:
- Cơ sở lý luận: Làm rõ các khái niệm NGND, NGCC, ngoại giao văn hóa, ngoại giao đa tuyến; phân tích mối quan hệ giữa ba trụ cột đối ngoại Việt Nam.
- Cơ sở chính trị và pháp lý: Phân tích nội dung Chỉ thị 04-CT/TW (2011), Chỉ thị 28-CT/TW (2008), Chỉ thị 17-CT/TW (2012), Quyết định 41/2013/QĐ-TTg, Nghị định 45/2010/NĐ-CP và Nghị định 12/2012/NĐ-CP.
- Cơ sở thực tiễn: Tổng kết thành tựu NGND trước năm 2011; làm rõ các nhân tố tác động (toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0, sự hình thành các phong trào xã hội dân sự quốc tế); xác định mục tiêu và nội dung hoạt động NGND giai đoạn 2011–2018.
Chương 3: Thực trạng hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam (2011-2018)
Chương 3 là chương trọng tâm, phân tích chi tiết việc triển khai NGND trên 5 lĩnh vực thực tế:
- Lĩnh vực chính trị: Tăng cường quan hệ hữu nghị song phương với nhân dân các nước láng giềng có chung đường biên giới (Lào, Campuchia, Trung Quốc), củng cố quan hệ với bạn bè truyền thống và các đảng cánh tả; tham gia các diễn đàn nhân dân đa phương như AEPF, APF/ACCS.
- Lĩnh vực kinh tế: Vận động nguồn lực quốc tế, hợp tác với các TCPCPNN thông qua cơ chế PACCOM nhằm thu hút viện trợ phục vụ giảm nghèo, phát triển bền vững và khắc phục hậu quả chiến tranh.
- Lĩnh vực văn hóa - xã hội: Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, trao đổi đoàn nghệ thuật, giao lưu thanh niên, sinh viên, phụ nữ; phối hợp với các hội hữu nghị và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN).
- Lĩnh vực quốc phòng - an ninh: Vận động dư luận quốc tế ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ (đặc biệt là vấn đề Biển Đông); đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.
- Lĩnh vực thông tin đối ngoại: Tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, đường lối chính sách đổi mới của Việt Nam ra thế giới; khai thác các kênh thông tin báo chí và nền tảng số.
Chương 3 cũng tổng kết các thành công, hạn chế và nguyên nhân:
- Thành công: Mở rộng mạng lưới đối tác, vận động hiệu quả nguồn viện trợ phi chính phủ, đóng góp vào công tác đối ngoại chung và bảo vệ an ninh quốc gia.
- Hạn chế: Hoạt động ở một số nơi còn mang tính hình thức; sự phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại có lúc chưa đồng bộ; cơ chế tài chính và nguồn nhân lực chuyên trách còn khó khăn.
Chương 4: Nhận xét, kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách
- Nhận xét tổng quát: Chỉ rõ các đặc điểm cơ bản và vai trò của NGND giai đoạn 2011–2018 trong việc củng cố môi trường hòa bình, vận động nguồn lực phát triển và tạo dựng thế trận lòng dân quốc tế.
- Bài học kinh nghiệm:
- Kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
- Kinh nghiệm trong phương thức triển khai, bám sát phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả".
- Kinh nghiệm trong cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và NGND.
- Các nhóm khuyến nghị chính sách:
- Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước đối với NGND.
- Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động hội và đối ngoại nhân dân.
- Đầu tư phát triển nguồn lực: bố trí cán bộ chuyên trách, đào tạo nghiệp vụ ngoại giao, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất và thành lập Quỹ Hỗ trợ đối ngoại nhân dân.
- Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa hình thức tiếp cận phù hợp với môi trường số hóa và truyền thông mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thể chế chính trị - pháp lý của hoạt động NGND Việt Nam; làm sáng tỏ các khái niệm, xác định vị trí, vai trò, mục tiêu và phương thức hoạt động của NGND trong tổng thể nền ngoại giao 3 trụ cột ở thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện.
- Về cách tiếp cận: Luận án tiếp cận nghiên cứu từ giác độ chủ thể QHQT phi nhà nước, kết hợp phương pháp lịch sử và liên ngành để đánh giá hoạt động NGND khi các cơ chế đa phương và tổ chức phi chính phủ ngày càng có tiếng nói tại các diễn đàn khu vực và toàn cầu.
- Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng triển khai hoạt động NGND từ năm 2011 đến năm 2018 trên 5 lĩnh vực (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, thông tin đối ngoại); làm rõ kết quả phối hợp giữa VUFO, MTTQVN, các tổ chức đoàn thể với các cơ quan ngoại giao chính thức; đánh giá khách quan thành công, hạn chế và đúc kết 3 nhóm bài học kinh nghiệm.
- Về mặt tư liệu: Luận án tập hợp, xử lý và hệ thống hóa khối lượng tư liệu văn kiện của Đảng, Nhà nước, báo cáo tổng kết thực tiễn của VUFO và các tổ chức đối ngoại, tạo nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử ngoại giao và hoạch định chính sách đối ngoại.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tăng cường sự lãnh đạo tập trung của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy về vai trò của NGND.
- Rà soát, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về hội và quản lý hoạt động TCPCPNN (như Nghị định 45/2010/NĐ-CP, Nghị định 12/2012/NĐ-CP).
- Đảm bảo biên chế công chức, viên chức và chế độ phụ cấp cho đội ngũ cán bộ chuyên trách theo Quyết định 41/2013/QĐ-TTg.
- Thành lập Quỹ Hỗ trợ đối ngoại nhân dân theo nguyên tắc tự chủ tài chính kết hợp hỗ trợ ban đầu từ ngân sách.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền đối ngoại và kết nối cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2018, tập trung khảo sát cơ quan đầu mối là VUFO cùng các tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt; chưa mở rộng khảo sát sâu các hoạt động giao lưu dân sự tự phát của cá nhân công dân hoặc các tổ chức xã hội nghề nghiệp nhỏ lẻ ngoài hệ thống Mặt trận.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu hoạt động NGND Việt Nam từ sau năm 2018 đến nay dưới tác động của các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, XIII và Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới.
- Nghiên cứu sâu hơn về ngoại giao kỹ thuật số (digital diplomacy) và vai trò của trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội trong hoạt động ngoại giao công dân của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ học tập, giảng dạy các học phần Lịch sử ngoại giao Việt Nam, Quan hệ quốc tế, Ngoại giao công chúng và Chính sách đối ngoại Việt Nam tại các cơ sở đào tạo như Học viện Ngoại giao, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Đối với cơ quan hoạch định và thực thi chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO) và các cơ quan đối ngoại địa phương trong việc xây dựng quy chế phối hợp công tác, hoàn thiện chính sách đãi ngộ cán bộ và triển khai các chương trình đối ngoại nhân dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2018?
Năm 2011 là thời điểm Đại hội XI của Đảng quyết định chuyển từ "chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" sang "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế" toàn diện; Ban Bí thư tổng kết 17 năm thực hiện Chỉ thị 44-CT và ban hành Chỉ thị 04-CT/TW ngày 06/7/2011. Năm 2018 là thời điểm VUFO tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 02/12/2008 của Ban Bí thư và tổng kết 20 năm hoạt động của Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, cung cấp nguồn dữ liệu thực tiễn đầy đủ để đánh giá một chu kỳ chính sách.
2. Ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam được thể hiện như thế nào trong luận án?
Luận án xác định nền ngoại giao Việt Nam gồm ba trụ cột gắn kết chặt chẽ: Đối ngoại Đảng, Ngoại giao Nhà nước và Đối ngoại nhân dân (Ngoại giao nhân dân). Trong đó, NGND giữ vai trò nòng cốt trong việc mở rộng cơ sở xã hội, xây dựng tình cảm bạn bè quốc tế, vận động nguồn lực và hỗ trợ xử lý những vấn đề phức tạp mà ngoại giao chính thức gặp rào cản về nghi lễ hoặc nguyên tắc.
3. Vị trí pháp lý và cơ chế bảo đảm của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO) được quy định qua các văn bản nào?
VUFO được khẳng định là tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách về đối ngoại nhân dân thông qua Chỉ thị số 28-CT/TW (2008), Chỉ thị số 04-CT/TW (2011) của Ban Bí thư và Quyết định số 41/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định 41 quy định rõ VUFO và các tổ chức hữu nghị địa phương được giao chỉ tiêu biên chế cán bộ, công chức, viên chức, được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động, chi thường xuyên, trụ sở và phương tiện làm việc.
4. Luận án đã điểm qua những trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế nào khi nghiên cứu NGND?
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin (về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân), chủ nghĩa Tự do (về vai trò của các chủ thể phi nhà nước, cá nhân và sự phụ thuộc lẫn nhau), chủ nghĩa Kiến tạo (về vai trò của bản sắc, chuẩn mực và giao lưu văn hóa) và mô hình Ngoại giao đa tuyến (Multi-Track Diplomacy của John W. McDonald).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Thúy Hiền là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn của hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam giai đoạn 2011–2018. Dưới góc nhìn của ngành Quan hệ quốc tế, tác giả đã làm rõ phương thức vận hành của ngoại giao nhân dân trên 5 lĩnh vực then chốt, đặt trong sự phối hợp đồng bộ với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước. Những bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách được đúc rút từ công trình mang giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.