Chương 1:. Những vấn đề lý luận chung về thƣơng mại quốc tế và sự cần thiết khách quan của quan hệ thƣơng mại Trung Quốc - EU Chương 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại Trung Quốc - EU trong giai đoạn từ 1990 đến nay và tác động của nó đến Việt Nam Chương 3: Giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Việt Nam - EU 4 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI TRUNG QUỐC – EU 1. Những vấn đề lý luận chung về thƣơng mại quốc tế Khái niệm thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, có thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hoặc thị trường của nước xuất khẩu hay nước nhập khẩu, ở đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá của các bên tham gia trao đổi. Các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác quốc gia, có thể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể hoặc tư nhân.Mục đích tham gia thương mại quốc tế của họ là có lợi trong việc trao đổi. Hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật chất, hàng hoá dịch vụ… Trao đổi quốc tế hàng hoá vật chất gọi là thương mại hàng hoá quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại thương. Hàng hoá vật chất là những hàng hoá tồn tại dưới dạng vật chất, định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lương thực thực phẩmvà phi lương thực thực phẩm.
Trong trao đổi, người mua và người bán mua bán với nhau quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá. Do có sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Cùng với các nghiệp vụ 5 z mua, bán hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo quản, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế… Trao đổi quốc tế hàng hoá dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. Hàng hoá dịch vụ là những hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó định lượng được, không dự trữ được.
Quá trình cung cấp diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ (sử dụng) hàng hoá dịch vụ. Trong trao đổi, người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (người nhận dịch vụ) mua bán với nhau về quyền sử dụng hàng hoá dịch vụ. Do có sự cách biệt về địa lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ, hàng hoá dịch vụ có thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên giới. Phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa người mua và người bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi.
Vai trò của thương mại quốc tế Ngày nay, khối lượng thương mại thế giới thông qua xuất khẩu tăng lên rất nhanh. Thông qua xuất nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mà ở nền kinh tế tự cung tự cấp không bao giờ có được. Đặc biệt với các nước đang phát triển, nhờ thương mại quốc tế, họ có được cơ hội tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, tạo ra tích luỹ, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Các nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và quốc tế hoá theo hướng hình thành một thị trường thế giới đông nhất nên sự phụ thuộc giữa các quốc gia thông qua thương mại ngày càng tăng lên.
Thương mại quốc tế là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng giữa các nước. Chính vì vậy mà nó có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước: 6 z + Thương mại quốc tế tác động vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất và tiêu dùng theo hướng phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. + Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước hay nói cách khác là nó làm thay đổi phương thức sản xuất và phương thức tiêu dùng. Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn của khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện chế độ tự cung, tự cấp, không buôn bán.
+ Thương mại quốc tế còn làm cho thu nhập GDP tăng lên, cải thiện đời sống của nhân dân. + Thương mại quốc tế giúp cho các nước thoả mãn nhu cầu về văn hoá, nâng cao trình độ văn hoá, quan hệ với nhiều nước trên thế giới, nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế. + Thương mại quốc tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Một số lý thuyết thương mại quốc tế Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã có một lịch sử lâu đời.
Các lý thuyết dau bổ sung và hoàn thiện những lý thuyết trước nhằm giải thích sâu sắc hơn bản chất và những yếu tố quyết định thương mại quốc tế. Sau đây, tôi xin trình bày một số lý thuyết thương mại quốc tế điển hình. Học thuyết trọng thương Quan điểm của trường phái Trọng thương về thương mại quốc tế ra đời vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16. Học thuyết Trọng thương cho rằng, mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ; muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại thương tức là phát triển buôn bán với 7 z nước ngoài; lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt.
Trong trao đổi phải có một bên thua và một bên được và trong thương mại quốc tế thì dân tộc này làm giầu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác; phái Trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua bảo hộ, cụ thể là Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp. Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith bắt đầu từ giữa thế kỷ 18. Adam Smith đã đưa ra các giả thiết sau: + Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng. + Chi phí vận chuyển bằng 0.
+ Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia. + Thương mại là hoàn toàn tự do. Theo Adam Smith mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá và những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa sử dụng những lợi thế tuyệt đối đó cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp hơn các nước khác. Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được hiện tượng: Một nước có lợi thế hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế nào cả thì chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế là ở đâu và thương mại quốc tế sẽ diễn ra như thế nào đối với các nước này.
Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh của David Ricardo Để xây dựng lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh, Ricardo đã đưa ra một số giả thiết sau: + Chỉ có hai quốc gia và hai loại sản phẩm. 8 z + Thương mại tự do. + Không có chi phí vận chuyển. + Chi phí sản xuất là cố định.
+ Lao động được di chuyển trong phạm vi mỗi quốc gia nhưng không được di chuyển giữa các quốc gia. + Lý thuyết tính giá trị bằng lao động. Theo lý thuyết này mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước.
Một quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác. Những lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, do vậy không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của qúa trình thương mại quốc tế. Lý thuyết về chi phí cơ hội của Haberler Vào năm 1936, Haberler đã dựa trên lý thuyết chi phí cơ hội để giải thích quy luật lợi thế so sánh.
Theo lý thuyết này, chi phí cơ hội của một sản phẩm là số lượng của một sản phẩm khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên sản xuất tăng thêm một đơn vị sản phẩm thứ nhất. Theo lý thuyết của Haberler, trong điều kiện chi phí cơ hội là không đổi thì đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia là một đường thẳng biểu thị sự kết hợp thay thế lẫn nhau giữa hai sản phẩm mà quốc gia có thể lựa chọn trong điều kiện sử dụng toàn bộ nguồn lực với kỹ thuật là tốt nhất. 9 z Trong trường hợp không có thương mại, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng chính là giới hạn tiêu dùng của quốc gia. Lý thuyết Heckscher - Ohlin Khái niệm hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố: Lý thuyết Haberler - Ohlin được xây dựng trên hai khái niệm cơ bản là hàm lượng (hay độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố.