Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC ÊĐÊ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Dân tộc Khái niệm hay thuật ngữ dân tộc, tộc người đã được sử dụng phổ biến từ lâu ở Việt Nam trong các văn bản chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu khoa học và sách báo. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn tồn tại sự không thống nhất trong cách hiểu và sử dụng hai thuật ngữ này.
Vấn đề tưởng như vô cùng đơn giản, nhưng lại chưa được quan tâm giải quyết đúng mức nên đã gây ra nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý trong hoạt động nghiên cứu khoa học, thực hiện chính sách, hội nhập quốc tế,… Ở Việt Nam, trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật, chính sách Nhà nước, các công trình khoa học, trên những phương tiện thông tin đại chúng và giao tiếp thông thường, khái niệm “dân tộc” được dùng vừa để chỉ một tộc người cụ thể (dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Êđê,…) vừa để chỉ một cộng đồng quốc gia của nhiều tộc người như dân tộc Việt Nam [9]. Dân tộc thiểu số Ở nước ta, thuật ngữ dân tộc Việt Nam hay cộng đồng các dân tộc Việt Nam được dùng để chỉ tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc. Khái niệm này đồng nghĩa với quốc gia đa dân tộc hay còn gọi là quốc gia - dân tộc. Hiện nay, chúng ta đang sử dụng thuật ngữ dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, vậy nên hiểu thống nhất là: 8 Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tức là dân tộc Kinh, dùng thuật ngữ này là nói trên phạm vi cả nước chứ không phải chỉ trên địa bàn vùng hay địa phương nào đó.
Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số lượng người ít hơn so với dân tộc đa số, thuật ngữ này không đồng nghĩa với dân tộc chậm phát triển hay dân tộc lạc hậu. Dân tộc Êđê Dân tộc Êđê là một trong 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, cư trú phần lớn ở tỉnh Đắk Lắk, một số vùng giáp ranh giữa Đắk Lắk và Phú Yên, Gia Lai với Khánh Hòa. Dân số là 331.194 người, xếp thứ 11 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009). Tên tự gọi là Rhade, Êđê-gar, Anak Êđê,… Êđê là tên chính thức được sử dụng trong các văn bản của nhà nước, trong các công trình nghiên cứu và trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Các nhà ngôn ngữ học xếp dân tộc Êđê vào nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesien, thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Nhóm địa phương: Kpă (cư trú chính ở Buôn Ma Thuột); Adham (ở phía bắc Buôn Ma Thuột và Buôn Hồ); Hdruê (ở vùng sình lầy Krông Ana); Krung (ở giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai); các nhóm nhỏ: Dong Kay, Dong Mak, Hwing, Êpan, Êning, Blô (sống ở huyện Mđrắk); Mdhur (ở vùng giáp ranh Đắk Lắk và Phú Yên); Bih (ở dọc hai sông Krông Knô, Krông Kna và vùng hồ Đắk Lắk) [22]. Giá trị văn hóa dân tộc Êđê “Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người.
Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong 9 bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa. Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội” [38, tr. Giá trị văn hóa của dân tộc Êđê rất đa dạng, giàu bản sắc, từ tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội, nghi lễ trong hôn nhân, tang ma, thờ cúng, luật tục, văn học nghệ thuật,… Những giá trị văn hóa này luôn gắn liền với cuộc sống của người Êđê từ bao đời nay. Văn hóa truyền thống của người Êđê mang đậm tính mẫu hệ.
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê Bảo tồn là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến hiện nay. Đối tượng bảo tồn phải là những gì có giá trị góp phần làm phong phú cuộc sống con người, giúp ích cho phát triển kinh tế, xã hội. Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội. Phát huy giá trị văn hóa dân tộc là tiến hành các biện pháp, cách thức thích hợp để làm tỏa sáng tối ưu những giá trị hàm chứa trong văn hóa dân tộc đem lại những lợi ích thiết thực cho từng đối tượng cụ thể.
“Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là việc làm nhằm xác định một cách rõ ràng hình hài vốn có của văn hóa Việt Nam, từ đó, phát triển nó theo hướng mở rộng cả về chất và lượng, mà vẫn không làm biến dạng hình hài (vốn có) của nó” [48, tr. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê là các hoạt động lưu giữ để không làm mất đi những giá trị văn hóa, khi thực hiện công tác bảo tồn phải biết lựa chọn trong các hiện tượng đang có nguy cơ biến mất, những yếu tố, những khả năng tiềm ẩn để làm cho chúng tồn tại cùng với sự phát 10 triển đi lên của xã hội. Mục đích của bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê là đưa văn hóa vào cuộc sống để phát huy giá trị của chúng, bảo tồn văn hóa luôn đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống. Việc bảo tồn cần phải chú ý đến các đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn bảo tồn những điều phù hợp với thời đại.
Khi thực hiện được điều đó, hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa của dân tộc Êđê mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê trong quá trình phát triển đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học để lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng di sản văn hóa của dân tộc Êđê. Mục tiêu đặt ra là phải gắn các giá trị văn hóa với đời sống đương đại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường giao lưu văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế. Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là các hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan nhà nước, được tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật và thi hành luật pháp đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.
Cụ thể là quá trình ban hành chính sách, định hướng, huy động, tổ chức, điều hành các nguồn lực nhằm thực hiện việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, tổ chức thực hiện các hoạt động khác liên quan đến di sản văn hóa. Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê là hoạt động quản lý nhằm bảo tồn, phát huy sáng tạo các giá trị văn hóa dân tộc Êđê, đồng thời nâng cao vai trò của di sản văn hóa dân tộc Êđê đối với sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đắk Lắk. Như vậy, cần có biện pháp quản 11 lý phù hợp mới phát huy hết được những giá trị văn hóa dân tộc Êđê, mục đích về văn hóa cần thống nhất với mục đích về kinh tế và cơ chế tạo nên sự hài hòa, tương tác giữa chúng. Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm chính, đồng thời phối hợp cùng các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung, nhưng được phân chịu trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Nội dung và vai trò quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 1. Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk - Hoạch định chiến lược, chính sách quy hoạch về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm đặt ra các nguyên tắc đối với sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc Êđê phù hợp với mục tiêu phát triển văn hóa tỉnh Đắk Lắk nói riêng và Việt Nam nói chung. Trong thực tế, việc hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách văn hóa có ý nghĩa quan trọng và cần thiết. Các văn bản pháp luật về văn hóa còn thiếu hoặc chưa đủ trên tất cả các lĩnh vực trong hoạt động văn hóa.
Đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều vấn đề bức thiết đặt ra nhưng chưa có sự tác động bởi chính sách nhà nước, từ đó tạo ra các khoảng trống trong hoạt động quản lý. Các văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên sửa đổi do vậy cần hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân.