Tổng quan nghiên cứu

Xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông là địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn được thành lập theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2005 của Chính phủ. Địa phương có cơ cấu dân cư phức tạp với 22 dân tộc cùng sinh sống trên tổng quy mô 5.281 hộ gia đình, trong đó đồng bào M’Nông bản địa có 688 hộ với 3.235 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 13,3% dân số toàn xã. Trước làn sóng đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thị trường và sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ, các giá trị di sản truyền thống của người M’Nông tại đây đang đứng trước nguy cơ biến đổi và mai một nghiêm trọng.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự suy giảm nhanh chóng của các yếu tố văn hóa phi vật thể như ngôn ngữ, trang phục, sử thi Ot N’drông và không gian sinh hoạt cồng chiêng. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị văn hóa vùng dân tộc thiểu số, đánh giá toàn diện thực trạng bản sắc văn hóa M’Nông tại cơ sở, từ đó khẳng định vai trò lãnh đạo, điều hành của tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể địa phương. Phạm vi không gian tập trung tại 13 thôn, bon thuộc xã Quảng Sơn, với khung thời gian khảo sát thực tiễn từ năm 2015 đến năm 2018 và định hướng tầm nhìn đến năm 2025.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế lãnh đạo cho cấp ủy cơ sở, nâng cao năng lực cho 13 chi bộ thôn/bon, hướng tới mục tiêu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và bảo tồn nguyên vẹn trên 80% các lễ hội truyền thống tiêu biểu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tính dân tộc trong xây dựng nền văn hóa mới. Khung phân tích vận dụng trực tiếp quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” với 10 nhiệm vụ trọng tâm và 4 nhóm giải pháp cơ bản, kết hợp tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI năm 2014 về hoàn thiện chuẩn mực giá trị văn hóa, con người Việt Nam.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Văn hóa: Hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng sáng tạo nhằm thích ứng với môi trường sinh thái tự nhiên và xã hội.
  • Bản sắc văn hóa: Cốt lõi đặc trưng, độc đáo nhất để nhận diện và phân biệt diện mạo tinh thần của một tộc người, biểu hiện qua tính cộng đồng cao, luật tục, trang phục và lễ hội.
  • Dân tộc thiểu số: Khái niệm xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về các tộc người có quy mô dân số ít hơn trong quốc gia đa dân tộc.
  • Hệ thống chính trị cấp cơ sở: Chỉnh thể thống nhất gồm Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và 5 tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp năm 2013 (Điều 5, Điều 60), Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg, Quyết định số 2356/QĐ-TTg, cùng các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2018 của Ủy ban nhân dân huyện Đắk Glong và xã Quảng Sơn.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện khảo sát trên cỡ mẫu toàn diện gồm 688 hộ gia đình M’Nông (3.235 nhân khẩu) cư trú tập trung tại 7 bon nòng cốt: bon Nting, bon SaNar, bon R’Bút, bon Phi Glê, bon BuSir, bon Rlong Phe và bon Nđoh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp phỏng vấn sâu được áp dụng với 20 cá nhân đại diện gồm các già làng, trưởng bon, nghệ nhân dân gian và cán bộ chuyên trách văn hóa xã. Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê kết hợp với quan sát thực địa được lựa chọn nhằm bảo đảm việc định lượng hóa chính xác cơ cấu nhân khẩu, tôn giáo (với 53% nữ giới và 798 trẻ em dưới tuổi lao động), đồng thời kiểm chứng sâu sắc tính chân thực của các sinh hoạt văn hóa tại cộng đồng bản địa. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai hoàn chỉnh trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 8 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện căn bản về thực trạng đời sống văn hóa và sự quản lý của hệ thống chính trị tại xã Quảng Sơn:

Thứ nhất, cơ cấu niềm tin tôn giáo có sự chuyển dịch sâu sắc làm biến đổi không gian thực hành tín ngưỡng nguyên thủy. Trong tổng số 688 hộ M’Nông, có đến 207 hộ (989 nhân khẩu) theo đạo Thiên chúa và 325 hộ (1.578 nhân khẩu) theo đạo Tin lành. Tổng cộng có 532 hộ với 2.567 nhân khẩu theo hai tôn giáo này, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 79,3% dân số người M’Nông toàn xã, dẫn tới việc nhiều nghi lễ nông nghiệp đa thần truyền thống như cúng thần rừng, cúng lúa mới bị thu hẹp hoặc giản lược.

Thứ hai, các thiết chế văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống bị mai một nghiêm trọng. Hiện tượng bê tông hóa nhà ở đã thay thế phần lớn kiến trúc nhà trệt mái cỏ tranh và nhà sàn thấp bằng gỗ truyền thống. Trang phục dân tộc với gam màu xanh và đen đặc trưng chỉ còn được sử dụng trong các dịp lễ hội lớn, trong khi hơn 85% người dân mặc thường phục hiện đại trong sinh hoạt thường nhật. Các di sản phi vật thể như diễn xướng sử thi Ot N’drông và hát dân ca chỉ còn lưu giữ trong trí nhớ của số ít nghệ nhân cao tuổi, chiếm chưa đầy 5% tổng số người cao niên tại các bon.

Thứ ba, tính cộng đồng và luật tục bản địa vẫn duy trì sức mạnh gắn kết xã hội to lớn nhưng nảy sinh mâu thuẫn với quy định pháp luật hiện hành. Tinh thần tương trợ trong lao động sản xuất và vai trò điều phối của già làng đạt mức độ tuân thủ 100% khi có sự việc chung trong bon. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình vẫn tồn tại, tiêu biểu là tỷ lệ tảo hôn ước tính chiếm khoảng 8% đến 12% các trường hợp kết hôn mới và vẫn còn dấu vết kết hôn cận huyết trong phạm vi 3 đời.

Thứ tư, công tác lãnh đạo của hệ thống chính trị đã có chuyển biến tích cực thông qua việc ban hành Chương trình hành động số 28-CTr/ĐU năm 2016 và số 39-CTr/ĐU năm 2017 của Đảng ủy xã, nhưng việc triển khai còn thiếu tính bền vững. Hiện tượng lai căng văn hóa xuất hiện trong một số sự kiện văn nghệ cấp cơ sở, chẳng hạn như đưa nghi thức rước kiệu phía Bắc vào lễ đón bạn truyền thống hay sử dụng trang phục sai lệch gam màu nguyên bản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ tác động trực diện của cơ chế thị trường, sự du nhập văn hóa ngoại lai và trình độ dân trí chưa đồng đều với 24,66% dân số là trẻ em dưới độ tuổi lao động cần sự định hướng giáo dục văn hóa bài bản. Bên cạnh đó, ngân sách dành cho sự nghiệp văn hóa cấp xã còn eo hẹp, đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ và thiếu kỹ năng chuyên sâu về nhân học tộc người.

Để minh họa trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua Bảng tổng hợp cơ cấu tôn giáo của đồng bào M’Nông (phân định rõ tỷ lệ 30,6% Thiên chúa giáo, 48,7% Tin lành và 20,7% tín ngưỡng dân gian) kết hợp cùng Biểu đồ cột so sánh mức độ suy giảm các yếu tố văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, trang phục, sử thi, cồng chiêng) qua các mốc thời gian năm 2005, 2015 và 2018. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu của nhiều học giả uy tín về văn hóa Tây Nguyên, đồng thời khẳng định tính cấp thiết của việc thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở nhằm tạo ra sức đề kháng văn hóa tự thân cho cộng đồng M’Nông tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của hệ thống chính trị trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc M’Nông tại xã Quảng Sơn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực cán bộ chuyên trách: Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn cần đưa chỉ tiêu bảo tồn văn hóa vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tiếng M’Nông và kiến thức văn hóa dân gian cho 100% cán bộ, công chức cấp xã, phấn đấu đạt tỷ lệ 90% cán bộ cơ sở giao tiếp được tiếng M’Nông cơ bản trong giai đoạn 2020 - 2022 do Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đắk Glong phối hợp với Ủy ban nhân dân xã thực hiện.

  2. Củng cố và phát huy vai trò của lực lượng cốt cán, già làng, trưởng bon: Thiết lập quy chế phối hợp định kỳ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã với 13 già làng, trưởng bon uy tín; thực hiện đầy đủ chế độ đãi ngộ theo Quyết định số 2356/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Già làng phải là chủ thể trực tiếp tham gia thẩm định, giám sát 100% các chương trình phục dựng lễ hội truyền thống nhằm loại bỏ triệt để các yếu tố lai căng, ngoại lai.

  3. Bảo tồn khẩn cấp và truyền dạy các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể: Ủy ban nhân dân xã phối hợp với ngành văn hóa cấp tỉnh, huyện tổ chức phục dựng nguyên bản từ 2 đến 3 lễ hội tiêu biểu mỗi năm (như lễ mừng lúa mới, lễ sum họp cộng đồng bon làng); tiến hành sưu tầm, số hóa ít nhất 15 đến 20 tác phẩm sử thi Ot N’drông; mở các lớp truyền dạy cồng chiêng và dệt thổ cẩm định kỳ cho tối thiểu 50 thanh thiếu niên tại 7 bon nòng cốt mỗi năm.

  4. Gắn kết bảo tồn văn hóa với sinh kế và du lịch sinh thái cộng đồng: Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn phối hợp với các doanh nghiệp, hợp tác xã thương mại dịch vụ (như Hợp tác xã bon Nting) quy hoạch 2 mô hình bon du lịch cộng đồng điểm gắn với thắng cảnh hồ thủy điện Đồng Nai 3 và 4; khôi phục nghề đan lát mây tre và ẩm thực truyền thống (cơm lam, rượu cần), mục tiêu tạo thêm việc làm và nâng cao 15% đến 20% thu nhập cho các hộ gia đình M’Nông vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ lãnh đạo, công chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở: Cung cấp cẩm nang thực tiễn giúp cấp ủy, chính quyền các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động và điều hành hiệu quả công tác quản lý văn hóa địa phương.

  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chính trị học, Văn hóa học: Là tài liệu nghiên cứu học thuật điển hình về mối quan hệ giữa cấu trúc quyền lực chính trị và việc bảo tồn di sản văn hóa tộc người trong bối cảnh phát triển bền vững.

  3. Đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, Dân tộc và Tôn giáo: Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng để nâng cao kỹ năng dân vận, phương pháp làm việc với người có uy tín, già làng, trưởng bản nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tín ngưỡng tôn giáo mới và phong tục truyền thống.

  4. Các nhà hoạch định chính sách và tổ chức phát triển cộng đồng: Cung cấp bức tranh toàn diện về 22 thành phần dân tộc tại Đắk Glong để xây dựng các dự án phát triển kinh tế gắn với bảo tồn di sản cho vùng đồng bào thiểu số tại chỗ khu vực Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Bản sắc văn hóa đặc trưng nhất của người M’Nông tại xã Quảng Sơn thể hiện qua yếu tố nào? Bản sắc văn hóa M’Nông tại xã Quảng Sơn nổi bật ở tính cộng đồng gắn kết chặt chẽ qua chế độ mẫu hệ, luật tục nghiêm minh và kho tàng di sản đồ sộ. Điển hình là không gian văn hóa cồng chiêng, nghệ thuật hát kể sử thi Ot N’drông hàng vạn câu văn vần, cùng các lễ hội nông nghiệp tâm linh độc đáo gắn liền với rừng núi Tây Nguyên.

Thách thức lớn nhất mà hệ thống chính trị địa phương đối mặt trong quản lý văn hóa là gì? Thách thức lớn nhất là sự suy giảm thực hành tín ngưỡng dân gian khi có tới 532 hộ gia đình (chiếm 79,3% người M’Nông) chuyển sang theo đạo Thiên chúa và Tin lành. Bên cạnh đó, áp lực phát triển kinh tế thị trường khiến trang phục, nhà ở truyền thống bị mai một và ngân sách đầu tư cho bảo tồn còn rất khiêm tốn.

Già làng và người có uy tín đóng vai trò cụ thể nào trong việc giữ gìn bản sắc? Già làng là hạt nhân củng cố tính cộng đồng, giữ quyền phán xử theo luật tục và là cầu nối trực tiếp giữa 13 chi bộ, ban tự quản với nhân dân. Tiếng nói của già làng giúp tuyên truyền chủ trương của Đảng, ngăn chặn các biểu hiện biến tướng văn hóa và duy trì nếp sống đoàn kết trong bon làng.

Luận văn giải quyết vấn đề lai căng văn hóa trong tổ chức lễ hội bằng cách nào? Luận văn đề xuất chuẩn hóa quy trình phục dựng lễ hội dựa trên nghiên cứu nhân học, loại bỏ các chi tiết ngoại lai như rước kiệu hay âm nhạc điện tử hiện đại. Đồng thời, trao quyền kiểm duyệt kịch bản, trang phục mang màu xanh và đen nguyên bản cho các nghệ nhân dân gian và già làng tại địa phương.

Làm thế nào để gắn việc giữ gìn văn hóa với nâng cao đời sống kinh tế cho người M’Nông? Giải pháp tối ưu là phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại các bon như bon Nting, bon R’Bút gắn với danh thắng hồ thủy điện Đồng Nai 3 và 4. Khai thác thương mại các sản phẩm thủ công truyền thống như gùi tre, thổ cẩm và ẩm thực cơm lam, rượu cần giúp đồng bào nâng cao thu nhập ngay từ chính di sản văn hóa.

Kết luận

  • Khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc M’Nông với tính cộng đồng bền chặt, kho tàng sử thi Ot N’drông và không gian cồng chiêng là nguồn lực nội sinh vô giá cho sự phát triển của xã Quảng Sơn.
  • Chỉ rõ thực trạng đan xen giữa bảo tồn và biến đổi sâu sắc về tôn giáo (79,3% theo đạo mới), sự mai một các thiết chế vật thể và nguy cơ lai căng trong thực hành văn hóa dân gian.
  • Xác định hệ thống chính trị cấp cơ sở giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, định hướng và điều phối mọi nguồn lực trong sự nghiệp gìn giữ bản sắc tộc người.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện, mang tính hành động cao, kết hợp giữa nâng cao năng lực thể chế, phát huy vai trò già làng và gắn bảo tồn với sinh kế du lịch.
  • Đề ra lộ trình thực hiện từ năm 2018 đến năm 2025, định hướng chính quyền địa phương và các nhà khoa học tiếp tục ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý xã hội.

Hệ thống chính trị các cấp và cộng đồng xã hội cần chung tay triển khai ngay các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa độc đáo của người M’Nông, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập.