Tổng quan luận án

Công trình Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 62.05), do nghiên cứu sinh Lê Võ Thanh Lâm thực hiện tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2015. Công trình được triển khai dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Chí Mỹ và TS. Nguyễn Anh Quốc, cùng hội đồng phản biện gồm các nhà khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quang Điển, PGS.TS. Đặng Hữu Toàn và PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế.

Về tính cấp thiết, tác giả luận chứng rằng trong quá trình phát triển xã hội, văn hóa giữ vị trí nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội. Thực tiễn các nước phát triển cho thấy việc tăng trưởng kinh tế thuần túy bằng các biện pháp kỹ thuật mà tách rời môi trường văn hóa sẽ dẫn đến những biến đổi đột ngột trong cơ cấu xã hội, làm suy giảm quan hệ giữa con người với con người và gây mất cân đối nghiêm trọng. Nhận định này được củng cố bằng quan điểm của UNESCO trong "Thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa" (1988–1997) cũng như Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện.

Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, đây là đô thị trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của cả nước, được giao nhiệm vụ "phải đi trước và về đích trước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ đơn thuần là việc trang bị kỹ thuật - công nghệ hiện đại, mà là quá trình cải biến toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội lên trình độ tiên tiến. Để thực hiện nhiệm vụ đó, thành phố cần kết hợp nguồn lực vật chất với nguồn lực nội sinh văn hóa, trong đó các giá trị truyền thống hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò là động lực tinh thần căn bản. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: mặc dù có nhiều công trình bàn về văn hóa đô thị hoặc bản sắc dân tộc nói chung, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống và chuyên sâu từ góc độ triết học duy vật lịch sử về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chỉ ra các biểu hiện đặc thù của bản sắc này tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; xác định tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với tiến trình phát triển của thành phố; từ đó đánh giá thực trạng, xác định phương hướng và đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác lập 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản như sau:

  1. Trình bày, phân tích làm rõ quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; phân tích, luận giải về đặc điểm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, và vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
  2. Trình bày khái quát những điều kiện ảnh hưởng và những biểu hiện đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích, làm rõ vai trò và yêu cầu của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trình bày, phân tích chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua; từ đó đề ra các phương hướng và một số giải pháp cơ bản của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định rõ: tập trung vào hoạt động giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam tại không gian Thành phố Hồ Chí Minh trong khung thời gian tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn Đổi mới đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu được trích dẫn trong văn bản Nội dung trọng tâm đã đạt được
1. Lý luận chung về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và phát triển - Nước ngoài: E.B. Tylor (Primitive Culture, 1871); F. Perroux (Pour Une Philosophie du Nouveau Développement, cuối thập niên 1970); Acnônđốp A.I (Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin, 1991); V. Rôđin (Văn hóa học, 1998); Alvin Toffler & Heidi Toffler (Creating a New Civilization: The Politics of the Third Wave, 1995); Văn kiện UNESCO (1982, 1986).
- Trong nước: Viện Văn hóa (Tổng tập 1986); Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1986); Hoàng Trinh (1996, 2000); Trần Quốc Vượng (1998); Đỗ Huy (1990, 2005); Trần Ngọc Thêm (1997); Phan Ngọc (2002); Thành Duy (2006); Nguyễn Trọng Chuẩn & Phạm Văn Đức (2005); Ngô Đức Thịnh (2010); Phạm Thanh Hà (2011); Trần Chí Mỹ (2000); Đỗ Nam Liên (2001); Chu Thái Thành (2007); Đỗ Ngọc Anh & Đỗ Thị Minh Thúy (2013); Trần Thị Minh (2014).
Xác lập bản chất triết học của văn hóa dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phân định các khái niệm bản sắc, bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc; khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội.
2. Lịch sử - văn hóa Sài Gòn - TP.HCM và vai trò của văn hóa truyền thống - Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí, 1820).
- Ban liên lạc đồng hương TP. Sài Gòn (1971).
- Sơn Nam (Lịch sử khẩn hoang miền Nam, 2014 tái bản; Đất Gia Định - Bến Nghé xưa và người Sài Gòn, 2005).
- Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, 4 tập, 1987).
- Nguyễn Thế Nghĩa & Lê Hồng Liêm (2000).
- Phan Xuân Biên (2004, 2006).
- Kỷ yếu hội thảo Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ (2009).
- Tôn Nữ Quỳnh Trân (2010); Hồ Bá Thâm (2012); Doãn Chính (2013); Nguyễn Minh Hòa (2006–2008).
- Các hội thảo khoa học: 300 năm Sài Gòn - TP.HCM (1998), Văn hóa xã hội TP.HCM khi Việt Nam gia nhập WTO (2006), Văn hóa - động lực phát triển bền vững của TP.HCM (2007).
Phác họa tiến trình khai hoang, lập nghiệp, truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường; nhận diện các đặc trưng tính cách con người Nam Bộ và đô thị Sài Gòn - TP.HCM: năng động, phóng khoáng, trọng nghĩa tình, cởi mở tiếp nhận cái mới.
3. Tác động của phát triển kinh tế - xã hội đến văn hóa tại TP.HCM - Tôn Nữ Quỳnh Trân (Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa tại thành phố Hồ Chí Minh, 1999).
- Nguyễn Tấn Đắc (Đề tài cấp Bộ nhánh, 2000).
- Hoàng Như Mai (Đề tài Sở KHCN&MT TP.HCM, 2001).
- Trần Chí Mỹ (Luận án tiến sĩ, 2002).
- Nguyễn Văn Linh (Về công tác tư tưởng và văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, 1985).
- Báo cáo 160-BC/TU ngày 12/09/2013 của Thành ủy TP.HCM tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII.
- Các văn bản chỉ đạo của UBND TP.HCM và Sở Văn hóa - Thông tin (Chỉ thị 15-CT/TU năm 2003, các chỉ thị và báo cáo năm 2001, 2005, 2006).
Phân tích những biến đổi xã hội, sự mai một lối sống truyền thống trước áp lực đô thị hóa, mặt trái cơ chế thị trường; thực trạng quản lý các dịch vụ văn hóa, biểu diễn nghệ thuật và bài toán giữ gìn thuần phong mỹ tục.

Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đi trước đã cung cấp khối lượng tư liệu lịch sử, xã hội học và văn hóa học phong phú, nhưng phần lớn mới dừng lại ở từng lát cắt chuyên ngành riêng biệt (sử học, địa chí, xã hội học đô thị hoặc quản lý chuyên ngành). Chưa có công trình nào tiếp cận một cách chỉnh thể dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ hữu cơ biện chứng giữa việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại một đô thị đặc thù như Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó để xây dựng một hệ thống lý luận và thực tiễn đồng bộ, từ bản chất triết học đến việc đề xuất các nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa.

Về cơ sở khái niệm và khung lý thuyết:

  • Quan niệm về văn hóa: Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen coi lao động là hành vi văn hóa đầu tiên sáng tạo ra bản thân con người; văn hóa là trình độ phát triển của con người và xã hội biểu hiện qua hệ thống giá trị vật chất và tinh thần. Tác giả vận dụng định nghĩa văn hóa năm 1942 của Hồ Chí Minh (coi văn hóa là toàn bộ phương thức sinh hoạt cùng các biểu hiện của nó do con người sáng tạo nhằm thích ứng với nhu cầu sinh tồn) và định nghĩa trong Từ điển bách khoa Việt Nam: văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
  • Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc: Được phân tích trên cơ sở bóc tách từ tố "bản" (gốc rễ, cái cốt lõi), "sắc" (màu vẻ, dung mạo). Tác giả tiếp cận khái niệm "dân tộc" theo nghĩa quốc gia dân tộc (nation). Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống giá trị đặc sắc, cốt lõi, bền vững của một dân tộc, được kết tinh qua lịch sử đấu tranh và lao động thực tiễn lâu dài; vừa có tính ổn định tương đối vừa có tính khả biến, là "mật mã di truyền xã hội" liên kết cộng đồng, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa cái chung (tính nhân loại, khu vực) và cái riêng (tính đặc thù dân tộc).

Về phương pháp nghiên cứu: Do tính chất của một luận án triết học thuộc lĩnh vực nghiên cứu định tính và lý luận chính trị - xã hội, tác giả không sử dụng các mô hình định lượng hay phân tích thống kê toán học phức tạp mà tiếp cận liên ngành thông qua các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử - logic: Được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành hệ giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, cũng như quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ và lịch sử hơn 300 năm của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để phân tách các thuộc tính của bản sắc văn hóa, làm rõ từng biểu hiện đặc thù trong tính cách con người thành phố, đồng thời khái quát hóa thành các kết luận lý luận và hệ thống giải pháp.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Vận dụng để so sánh giữa các quan niệm văn hóa phương Đông và phương Tây, đối chiếu giữa giá trị truyền thống và yếu tố hiện đại, giữa tính phổ biến của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam với tính đặc thù tại đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp thống kê tư liệu: Thu thập, đối chiếu số liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước nhằm làm rõ thực trạng hoạt động văn hóa.

Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh năm 2011, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014).
  • Các văn kiện của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh: Báo cáo tổng kết số 160-BC/TU ngày 12/09/2013 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; Chỉ thị 15-CT/TU về "3 xây, 3 chống".
  • Các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân và Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh (các giai đoạn 2001–2005, 2006–2010).
  • Các bộ thư tịch cổ và tài liệu địa chí: Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh cùng các công trình khảo cứu chuyên sâu của các nhà nghiên cứu văn hóa, sử học Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chương 1 (từ trang 20 đến trang 75) giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nội dung chương chia làm 2 tiết lớn với các luận điểm chính:

Thứ nhất, tác giả khảo cứu lịch sử tư tưởng phương Đông và phương Tây về khái niệm văn hóa. Ở phương Đông, văn hóa trong thư tịch cổ Trung Hoa (quẻ Bí trong sách Chu Dịch, sách Tứ thư của Mạnh Tử) gắn liền với "văn trị", "giáo hóa", dùng vẻ đẹp đạo đức và lễ nhạc để cảm hóa con người. Ở phương Tây, thuật ngữ bắt nguồn từ chữ Latinh cultura, colere (ban đầu chỉ việc vun trồng nông nghiệp, sau phát triển thành cultus animi - vun trồng trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn theo Ciceron). Từ thế kỷ XVIII–XIX, khái niệm trở thành đối tượng khoa học với công trình của Pufendorf (1774) và E.B. Tylor (1871). Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1942), luận án khẳng định văn hóa là sản phẩm đặc thù của con người, bắt nguồn từ quá trình lao động xã hội hóa và hoàn thiện năng lực bản chất người.

Thứ hai, luận án xác lập cơ sở hình thành và hệ thống giá trị cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Cội nguồn bản sắc được quy định bởi:

  1. Môi trường tự nhiên và phương thức sinh hoạt kinh tế: Không gian sinh thái Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nông nghiệp lúa nước với lưu vực các con sông lớn (sông Hồng, sông Mã, sông Lam) gắn với các nền văn hóa cổ (Hòa Bình, Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo). Nền văn minh nông nghiệp lúa nước định hình nên kết cấu làng xã bền chặt, lối ứng xử coi trọng tình nghĩa, hòa hợp với tự nhiên.
  2. Thử thách chống thiên tai và ngoại xâm: Điều kiện thiên tai khắc nghiệt (lũ lụt, hạn hán) và vị trí địa lý "ngã tư đường" giao lưu quốc tế khiến dân tộc Việt Nam thường xuyên phải đối phó với nạn xâm lăng. Thực tiễn lịch sử này đã tôi luyện và đưa lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc và tinh thần đoàn kết cộng đồng lên vị trí giá trị cao nhất trong bảng giá trị văn hóa dân tộc.

Thứ ba, phân tích mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bản sắc văn hóa dân tộc. Tác giả làm rõ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Quá trình này không đơn thuần là thay đổi kỹ thuật mà làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế - xã hội. Bản sắc văn hóa dân tộc đóng vai trò là nền tảng tinh thần định hướng mục tiêu phát triển vì con người, là động lực thúc đẩy tính sáng tạo, đồng thời là bộ lọc nội sinh giúp tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại mà không bị hòa tan.

Chương 2: Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 2 (từ trang 76 đến trang 147) tập trung phân tích thực thể văn hóa Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, làm rõ những điều kiện khách quan quy định các sắc thái đặc thù của bản sắc dân tộc tại địa bàn này:

Về các điều kiện hình thành:

  • Bề dày lịch sử và tiến trình khai hoang: Lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển của vùng đất Gia Định – Bến Nghé. Cư dân Nam Bộ xưa là những lưu dân kiên cường, dũng cảm tiến vào vùng đất mới nhiều thú dữ, rừng rậm; điều này tôi luyện nên tính cách quyết đoán, dám chấp nhận thử thách, tính tự lực cao.
  • Vị trí địa lý và kinh tế đô thị: Là trung tâm đô hội sông nước, đầu mối giao thông thủy - bộ thuận lợi cho giao thương quốc tế. Sài Gòn nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại, giao lưu kinh tế lớn nhất miền Nam, sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hóa và các luồng tư tưởng phương Tây.
  • Đặc điểm dân cư và giao lưu văn hóa: Sự cộng cư hòa hợp giữa người Việt với các cộng đồng dân tộc Hoa, Chăm, Khmer cùng sự nhập cư liên tục của các tầng lớp cư dân từ khắp các miền Bắc, Trung. Tính chất hội tụ và tiếp biến văn hóa tạo cho thành phố môi trường văn hóa đa dạng, khoan dung và linh hoạt.
  • Truyền thống cách mạng: Vùng đất mang danh hiệu "Đất thép thành đồng", có lịch sử đấu tranh kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Về hệ thống các biểu hiện đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh:

  1. Lòng yêu nước nồng nàn và ý thức tự cường dân tộc: Thể hiện qua tinh thần xả thân vì độc lập, tự do, kiên cường bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh và tinh thần cống hiến xây dựng đất nước trong hòa bình.
  2. Tinh thần đoàn kết, tính cố kết cộng đồng kết hợp với tính mở: Mối liên kết "cá nhân – gia đình – làng nước" ở người dân thành phố không khép kín sau lũy tre làng như không gian nông thôn truyền thống mà mang tính chất cởi mở, tương trợ đô thị, sẵn sàng đón nhận người nhập cư.
  3. Lòng nhân ái, bao dung, trọng đạo lý và nghĩa tình: Nổi bật qua tính cách bộc trực, thẳng thắn, hào sảng, trọng nghĩa khinh tài, thể hiện đậm nét qua các phong trào cứu trợ, từ thiện xã hội.
  4. Tính cần cù, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm: Thể hiện rõ nét qua khả năng thích ứng linh hoạt với cơ chế thị trường, năng lực tìm tòi giải pháp mới trong sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội.
  5. Ứng xử phóng đạt, tế nhị và cởi mở tiếp thu cái mới: Tinh thần tiếp thu nhanh nhạy các trào lưu tiến bộ của thế giới nhưng vẫn giữ được chuẩn mực ứng xử trọng tình nghĩa.

Về vai trò của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tại địa phương: Tác giả nhấn mạnh Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế, có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh nhất cả nước. Việc phát huy các đặc trưng văn hóa trên chính là phát huy nguồn lực con người – nhân tố quyết định thành bại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời bảo đảm cho thành phố giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn sự tha hóa đạo đức do mặt trái kinh tế thị trường mang lại.

Chương 3: Thực trạng, phương hướng và giải pháp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 3 (từ trang 148 đến trang 215) đánh giá thực tiễn đời sống văn hóa thành phố và đề ra các giải pháp can thiệp chính sách cụ thể:

Đánh giá thực trạng:

  • Mặt tích cực: Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (theo Báo cáo số 160-BC/TU của Thành ủy), các cấp ủy đảng và chính quyền thành phố đã đạt nhiều kết quả: bảo tồn và trùng tu hệ thống di tích lịch sử - văn hóa; phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" lan tỏa sâu rộng; phong trào "đền ơn đáp nghĩa", xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội phát triển mạnh mẽ; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng cao; hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế mở rộng.
  • Hạn chế và nguy cơ: Mặt trái của nền kinh tế thị trường và lối sống thực dụng tác động tiêu cực đến một bộ phận cư dân, đặc biệt là giới trẻ. Xuất hiện tình trạng phai nhạt lý tưởng, tôn sùng đồng tiền, suy giảm đạo đức gia đình; tệ nạn xã hội (ma túy, cờ bạc, mại dâm) diễn biến phức tạp. Sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa ngoại lai độc hại, thiếu lành mạnh qua không gian mạng và các dịch vụ văn hóa biến tướng. Công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa, biểu diễn nghệ thuật còn lỏng lẻo, bất cập; hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở phân bổ không đồng đều giữa khu vực nội thành và các huyện ngoại thành.
  • Nguyên nhân: Tốc độ đô thị hóa quá nhanh kéo theo làn sóng di dân cơ học lớn, làm biến đổi cấu trúc gia đình và quan hệ xóm giềng truyền thống; nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vai trò của văn hóa chưa đầy đủ, còn thiên về tăng trưởng kinh tế thuần túy; chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hóa chưa đủ sức răn đe; cơ sở vật chất và kinh phí đầu tư cho văn hóa còn hạn chế so với nhu cầu thực tế.

Phương hướng cơ bản:

  • Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm riêng của Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố truyền thống và hiện đại; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hướng đến mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh "văn minh, hiện đại, nghĩa tình".
  • Bảo đảm văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Hệ thống 5 nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân: Quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng về văn hóa; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ qua trường học, đoàn thể và truyền thông đại chúng.
  2. Xây dựng và thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách phát triển văn hóa: Thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành các chương trình hành động cụ thể; kết hợp hài hòa giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển văn hóa; thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa lành mạnh gắn liền với việc kiểm soát định hướng chính trị - tư tưởng.
  3. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, quản lý nhà nước về văn hóa: Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động dịch vụ văn hóa, xuất bản, biểu diễn nghệ thuật, quảng cáo; kiên quyết thanh tra, kiểm tra và ngăn chặn các sản phẩm văn hóa độc hại, đồi trụy, lai căng; thực hiện tốt cuộc vận động tu dưỡng đạo đức theo tinh thần Chỉ thị 15-CT/TU ("3 xây, 3 chống").
  4. Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa: Bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý văn hóa từ cấp thành phố đến cơ sở; có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để thu hút và giữ chân đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân văn hóa dân gian.
  5. Hoàn thiện các thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất - kỹ thuật: Quy hoạch mạng lưới nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, khu vui chơi giải trí đồng bộ; ưu tiên đầu tư ngân sách cho các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và nhân dân các huyện ngoại thành; bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc dưới góc độ triết học Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam; luận giải vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc như một nguồn lực nội sinh, một yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Làm rõ tính thống nhất và tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam tại không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; luận chứng khoa học về sự hình thành các phẩm chất văn hóa đặc trưng (lòng yêu nước, tính cố kết cộng đồng mở, lòng nhân ái nghĩa tình, tính năng động sáng tạo và phong cách ứng xử phóng đạt) dựa trên các điều kiện địa lý, lịch sử khẩn hoang, đặc điểm cư dân và truyền thống cách mạng của địa phương.

Về mặt thực tiễn:

  • Đã phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; chỉ rõ những thành tựu đạt được cùng các nguy cơ, hạn chế và nguyên nhân thực tế.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ (từ nhận thức, cơ chế chính sách, quản lý nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ đến hoàn thiện hệ thống thiết chế vật chất) có giá trị thực tiễn, đóng góp trực tiếp cho Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển văn hóa - xã hội hài hòa với tăng trưởng kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án tiếp cận chủ yếu theo phương pháp luận triết học duy vật lịch sử, khai thác các tài liệu lưu trữ, văn kiện chỉ đạo chính trị và các báo cáo tổng kết hành chính, do đó số liệu thực tiễn phản ánh bối cảnh đến mốc thời gian năm 2015.
  • Chưa triển khai các đợt điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn trên các nhóm mẫu cụ thể (như công nhân tại các khu công nghiệp tập trung hoặc thanh niên nhập cư) để đo lường mức độ biến đổi các chỉ số văn hóa bằng các công cụ thực nghiệm.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp tục theo dõi sự biến đổi của bản sắc văn hóa đô thị trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt là dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình chuyển đổi số và truyền thông đa phương tiện.
  • Cần có các nghiên cứu liên ngành chuyên sâu về sự tích hợp của các giá trị văn hóa nghĩa tình truyền thống vào việc xây dựng văn hóa công vụ và văn hóa doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp khung lý thuyết hệ thống về bản sắc văn hóa dân tộc theo quan điểm triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các chương 1 và chương 2 đặc biệt có giá trị tham khảo cho các chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), Văn hóa học, Xã hội học và Lịch sử Đảng.
  • Các cơ quan lãnh đạo, quản lý văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Ban Tuyên giáo Thành ủy, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Văn hóa - Thông tin các quận, huyện trong việc xây dựng kế hoạch hành động, thẩm định các chương trình phát triển văn hóa đô thị và củng cố thiết chế văn hóa cơ sở.
  • Người làm công tác giáo dục và đoàn thể: Các phân tích về tính cách đặc thù của con người Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là nguồn tư liệu tốt để thiết kế chương trình giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ tại các trường học và tổ chức Đoàn thanh niên trên địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống những giá trị văn hóa đặc sắc, bền vững nhất, tinh túy nhất của một dân tộc, được sáng tạo và kết tinh trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh và lao động thực tiễn lâu dài; làm cho dân tộc đó hiện ra với những nét độc đáo và phân biệt với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa dân tộc vừa có tính ổn định tương đối vừa có tính khả biến, thể hiện sự kết hợp biện chứng giữa cái riêng của dân tộc với những giá trị phổ quát của nhân loại đã được tiếp biến.

2. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh có những biểu hiện đặc thù nào?
Luận án xác định 5 biểu hiện đặc thù được hun đúc từ lịch sử khẩn hoang và truyền thống đấu tranh cách mạng: (1) Lòng yêu nước nồng nàn gắn liền với ý thức tự cường dân tộc; (2) Tinh thần đoàn kết, tính cố kết cộng đồng cá nhân – gia đình – làng nước kết hợp tính mở linh hoạt của cư dân đô thị; (3) Lòng nhân ái, bao dung, trọng đạo lý, nghĩa tình, hào sảng; (4) Tính cần cù, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm; (5) Phong cách ứng xử phóng đạt, tế nhị và cởi mở tiếp thu cái mới.

3. Tại sao giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa không thể thành công nếu chỉ dựa vào vốn và công nghệ nhập khẩu mà phải dựa vào nguồn lực nội sinh con người. Các giá trị văn hóa truyền thống như lòng yêu nước, tính cần cù, năng động, sáng tạo và tinh thần nghĩa hiệp của người dân thành phố chính là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, tạo ra năng suất và hiệu quả lao động cao; đồng thời các chuẩn mực đạo lý dân tộc đóng vai trò là "bộ lọc" giúp ngăn ngừa sự suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng do mặt trái kinh tế thị trường gây ra.

4. Luận án chỉ ra những mặt hạn chế lớn nhất trong đời sống văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn nghiên cứu là gì?
Hạn chế lớn nhất là sự phai nhạt lý tưởng và bản sắc văn hóa dân tộc ở một bộ phận thanh niên; lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền làm rạn nứt quan hệ gia đình truyền thống; sự gia tăng của các tệ nạn xã hội; sự xâm nhập của các ấn phẩm, sản phẩm văn hóa độc hại, lai căng từ bên ngoài; sự bất cập trong công tác quản lý dịch vụ văn hóa và tình trạng thiếu hụt, chênh lệch thiết chế văn hóa giữa nội thành và ngoại thành.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về vai trò của bản sắc văn hóa; (2) Hoàn thiện và thực thi hiệu quả các chủ trương, chính sách phát triển văn hóa; (3) Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động và dịch vụ văn hóa; (4) Chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa; (5) Đầu tư hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa và phương tiện vật chất - kỹ thuật.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Võ Thanh Lâm là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích một cách chỉnh thể vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp lịch sử và logic, tác giả đã làm rõ các biểu hiện đặc thù trong cốt cách con người Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, tiến trình khẩn hoang và truyền thống cách mạng kiên cường. Những đánh giá khách quan về thực trạng đời sống văn hóa đô thị cùng hệ thống 5 nhóm giải pháp cơ bản được đề xuất trong luận án đã cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho công tác quản lý và hoạch định chính sách phát triển văn hóa bền vững tại địa phương.