CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1. NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1. Những khái niệm cơ bản a. Khái niệm về nghề và ngành nghề nông thôn * Khái niệm về nghề Nghề là một lĩnh vực hoạt ñộng lao ñộng mà trong ñó, nhờ ñược ñào tạo, con người có ñược những tri thức, những kỹ năng ñể làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào ñó, ñáp ứng ñược những nhu cầu của xã hội.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, những chuyên môn có những ñặc ñiểm chung, gần giống nhau ñược xếp thành một nhóm chuyên môn và ñược gọi là nghề. Chuyên môn là một dạng lao ñộng ñặc biệt, mà qua ñó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình ñể tác ñộng vào những ñối tượng cụ thể nhằm biến ñổi những ñối tượng ñó theo hướng phục vụ mục ñích, yêu cầu và lợi ích của con người. Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống ñó là “Thế giới nghề nghiệp”. Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác.
Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến ñộng do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề cũ mất ñi hoặc thay ñổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng ña dạng hóa. - Hệ thống ngành nghề trong nền kinh tế ñịa phương, quốc gia theo quyết ñịnh số 10/2007/Qð-TTg ngày 23 tháng 1 năm 2007 của thủ tướng Luan van 12 chính phủ về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, thì hiện nay hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam gồm 5 cấp và ñược phân thành các nhóm cơ bản sau ñây: Nông – lâm – ngư nghiệp và thủy sản; Khai khoáng; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất và phân phối ñiện, khí ñốt, nước nóng, hơi nước và ñiều hòa không khí; cung cấp nước, hoạt ñộng quản lý và xử lý nước thải, rác thải; Xây dựng; Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có ñộng cơ khác; Vận tải kho bãi; Dịch vụ lưu trú và ăn uống; Thông tin và truyền thông; Hoạt ñộng tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; Hoạt ñộng kinh doanh bất ñộng sản; Hoạt ñộng chuyên môn khoa học và công nghệ; Hoạt ñộng hành chính và dịch vụ hỗ trợ; Hoạt ñộng của ðảng cộng sản, tổ chức chính trị-xã hội,quản lý nhà nước,an ninh quốc phòng, bảo ñảm xã hội bắt buộc; Giáo dục và ñào tạo; Y tế và hoạt ñộng trợ giúp xã hội; Nghệ thuật vui chơi giải trí; Hoạt ñộng dịch vụ khác; Hoạt ñộng làm thuê các công việc trong các hộ gia ñình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của các hộ gia ñình; Hoạt ñộng của các tổ chức và cơ quan quốc tế.
* Khái niệm về ngành nghề nông thôn Theo nghị ñịnh 66/2006/Nð-CP ngày 07 tháng 07 năm 2006 của Chính phủ thì ngành nghề nông thôn ñược hiểu là những hoạt ñộng kinh tế phi nông nghiệp (bao gồm: Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; Sản xuất vật liệu xây dựng, ñồ gỗ, mây tre ñan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh; Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất, ñời sống dân cư nông thôn; Tổ chức ñào tạo nghề, truyền nghề, tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn) với các thành phần kinh tế như: hộ gia ñình, hộ sản xuất và các tổ chức kinh tế khác (hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần.) các cơ sở này với Luan van 13 mức ñộ khác nhau ñều gắn kết mật thiết với nông thôn và sử dụng các nguồn lực của nông thôn: ñất ñai, lao ñộng, nguyên liệu. và ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Ngành nghề nông thôn có những ñặc ñiểm sau: - Là những hoạt ñộng sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn. - Sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệp, thủ công kết hợp với nửa cơ khí có sự thống nhất và hòa ñồng giữa công nghiệp phát triển thành thị với TTCN ở nông thôn.
- Lao ñộng nông nghiệp và nghành nghề TTCN gắn kết chặt chẽ với nhau: nông dân vừa làm nông nghiệp vừa tranh thủ làm TTCN và ngành nghề TTCN mặc dù tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn. - Công cụ và kỹ thuật sản xuất thường thủ công và sản phẩm sản xuất ra mang tính ñơn chiếc. - Sản phẩm có tính hàng hóa cao. Tóm lại, ngành nghề TTCN nông thôn ñược hình thành là kết quả của quá trình lao ñộng lâu dài ở nông thôn.
Nó tồn tại ñan xen, tương hỗ với các nghề khác, nhất là nghề nông trong quá trình phát triển nông thôn, ñặc biệt là trong quá trình ñô thị hóa ñang diễn ra nhanh. Ngành nghề thủ công mỹ nghệ + Ngành nghề thủ công truyền thống Ngành nghề thủ công (NNTC) nước ta vốn có truyền thống lâu ñời gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và ñược biểu hiện bằng những sản phẩm thủ công truyền thống. Có nhiều tên gọi khác nhau ñể chỉ ngành nghề (NN) thủ công truyền thống (TCTT) ở nước ta: Nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công. Hiện nay, các số liệu thống kê chính thức hàng năm vẫn chưa có một mục chuyên về sản xuất thủ công truyền thống mà gộp các ngành nghề này vào nhóm “ Tiểu công nghiệp-thủ công nghiệp”, “Sản xuất hộ Luan van 14 gia ñình phi nông nghiệp”.
Vấn ñề ñặt ra hiện nay là phải thống nhất tiêu chí xác ñịnh ngành nghề truyền thống ñể làm cơ sở thực hiện các chính sách bảo tồn, phát triển và ñịnh hướng chiến lược phù hợp. Các nhà nghiên cứu ñề xuất một số yếu tố cấu thành của ngành nghề TCTT ñó là: + ðã hình thành, tồn tại và phát triển lâu ñời ở nước ta; + Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề; + Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và ñội ngũ thợ lành nghề; + Kỹ thuật và công nghệ khá ổn ñịnh của dân tộc Việt nam; + Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất; + Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng ñồng; có ñóng góp ñáng kể về kinh tế vào ngân sách nhà nước. Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị ñịnh số 66/2006/Nð-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn: Nghề truyền thống là nghề ñược hình thành từ lâu ñời, tạo ra những sản phẩm ñộc ñáo, có tính riêng biệt, ñược lưu truyền và phát triển ñến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một thất truyền. Tiêu chí công nhận ngành nghề thủ công truyền thống: - Nghề ñã xuất hiện tại ñịa phương từ trên 50 năm tính ñến thời ñiểm ñề nghị công nhận; - Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
+ Ngành nghề thủ công mỹ nghệ: Ngành nghề thủ công mỹ nghệ là một bộ phận quan trọng của ngành Luan van 15 nghề thủ công truyền thống. Sản phẩm của ngành nghề thủ công mỹ nghệ là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật-công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo với ñầu óc sáng tạo nghệ thuật. Ngành nghề thủ công mỹ nghệ có những ñặc thù nhất ñịnh, ñó là: - Sản phẩm tiêu biểu và ñộc ñáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam. - Chính yếu tố nghệ thuật, văn hoá tinh thần kết tinh trong văn hoá vật thể là một ñặc thù hết sức quan trọng của hàng thủ công mỹ nghệ.
- Sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân và thợ thủ công ñể tạo ra hàng thủ công mỹ nghệ ñã kéo theo những ñặc thù khác trong sự phát triển của ngành nghề TCMN và ñược xem như là những tiêu chí của ngành nghề này: Tính riêng, ñơn chiếc mạnh hơn tính ñồng loạt; Mang tính trường phái, gia tộc, giữ bí quyết trong sáng tạo hơn là sự phổ cập, phổ biến rộng rãi; ðầy chất trí tuệ, tri thức tích tụ lâu ñời. + Làng nghề truyền thống, làng nghề thủ công mỹ nghệ: - Làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là “làng”và “nghề” ñược hình thành dựa trên cơ sở tập hợp những gia ñình nhỏ trong một không gian nhất ñịnh ñể sản xuất và sinh hoạt ñộc lập. Làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi nông nghiệp, các ngành nghề thủ công ở trong các thôn làng. Khi phân loại làng nghề, ta thấy có làng một nghề và có làng nhiều nghề, có làng nghề truyền thống và làng nghề mới.
- Làng nghề truyền thống (LNTT) là những làng nghề xuất hiện từ lâu ñời trong lịch sử và còn tồn tại ñến ngày nay, là những làng nghề ñã tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm. - Làng nghề truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, có phần lớn bộ phận dân số làm nghề cổ truyền, là nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều Luan van 16 hộ gia ñình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu ñời kiểu cha truyền con nối, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề. Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, ñào tạo thợ trẻ giữa các gia ñình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình hình thành, phát triển nghề nghiệp ñã hình thành LNTT ngay trên làng xóm của họ. Về mặt ñịnh lượng, có thể hiểu làng nghề có từ 35 - 40% số hộ trở lên chuyên làm nghề, giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của ñịa phương.