Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN BẢN BON, XÃ MƯỜNG CHIÊN, HUYỆN QUỲNH NHAI (SƠN LA) VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ 1. Di sản văn hóa Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “di sản” được hiểu là: giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại. Di sản văn hóa (DSVH) theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di sản: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị [68, tr.
Như vậy, di sản văn hóa là tài sản có giá trị do các thế hệ trước để lại, có vai trò quan trọng trong diễn trình văn hóa của mỗi quốc gia, nhân loại. Để hiểu được bản chất của di sản văn hóa, cần làm rõ khái niệm văn hóa trong phạm vi của lĩnh vực liên quan đến di sản văn hóa. Với quan niệm chung khá rộng của văn hóa khi cho rằng văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Như khái niệm trên, sẽ có rất nhiều sản phẩm sáng tạo của con người nhưng không thể đưa vào khái niệm di sản văn hóa.
Cũng chính lí do này mà nhiều quốc gia đã đưa ra những khái niệm về di sản văn hóa tương đối cụ thể, trong đó khái niệm về di sản văn hóa của Nhật bản là một điển hình. Người nhật cho rằng: Những nhà cửa, các tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc, những tác phẩm nghệ thuật thực dụng, những công trình có khắc chữ, các pho sách cổ điển, những tài liệu cổ và những sản phẩm văn hóa vật thể khác đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuật cao của đất nước: bao gồm những khu vực đất đai và những vật liệu khác, gắn bó với nhau chặt chẽ và được đóng góp một giá trị tương ứng, những mẫu vật khảo cổ và những hiện 13 vật lịch sử khác có giá trị khoa học được gọi là di sản vật chất. Nghệ thuật và kĩ thuật sử dụng trong sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật chất khác, đều cho đất nước một giá trị lịch sử, nghệ thuật được gọi là di sản văn hóa phi vật chất. Trong Luật Di sản văn hóa của Việt Nam, tại điều 1, cũng nêu rõ khái niệm của di sản văn hóa, đó là: Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [38, tr.
Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được thông qua bởi Đại hội đồng UNESCO ngày 16 tháng 11 năm 1972, xác định di sản văn hóa ở tầm thế giới gồm: Các di tích: Các tác phẩm cấu trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Các quần thể: Các nhóm công trình đứng một mình hoặc quần tự có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật, hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan. Các thắng cảnh: Các công trình của con người hay công trình của con người kết hợp với tự nhiên, cũng như các khu vực kể cả di chỉ 14 khảo cổ học có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [62].
Dù là quan điểm của mỗi quốc gia hay quan điểm chung đã được thông qua bằng công ước về di sản thế giới có khác nhau nhưng di sản văn hóa vẫn có những đặc điểm chính như: Tính biểu trưng, tính lịch sử với những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh ra chúng, tính truyền thống, tính nhạy cảm. Như vậy, khái niệm di sản văn hóa có thể hiểu là tổng thể những giá trị vật thể và phi vật thể được hình thành, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được các thế hệ sau tiến hành bảo tồn, phát huy những bản sắc riêng nhằm đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện tại. Di sản riêng và ký ức tập thể của mỗi địa vực hoặc cộng đồng là không gì thay thế được và là một nền tảng quan trọng cho phát triển, hôm nay và mai sau. Quản lý Theo Nguyễn Thịnh, trong cuốn “Di sản văn hóa Việt Nam bản sắc và những vấn đề quản lý, bảo tồn” có nêu: Trong xã hội hiện đại, người ta cho rằng có 3 trụ cột lớn chống đỡ xã hội là: Quản lý - Khoa học - Kỹ thuật.
Từ ý nghĩa trên, quản lý quyết định một xã hội, sự thành bại hưng suy của đơn vị. Mặt bằng quản lý một di sản văn hóa cao thấp, giỏi kém, đồng dạng tiền đồ và vận mệnh của di sản đó. Chỉ có thực hành khoa học quản lý, mới có thể làm cho các hạng mục của di sản văn hóa có trật tự, khiến các nhân viên mới “đắc kỳ sở”, mới làm cho di sản văn hóa phát huy hiệu ích xã hội, phục vụ kiến thiết tinh thần văn minh xã hội [53]. Ngày nay, quản lý học với việc quản lý di sản văn hóa có quan hệ mật thiết với nhau.
Quản lý học đảm bảo việc vận hành các quy luật, giúp nghiên cứu các mối quan hệ, các khâu đồng bộ và trình tự. Quản lý học nghiên cứu 15 chức năng các bộ phận, nghiên cứu các trách nhiệm ở mỗi cương vị để đề ra nguyên tắc hoạt động tốt nhất. Có rất nhiều khái niệm về quản lý nhưng chủ yếu tập trung vào hai vấn đề cơ bản: Quản lý là một hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý tác động lên đổi tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quả cao.
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức. Đối tượng quản lý cũng có thể là một cá nhân hay một nhóm người, cộng đồng người hay một tổ chức nhất định. Quản lý là một quá trình liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành. * Quản lý trực tiếp di sản văn hóa Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch có đề cập: Xuất phát từ yêu cầu và tình hình thực tế của công tác quản lý di sản văn hóa ở nước ta trong những năm qua, có thể đưa ra khái niệm quản lý di sản văn hóa sau đây: Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hóa đó [31].
Quản lý trực tiếp di sản văn hóa là dạng quản lý của các chủ thể quản lý dựa vào hệ thống pháp luật nhà nước, dựa vào sự hướng dẫn của cơ quan quản lý hành chính nhà nước để hiện thực hóa vào từng loại hình di sản cụ thể. Loại hình quản lý này mang tính chất dân sự, đề cao vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dưới hình thức tự quản. * Tự quản của cộng đồng về di sản văn hóa 16 Vai trò của cộng đồng đối với di sản văn hóa là hết sức quan trọng, PGS.TS Đặng Văn Bài cho rằng: Di sản văn hóa phải được bảo vệ trên nguyên tắc dựa hẳn vào cộng đồng, phát huy tính tự quản, tự giác và chủ động của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; thông qua các tổ chức quần chúng tự nguyện để giữ gìn, phát huy di sản văn hóa cũng như phát triển cộng đồng; giáo dục về nhận thức, niềm tin, định hướng giá trị, tinh thần vì cộng đồng để tạo ra sự đồng thuận xã hội - cơ sở của việc đoàn kết và liên kết xã hội; xử lý hài hòa lợi ích và trách nhiệm giữa cá nhân và cộng đồng, giữa các cơ quan quản lý di sản văn hóa, các nhà khoa học, các doanh nghiệp và cộng đồng [21]. Di sản văn hóa không thể đứng ngoài sinh hoạt của cộng đồng hoặc đứng ngoài không gian văn hóa của nó.
Việc bảo tồn di sản văn hóa có sự tham gia của cộng đồng, dựa vào cộng đồng và vì cộng đồng là hình thức quản lý hiệu quả để lưu giữ và phát huy giá trị các di sản văn hóa mà cộng đồng nắm giữ. Hình thức quản lý của cộng đồng dựa trên sự đồng thuận tự nguyện của người dân, cộng đồng hiểu rõ nhất về bản sắc văn hóa của họ và có quyền trước hết trong việc quyết định lựa chọn đối tượng văn hóa mà họ muốn bảo tồn. Cộng đồng cần tự nhận thức được vai trò quan trọng của chính mình, đồng thời được khuyến khích trong vấn đề lưu truyền, gìn giữ các di sản văn hóa thì vai trò tự quản của cộng đồng sẽ phát huy được hết tác dụng. * Một số nguyên tắc quản lý di sản văn hóa Nguyên tắc quản lý nhà nhức về văn hóa là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực Văn hóa – Thông tin theo một thể thống nhất.