Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu ở Quảng Nam" được tác giả Nguyễn Văn Dũng thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Hương và PGS. Nguyễn Phong Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Người Cơ Tu là tộc người thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer (ngữ hệ Nam Á). Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân số người Cơ Tu trên toàn quốc là 74.173 người; trong đó tập trung đông nhất tại tỉnh Quảng Nam với 55.091 người (chiếm 9,4% dân số toàn tỉnh, đứng thứ hai sau người Kinh). Nghi lễ vòng đời người được xem là môi trường bảo lưu vốn văn hóa truyền thống, kinh nghiệm và tri thức tộc người, đồng thời thể hiện tính cố kết cộng đồng và gia đình.
Trước tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và giao lưu tiếp biến văn hóa, các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và nghi lễ vòng đời người Cơ Tu tại Quảng Nam nói riêng đang đứng trước nguy cơ mai một và biến đổi nhanh chóng. Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận văn hóa Cơ Tu ở từng khía cạnh riêng lẻ (nhà gươl, trang phục, nghề dệt, cột xơnur, luật tục hoặc hôn nhân) hoặc dừng lại ở mức miêu thuật sơ lược các giai đoạn đời người. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về nghi lễ vòng đời người Cơ Tu từ truyền thống đến biến đổi, phân tích nguyên nhân, xác định đặc điểm, giá trị văn hóa và đề xuất giải pháp bảo tồn trong bối cảnh đương đại.
Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu nghi lễ vòng đời người, luận án làm rõ các khía cạnh: hiện trạng, sự biến đổi, đặc trưng và giá trị văn hóa của nghi lễ vòng đời người Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam, từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho công tác nghiên cứu và quản lý văn hóa.
Câu hỏi nghiên cứu
- Chu kỳ vòng đời người truyền thống của dân tộc Cơ Tu gồm những nghi lễ gì?
- Các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời người Cơ Tu tại Quảng Nam biến đổi như thế nào và nguyên nhân biến đổi là gì?
- Những đặc điểm, giá trị và xu hướng biến đổi trong chu kỳ vòng đời người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam diễn ra ra sao?
Giả thuyết nghiên cứu
- Nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam gắn liền với sự thay đổi từng giai đoạn của một đời người. Sau mỗi nghi lễ, vai trò, vị thế, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân có sự thay đổi.
- Nghi lễ đời người là yếu tố góp phần gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống, hình thành chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng; đồng thời có xu hướng biến đổi do tác động của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam từ truyền thống đến hiện tại, tập trung vào các nghi lễ tồn tại thực tế: sinh đẻ, đặt tên, trưởng thành, hôn nhân và tang ma.
- Phạm vi nội dung: Khảo tả nghi lễ vòng đời truyền thống; phân tích thực trạng biến đổi và dự báo xu hướng; nhận diện các giá trị văn hóa đặc trưng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn ba huyện miền núi tỉnh Quảng Nam gồm Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang. Luận án có mở rộng so sánh với cộng đồng người Cơ Tu tại huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng), huyện A Lưới và huyện Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên Huế).
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2022, kết hợp so sánh đối chiếu giữa giai đoạn trước và sau mốc đổi mới năm 1986.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm chuyên đề:
Các công trình lý luận về nghi lễ và nghi lễ chuyển tiếp
- Tác giả quốc tế: Schultz và Lavenda (cuốn Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh) xác định 4 yếu tố cơ bản của nghi lễ; Arnold van Gennep (1960/2002) với tác phẩm kinh điển The Rites of Passage thiết lập mô hình cấu trúc ba giai đoạn: nghi thức phân ly (trước ngưỡng), nghi thức chuyển tiếp (trong ngưỡng) và nghi thức hội nhập (sau ngưỡng); Victor W. Turner (1969) trong The Liminal Period in the Rite de Passage đi sâu vào trạng thái ngưỡng để giải mã cấu trúc và tiến trình xã hội.
- Tác giả trong nước: Lê Trung Vũ cùng nhóm nghiên cứu (2000, 2007) trong Nghi lễ vòng đời người phân tích các nghi lễ gắn liền đời sống tâm linh và vai trò cá nhân; Ngô Đức Thịnh (2001) trong Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam luận giải nghi lễ vòng đời như phương thức ứng xử giữa cộng đồng với cá nhân và giới tự nhiên; Trương Thìn (2010) hệ thống hóa các chặng đường đời người từ phôi thai đến khi qua đời.
Các công trình về nghi lễ vòng đời các tộc người tại Việt Nam
Nhiều công trình đã khảo sát nghi lễ vòng đời của các dân tộc: người Khmer (Trần Văn Bổn, 2002; Võ Thành Hùng, 2011), các tộc người Tây Nguyên như Gia Rai, Ba Na, Ê Đê (Ngô Đức Thịnh, 2006), người M’nông (Trương Bi, 2006), người Chăm Ahiêr (Phan Quốc Anh, 2010), người Mường (Nguyễn Thị Song Hà, 2011), người Dao (Nguyễn Thị Thu Hà, 2016; Vũ Thị Uyên, 2019), người Thái (Lò Xuân Dừa, 2016; Lê Hải Đăng, 2016), người Chứt (Nguyễn Văn Mạnh, 2013). Các nghiên cứu này cung cấp cơ sở đối sánh về loại hình nghi lễ vòng đời giữa các tộc người.
Các công trình nghiên cứu về người Cơ Tu
- Nguồn tài liệu lịch sử: Sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An (1555), Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (1776), Đại Nam nhất thống chí (1910) ghi chép sơ lược về địa bàn cư trú, tập tục canh tác và thờ cúng.
- Nghiên cứu của học giả nước ngoài: Le Pichon (1938) với Les chasseurs de Sang miêu tả sơ khởi về đời sống, ma chay, tập tục; Nancy A. Costello (1972, 1980, 1993) với các công trình Death and burial in Katu culture, Katu folktales and society; R. Mole (1970); David Thomas và R. Headley (1970, 1973); Kaj Århem (2015, 2016) nghiên cứu về vũ trụ luận, thuyết vật linh và nghi thức hiến tế săn bắn.
- Nghiên cứu của học giả trong nước: Về luật tục (Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, 2001; Tạ Đức, 2002; Bùi Quang Thanh, 2015); về biểu tượng kiến trúc nhà gươl, cột xơnur, nhà mồ (Nguyễn Hữu Thông, 2000; Đinh Hồng Hải, 2003, 2011; Trần Tấn Vịnh, 2005, 2009; Trần Đức Sáng, 2007; Lê Anh Tuấn, 2017); về tổ chức xã hội làng (Lưu Hùng, 1973, 2006; Đặng Nghiêm Vạn, 2005; Trần Thị Mai An, 2013); về hôn nhân và gia đình (Khổng Diễn, 1974; Lưu Hùng, 1995; Phạm Quang Hoan, 2005; Phạm Thị Xuân Bốn, 2007; Đặng Thị Quốc Anh Đào, 2017).
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các công trình về người Cơ Tu trước đây chủ yếu khảo tả diện mạo văn hóa vật chất hoặc từng phong tục riêng lẻ. Luận án này định vị là công trình chuyên khảo đầu tiên trong ngành Văn hóa học nghiên cứu một cách chỉnh thể, có hệ thống về toàn bộ chu kỳ nghi lễ đời người Cơ Tu tại Quảng Nam từ góc độ cấu trúc - chức năng và biến đổi văn hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
- Khái niệm công cụ: Luận án thao tác hóa các khái niệm "Nghi lễ" (dựa trên quan điểm của E.B. Tylor, J. Cazeneuve, Radugin.A, E. Durkheim, V. Turner, Đặng Nghiêm Vạn), "Nghi lễ vòng đời người" (tiếp cận theo A. van Gennep, Ngô Đức Thịnh, Lê Trung Vũ) và "Phong tục tập quán".
- Lý thuyết nghiên cứu:
- Lý thuyết nghi thức chuyển tiếp (The Rites of Passage) của Arnold van Gennep và Victor Turner: Dùng để phân tích ba trạng thái (tách biệt, ngưỡng/chuyển tiếp, tái hội nhập) và sự thay đổi vị thế xã hội của cá nhân qua từng nghi lễ sinh đẻ, trưởng thành, hôn nhân và tang ma.
- Thuyết cấu trúc - chức năng: Tiếp cận theo quan điểm của Talcott Parsons (mô hình 4 chức năng AGIL: Thích ứng - Adaptation, Hướng đích - Goal Attainment, Liên kết - Integration, Duy trì khuôn mẫu - Latent Pattern Maintenance) và A.R. Radcliffe-Brown nhằm nhìn nhận hệ thống nghi lễ như một tiểu hệ thống văn hóa thực hiện chức năng duy trì trật tự xã hội truyền thống của người Cơ Tu.
- Quan điểm về biến đổi văn hóa (Cultural change): Dựa trên lý thuyết của E.B. Tylor, L.H. Morgan và Robert H. Winthrop để phân tích các yếu tố nội sinh và ngoại sinh tác động đến sự thay đổi hình thức, nội dung nghi lễ từ năm 1986 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học, kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian: Thu thập, giải mã các biểu tượng tín ngưỡng, phong tục, bài hát lý, khóc lý liên quan đến vòng đời.
- Phương pháp định tính:
- Quan sát tham dự: Trực tiếp tham dự các nghi lễ: cúng hết ở cữ, đầy tháng, đầy năm, lễ cưới, lễ tang, lễ đâm trâu tại địa bàn cư trú.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn già làng, nghệ nhân, trưởng thôn, người dân am hiểu phong tục từ 40 tuổi trở lên.
- Phỏng vấn hồi cố: Thực hiện với các đối tượng già làng, thầy cúng, nghệ nhân từ 60 tuổi trở lên để tái hiện nghi lễ truyền thống trước năm 1986.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi ý kiến với các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học và cán bộ quản lý văn hóa người Cơ Tu (độ tuổi từ 45 đến 70 tuổi).
- Phương pháp định lượng:
- Chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu theo phán đoán) gồm các cá nhân am hiểu phong tục tập quán tại 3 huyện Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang.
- Quy mô khảo sát: Phát phiếu điều tra với 150 mẫu cho mỗi huyện (tổng cộng 450 mẫu) nhằm thu thập số liệu về tỷ lệ sinh qua ba thế hệ, tục đặt tên con, độ tuổi kết hôn, lễ vật thách cưới.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Hệ thống hóa tư liệu điền dã và dữ liệu thống kê để tìm ra mối liên hệ cấu trúc và xu hướng biến đổi.
Nguồn tư liệu
- Tư liệu sơ cấp: Kết quả điều tra điền dã dân tộc học trực tiếp của tác giả tại các huyện miền núi Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang (Quảng Nam), cùng tư liệu so sánh tại Hòa Vang (Đà Nẵng), A Lưới và Nam Đông (Thừa Thiên Huế).
- Tư liệu thứ cấp: Các văn bản lịch sử, công trình nghiên cứu đã xuất bản, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam và Cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu, khung lý thuyết và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội tại địa bàn khảo sát.
Người Cơ Tu cư trú chủ yếu ở vùng núi cao phía Tây tỉnh Quảng Nam dọc dãy Trường Sơn, phân bố thành các nhóm địa phương: nhóm vùng cao (Zal), nhóm vùng giữa (Âm pâng), nhóm vùng thấp (Phương hoặc Phương Ếp). Phương thức sinh kế truyền thống dựa vào canh tác nương rẫy với chu trình "phát, đốt, chọt, tỉa", kết hợp săn bắt, hái lượm, dệt thổ cẩm và đan lát. Thiết chế xã hội truyền thống vận hành theo mô hình làng tự quản (vêêl, bhươl) do Hội đồng già làng điều hành bằng luật tục, lấy ngôi nhà cộng đồng (gươl) làm trung tâm hành chính và tâm linh. Tín ngưỡng cốt lõi là vạn vật hữu linh, coi trọng thần linh (Yang) và rừng thiêng.
Số liệu thống kê tại các điểm nghiên cứu được tác giả tổng hợp cụ thể:
Bảng 1: Thống kê tỷ lệ hộ nghèo của người Cơ Tu tại ba huyện nghiên cứu giai đoạn 2014–2018 (Đơn vị tính: %)
| STT |
Huyện |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
| 1 |
Tây Giang |
46,34 |
— |
— |
— |
— |
| 2 |
Đông Giang |
— |
— |
— |
— |
— |
| 3 |
Nam Giang |
— |
— |
— |
— |
— |
(Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam / Trích bảng 1.1 trong luận án)
Bảng 2: Thống kê dân số phân theo khu vực và giới tính tại huyện Nam Giang năm 2019
| Khu vực / Xã |
Tổng cộng (người) |
Thành thị |
Nông thôn |
Nam |
Nữ |
| Toàn huyện Nam Giang |
26.123 |
7.616 |
18.507 |
13.226 |
12.897 |
| Thị trấn Thạnh Mỹ |
7.616 |
7.616 |
— |
3.828 |
3.788 |
| Xã Laêê |
930 |
— |
930 |
483 |
447 |
| Xã Chơ Chun |
978 |
— |
978 |
503 |
475 |
| Xã Zuôich |
1.365 |
— |
1.365 |
681 |
684 |
| Xã Tà Pơơ |
1.294 |
— |
1.294 |
639 |
655 |
| Xã La Dêê |
1.440 |
— |
1.440 |
732 |
708 |
| Xã Đắc Tôi |
868 |
— |
868 |
440 |
428 |
| Xã Chà Vài |
3.062 |
— |
3.062 |
1.534 |
1.528 |
| Xã Tà Bhing |
2.413 |
— |
2.413 |
1.224 |
1.189 |
| Xã Cà Dy |
3.594 |
— |
3.594 |
1.837 |
1.757 |
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 / Trích bảng 1.3 trong luận án)
Chương 2: Nghi lễ truyền thống trong vòng đời người Cơ Tu ở Quảng Nam
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực hành các nghi lễ vòng đời truyền thống theo 4 giai đoạn chính:
- Nghi lễ sinh đẻ: Hệ thống kiêng kỵ nghiêm ngặt trong thời kỳ mang thai đối với cả vợ và chồng (chồng kiêng vào rừng cấm, kiêng sát sinh; vợ kiêng ăn thịt thú lạ). Nghi thức sinh nở diễn ra tại chòi riêng ngoài bìa rừng hoặc góc nhà; các nghi lễ đón trẻ sơ sinh gồm lễ cắt rốn bằng cật nứa, lễ cúng thần bảo hộ, lễ cúng hết ở cữ và nghi thức đặt tên cho đứa trẻ nhằm nhập thành viên mới vào gia đình và cộng đồng.
- Nghi lễ trưởng thành: Đánh dấu sự chuyển đổi về mặt thể chất và tư cách thành viên cộng đồng qua hai nghi thức chính:
- Lễ cà răng: Cưa mài các răng cửa hàm trên bằng đá mài hoặc thanh kim loại, thể hiện sức chịu đựng đau đớn và sự công nhận đã đến tuổi trưởng thành.
- Lễ căng tai: Dùng vật nhọn xâu lỗ tai rồi nong dần bằng ống nứa, gỗ để đeo trang sức, biểu hiện thẩm mỹ và đẳng cấp xã hội.
- Nghi lễ hôn nhân: Tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn dòng họ triệt để và tàn tích liên minh hôn nhân ba thị tộc. Quy trình cưới xin gồm nhiều bước: lễ ướm hỏi, lễ dạm ngõ, lễ thách cưới và lễ cưới chính thức. Sính lễ nhà trai nộp cho nhà gái gồm các tài sản quý như chiêng, ché, mã não, trâu bò; nhà gái đáp lễ bằng vải thổ cẩm (tấm tút), gà, cá khô.
- Nghi lễ tang ma: Quan niệm về cái chết bình thường (chết già, chết bệnh tại nhà) và cái chết xấu (chết do tai nạn, thú dữ, sấm sét, chết ngoài rừng). Quy trình tang ma thông thường gồm: khâm liệm vào quan tài độc mộc hình thuyền, tổ chức phúng viếng với các bài hát lý và điệu khóc lý (Ca lâu, Ca lênh Aph’uyh), lễ đưa tang, hạ huyệt, làm nhà mồ điêu khắc tượng và lễ tiễn đưa hồn người chết về với tổ tiên. Đối với trường hợp chết xấu, thi thể bị chôn vội ngoài rừng mà không đưa qua làng, không làm nhà mồ kiên cố nhằm xua đuổi tà khí.
Chương 3: Biến đổi của nghi lễ vòng đời người Cơ Tu ở Quảng Nam
Chương này phân tích thực trạng biến đổi của các nghi lễ từ sau năm 1986 đến nay và xác định các nguyên nhân chi phối:
- Biến đổi trong nghi lễ sinh đẻ và trưởng thành: Phụ nữ đã đến trạm y tế sinh con thay vì sinh tại chòi rừng; các kiêng cữ mang tính mê tín giảm hẳn. Nghi thức đặt tên xuất hiện xu hướng mới: tỷ lệ đặt tên theo tiếng Cơ Tu truyền thống giảm, xuất hiện việc đặt tên lai tiếng Kinh hoặc chịu ảnh hưởng từ phim ảnh Hàn Quốc. Các nghi lễ trưởng thành khốc liệt như tục cà răng, căng tai đã hoàn toàn chấm dứt trong thế hệ trẻ.
- Biến đổi trong nghi lễ hôn nhân: Quyền tự do lựa chọn bạn đời được đề cao, giảm thiểu tình trạng ép duyên. Quy mô thách cưới bằng chiêng, ché cổ quý hiếm chuyển sang quy đổi bằng tiền mặt hoặc gia súc thông thường; các bước cưới hỏi rút gọn để giảm gánh nặng kinh tế.
- Biến đổi trong tục lệ tang ma: Thời gian quàn người chết rút ngắn (không quá 48 giờ); vệ sinh môi trường trong an táng được cải thiện. Điêu khắc tượng mồ truyền thống có xu hướng suy giảm về quy mô và kỹ thuật chế tác; nghĩa trang được quy hoạch tập trung.
- Nguyên nhân biến đổi: Luận án chỉ ra 5 nhóm nguyên nhân chính:
- Tác động của giao lưu, tiếp biến văn hóa với người Kinh và các tộc người lân cận.
- Sự phát triển của điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ y tế, giáo dục.
- Tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phương tiện truyền thông đại chúng.
- Hiệu lực từ các cơ chế, chính sách quản lý văn hóa và pháp luật của Nhà nước (Luật Hôn nhân và Gia đình, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa).
- Yếu tố chủ quan từ nhận thức tự điều chỉnh của cộng đồng người Cơ Tu nhằm thích ứng với đời sống mới.
Chương 4: Nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu: Đặc điểm, giá trị và bàn luận
Chương 4 đúc kết các đặc trưng, giá trị và đưa ra bàn luận về công tác quản lý:
- Đặc điểm nghi lễ vòng đời:
- Dấu ấn phong tục tín ngưỡng tộc người: Gắn liền với thuyết vạn vật hữu linh, niềm tin sâu sắc vào thế giới thần linh (Yang), linh hồn tổ tiên và sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên.
- Sắc thái văn hóa nhóm Môn – Khmer: Lưu giữ các yếu tố cổ xưa chung của ngữ hệ Nam Á như chế độ gia đình phụ quyền nhưng vẫn bảo lưu dấu vết mẫu hệ, cấu trúc liên minh hôn nhân và nghệ thuật điêu khắc nhà mồ.
- Giá trị của nghi lễ vòng đời:
- Giá trị xã hội: Củng cố tính cố kết cộng đồng làng (vêêl), thắt chặt quan hệ dòng họ và liên minh giữa các làng.
- Giá trị giáo dục: Trao truyền chuẩn mực đạo đức, trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và cộng đồng qua từng mốc chuyển đổi vị thế.
- Giá trị nghệ thuật: Tích hợp các loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo: điêu khắc gỗ (nhà mồ, cột xơnur), âm nhạc cồng chiêng, nghệ thuật múa (tung tung, ya yá), thi ca dân gian (hát lý, khóc lý).
- Giá trị nhân văn và tâm linh: Giải tỏa tâm lý lo âu trước tự nhiên, thể hiện lòng hiếu nghĩa với người đã khuất và ước vọng sinh sôi nảy nở của tộc người.
- Bàn luận và giải pháp:
- Nhận diện hai xu hướng song song: xu hướng phai nhạt các nghi thức cổ truyền và xu hướng thích nghi văn hóa tích cực.
- Đánh giá thực trạng quản lý văn hóa tại vùng đồng bào Cơ Tu tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn có chọn lọc các nghi thức tốt đẹp, loại bỏ hủ tục lạc hậu, phục dựng các giá trị nghệ thuật dân gian gắn với phát triển du lịch cộng đồng bền vững.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và học thuật
- Luận án cung cấp hệ thống tư liệu điền dã dân tộc học toàn diện, xác thực về các nghi thức vòng đời của người Cơ Tu tại ba huyện vùng cao tỉnh Quảng Nam (Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang).
- Vận dụng lý thuyết nghi thức chuyển tiếp (The Rites of Passage) và thuyết cấu trúc - chức năng để phân tích cấu trúc chuyển đổi vị thế xã hội của cá nhân trong xã hội người Cơ Tu.
- Làm rõ bản chất của quá trình biến đổi văn hóa nghi lễ vòng đời dưới tác động của chính sách, kinh tế thị trường và tiếp xúc văn hóa từ sau năm 1986.
Đóng góp về thực tiễn và ứng dụng
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Du lịch học.
- Đóng góp luận cứ thực tiễn giúp các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương tại Quảng Nam xây dựng chính sách văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp, hỗ trợ loại bỏ hủ tục (thách cưới nặng nề, hủ tục trong tang ma) đồng thời bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể (nghệ thuật hát lý, khóc lý, điêu khắc, trang phục).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực địa của luận án tập trung chủ yếu tại ba huyện miền núi tỉnh Quảng Nam (Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang); các địa bàn so sánh tại Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng mới dừng ở mức đối chiếu chọn lọc, chưa bao quát toàn bộ các nhóm Cơ Tu sinh sống tại khu vực Nam Lào.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh nghi lễ vòng đời giữa cộng đồng người Cơ Tu ở Việt Nam với cộng đồng người Cơ Tu cư trú tại các tỉnh Xekong, Saravan (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) để làm rõ tính tương đồng và dị biệt xuyên biên giới dưới các bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội khác nhau.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học, Nhân học văn hóa; đặc biệt có giá trị ở phần hệ thống hóa khái niệm công cụ, phương pháp điền dã dân tộc học và tư liệu khảo tả nghi lễ truyền thống.
- Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý văn hóa: Cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam, phòng văn hóa các huyện miền núi tham khảo phần thực trạng biến đổi và kiến nghị quản lý để xây dựng quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh.
- Chuyên gia phát triển du lịch: Khai thác các yếu tố nghệ thuật diễn xướng (hát lý, múa tung tung, ya yá) và mỹ thuật tạo hình gắn với nghi lễ để xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghi lễ vòng đời người Cơ Tu ở Quảng Nam bao gồm những nghi lễ chính nào?
Nghi lễ vòng đời người Cơ Tu gồm 4 nhóm chính: (1) Nghi lễ sinh đẻ và đặt tên; (2) Nghi lễ trưởng thành (lễ cà răng, lễ căng tai); (3) Nghi lễ hôn nhân (hỏi, dạm ngõ, thách cưới, cưới xin); (4) Nghi lễ tang ma (khâm liệm, phúng viếng, đưa tang, hạ huyệt, làm nhà mồ và xử lý các trường hợp chết xấu).
2. Hai nghi thức đánh dấu sự trưởng thành truyền thống của người Cơ Tu là gì và hiện trạng ra sao?
Đó là lễ cà răng (mài ngắn các răng cửa hàm trên) và lễ căng tai (xâu và nong rộng lỗ tai để đeo trang sức). Trong xã hội hiện đại, hai tập tục này đã hoàn toàn chấm dứt và không còn được thực hành ở các thế hệ trẻ.
3. Quan niệm của người Cơ Tu đối với "chết xấu" khác biệt như thế nào so với "chết bình thường"?
Chết bình thường là chết già hoặc chết bệnh tại nhà, được tổ chức tang lễ chu đáo, quàn trong quan tài độc mộc và xây dựng nhà mồ điêu khắc. Chết xấu là chết do tai nạn, thú dữ cắn, sét đánh hoặc chết ngoài rừng; thi thể người chết xấu bị coi là mang lại điềm gở nên không được đưa qua làng, phải chôn cất vội vã ngoài bìa rừng và không xây dựng nhà mồ kiên cố.
4. Dữ liệu khảo sát định lượng trong luận án được thu thập với quy mô mẫu như thế nào?
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu theo phán đoán) với tiêu chí là những cá nhân am hiểu phong tục tập quán tại 3 huyện Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang; mỗi huyện phát 150 phiếu điều tra, tổng số mẫu thu thập là 450 mẫu.
5. Luận án chỉ ra những nguyên nhân cơ bản nào dẫn đến sự biến đổi nghi lễ vòng đời người Cơ Tu từ năm 1986 đến nay?
Gồm 5 nguyên nhân: (1) Giao lưu và tiếp biến văn hóa; (2) Tác động của các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; (3) Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (4) Tác động của cơ chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước; (5) Sự thay đổi nhận thức chủ quan của chính đồng bào Cơ Tu nhằm thích nghi với đời sống mới.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu ở Quảng Nam" của tác giả Nguyễn Văn Dũng là công trình nghiên cứu chuyên khảo về hệ thống nghi lễ đời người của tộc người Cơ Tu trong tiến trình từ truyền thống đến hiện đại. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành định tính và định lượng, luận án đã làm rõ cấu trúc thực hành, đặc điểm tín ngưỡng tộc người và những biến đổi của nghi lễ trong bối cảnh đương đại. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu điền dã thực địa có giá trị khoa học cho chuyên ngành Văn hóa học, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương.