Chương 1. Mấy nét về sự hình thành và phát triển của làng xã ở Thừa Thiên Huế (22 trang), Chương 2. Làng luyện sắt Phú Bài ( 79 trang) Chương 3. Làng rèn Hiền Luong (61 trang).
Trong luận án còn có các mục : Tài liệu tham khảo (15 trang với 225 đầu sách báo tham khảo trích dẫn), Chỉ sẵn các bang kê và sơ đồ (2 trang với 20 bảng thống kê và 4 sơ đô), Phụ lục ( gồm phần viết và phần bản vẽ, ảnh minh họa). cùng với Ban cam đoan và Mục lục (đặt ở những trang đầu luận án). lo CHUONG 1 MAY NET VỀ SU HÌNH THÀNH VÀ PHAT TRIEN CUA LANG XA 6 THỪA THIÊN HUẾ 1. THỪA THIEN HUE TÙNG BUGC HỘI NHAP VỚI SU PHÁT TRIEN CUA QUOC GIA ĐẠI VIỆT Thừa Thiên Huế là mảnh đất có bề dày lịch sử.
Nguyên xưa kia noi day là đất Việt Thường Thị, thời thuộc Hán nằm trong quận Nhat Nam [207:590; 167:76]. Nhat Nam khi ấy là đất cực nam của Giao Chi bộ từ Hoành Sơn đến Quảng Nam chia làm 5 huyện. Thừa Thiên có lẽ một phần phía Bắc thuộc huyện Tỷ Cảnh, phía Nam và Điện Bàn thuộc huyện Châu Ngô [167:76]. Không chịu nổi ách thống trị của nhà Hán, nhân dan Nhật Nam cùng với nhân dân Giao Chi, Cửu Chân liên tục nổi day khởi nghĩa.
Thế kỷ ïI, Nhật Nam là trung tâm của phong trào đấu tranh. Cuối thé ky này, nhân sự loạn lạc ở bên chính quốc, nhân dân huyện Tượng Lâm - vùng xa xôi nhất dã giành được thắng lợi, lập nên nước Lâm Ấp độc lập. Sau mot thời gian xây dung và củng cố chính quyền. Lâm Ấp bắt đầu mở rộng dan lãnh thổ.
Cuối thế kỷ IV vua Lâm Ấp là Phạm Van dem quan chiếm toàn bộ Nhật Nam, lấy Hoành Son làm cương giới phía Bắc [75]. Bat đâu từ đấy, Thừa Thiên Huế và cả dải đất Bình Trị Thiên thuộc về lãnh thổ nước Lâm Ấp sau này đổi thành Champa hay còn gọi Chiêm Thành. Thời kỳ nhân dân Đại Việt phải tập trung sức lực. trí tuệ vào cuộc đấu tranh lâu dai, gian khổ chống ach thống trị của phong kiên phương Bac, piành doc lập dan tộc, thì nhân dân Champa trong đó có Thừa Thiên dã xây dựng dược mol vương quốc hùng mạnh, có nền văn hóa rực rỡ, nên kinh tê phát triển.
The ky X, với chiến thắng Bạch Đằng vang dội, Đại Việt bước ra khỏi thời Bắc thuộc, quốc gia độc lập được xây dựng và tiến nhanh trên con đường tu lập, tự cường. Quan hệ giữa Dai Việt và Champa không phải lúc nào cũng thuận hòa. The ky XI. để ổn định mặt trận phía Nam nhằm yên tâm dốc sức chông chiên tranh xâm lược của phong kiến Tông, nhà Lý tổ chức Nam chinh vào năm 1069.
Kết quả, vua Champa là Chế Củ bị bất và buộc phải cắt đất ba châu : Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh cho Đại Việt để chuộc mạng. Biên giới Đại Việt đã đến vùng đất các huyện phía Bắc Quảng Trị. Năm Thái Ninh thứ 4 (1075), đời vua Lý Nhân Tong, quân Champa tấn công quấy phá vùng đất mới cát về Đại Việt, vua sai Lý Thường Kiệt di tuân thú biên thùy. Sau khi xem xét núi sông, Lý Thường Kiệt vẽ bản đồ ba châu dâng lên.
Vua nhân đó "đổi châu Địa Lý làm Lâm Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh, xuống chiếu chiêu mộ nhân dân đến khai cơ lập nghiệp và tổ chức lại việc cai trị [60: 130]. Đời Trần, sau cuộc đoàn kết chống quân xâm lược Nguyên Mông thắng, lợi, quan hệ hai nước Việt - Chăm trở nên mật thiết. Trong chuyến viếng thăm của vua Trần Nhân Tông sang Chiêm, nhà Vua đã hứa ga công chúa cho vua Champa. Năm 1306, vua Champa là Chế Man dâng đất hai chau Ô, Lý làm sinh lễ xin cưới Huyền Trân công chúa nhà Trần.
Sau sự kiện này, quá trình di dân Việt vào khai khẩn, xây dựng làng xã được dat ra. Trong lân "chuyển giao” đất đai một cách hòa bình này, chac chan có bộ phận cư dân Chàm còn lưu lại sinh sông bên cạnh những di dân Việt mới đến. Thế là, từ đầu thé kỷ XIV, người Việt đã vào đến Thừa Thiên và địa đầu Quang Nam. Tuy đã thuộc về lãnh thổ.
Đại Việt , nhưng dải đất hep từ Hoành Sơn dén Hai Vân chưa phải đã ổn định và hoàn toàn hòa chung vào tiên trình lịch sử đất nước như lãnh thổ từ phía Bắc Hoành Sơn. Dù vua Trần đã đặt quan cai trị, song tình hình chính trị, xã hội còn phức tạp. Trong địa phương dân chưa chịu thuần phục, ngoài biên giới. người Chăm nuôi tiếc đất cũ, thường hay tấn công quấy phá.
Cu dân Việt ở đây vừa phải chê ngự, khắc phục những chướng ngại của thiên nhiên khác nghiệt để ổn định cuộc sống lại phải chông với ngoại xâm bảo vệ làng xóm quê hương. Cuối thê kỷ XIV, Chế Bong Nga chết (1389), vương quốc Champa trượt dài trên con đường suy vong. Bấy giờ đất Thuận Hóa mới tạm ổn định. l8 Năm Thiệu Thành thứ 2 (1402), nhà Hồ chuẩn bị đánh Chiêm Thành để mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
Nhằm mục dich đó, tháng 3- 1402, Hồ Hán Thuong sai sửa sang và mở đường từ thành Tây Đô đến Thuận Hóa, dọc đường đặt phố xá để chuyền thư gọi là đường Thiên Lý [5:35]. Việc làm này khách quan tao điêu kiện cho sự mở mang, phát triển vùng đất mới từ đó về sau. Sau cuộc Nam chỉnh của nhà Hồ, Đại Việt thêm 4 châu mới: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Nhà Hồ đặt An phủ sứ lộ Thăng Hoa để cai trị và khuyến khích cư dân Việt vào ở.
Lại lấy miền đầu nguồn làm trấn Tân Ninh. Dem những dân không ruộng mà có của đời đến ở Thăng Hoa, biên làm quân ngũ, khuyên dân nộp trâu thì cho làm quan tước để lấy trâu cấp cho di dân [$5:35]. Nhà Hồ xúc tiến đưa dân Việt vào khai hoang lập làng xã ở vùng đất mới, nhưng không có thời gian để thực hiện có hiệu quả lâu dài các chính sách đó. Sau thất bại của nhà Hồ, nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Minh.
Nhân cơ hội đó, Chămpa lấn ra lấy lại đất chiêm Dong và Cổ Lũy (Thăng lloa ) [65:36]. Thế là, Thuận Hóa lại là miên biên viễn nằm cực Nam Tổ quốc. Tuy đã thiết lập được chính quyền, đặt quan cai trị, nhưng trên thực tế nhà Minh không thể vươn tới kiểm soát được vùng Tân Bình, Thuận Hóa, xa xôi, hiểm trở. Suốt từ năm 1407 đến 1413, Thuận Hóa là căn cứ của nghĩa quân Trân Ngôi và Tran Quý Khoáng, sự cai trị của nhà Minh rất lỏng léo.
Tướng Minh là Trương Phụ cay cú vi tốn nhiều công sức vẫn không bình định được vùng này đã tuyên bố "Ta sống cũng bởi Hóa Châu, chết cũng là ở Hóa Châu, Hóa Châu chưa lấy được mặt mũi về nhìn chúa thương". Ben phát binh thuyên đi đánh [#5:37|. Thuận Hóa rơi vào ách áp bức nặng nề của nhà Minh. Nhân dân trong vùng đã không cam chịu cảnh cai trị, áp bức, bóc lột nặng né của chính quyền đô hộ nên luôn nổi day chống dõi va đã hưởng ứng tích cực khi nghĩa quan Lam Sơn tiến vào địa bàn này.
Việc Lê Lợi dựa vào Thuận Hóa đánh Minh, chứng tỏ người Việt định cư ở đây đã đông và lang Việt đã khá vững vàng. 19 Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, triều Lê thành lập, nhận thấy Hóa Châu là nơi trọng trấn vua Lê thường sai trọng thần đến trấn giữ, đặt lộ tổng quản và lộ trì phủ. Tháng 6 năm 1430, vua Lê Thái Tổ sai tổng quản Lê Khôi vào trấn giữ Hóa Châu để phòng giữ vì đất ấy gần kề Chiêm Thành. Ông vào đến nơi chiêu tập dân xiêu đạt, khuyên cấy ruộng, trồng dâu, luyện tập sĩ tốt, giữ vững bờ cõi.
Tuy đất nước đã thái bình nhưng Thuận Hóa - vùng biên thùy phía Nam Tổ quốc vẫn thường xuyên chịu nạn cướp phá của người Chiêm suốt các đời Thái Tông, Nhân Tông và cả buổi đầu thời Thánh Tong. Từ năm 1307 đến 1471, trong vòng hơn mot thế ky rưỡi, có hon 15 lân Champa tổ chức đánh Chau Hóa, đó là chưa kể các đợt tấn công lẻ tế do quan lại vùng biên tổ chức. Chi từ sau cuộc tấn công, của vua Lê vào tận thành Chà Bàn năm 1446, Thuận Hóa mới phần nào yên ổn. Năm 1470, Thánh Tông xuống chiếu Nam chính, đích thân cầm quân đi đánh Chiêm Thành.
Tháng 12 vua và lực lượng quân đội viễn chính đã vào đóng ở thành Thuận Hóa. Quân và dân Thuận Hóa được huy động phục vụ cuộc chiến. Trận tấn công tháng 2 năm 1471 thắng lợi, chiếm lại đất Chiêm Động và Cổ Lũy LÍ 149:235]. Từ đây xứ Thuận Hóa mới thực sự hết nạn binh dao của lực lượng quân sự Chiêm, xã hội ổn định, nhân dân yên ổn làm ăn.
Trong thời Lê Sơ, nhà nước thường, khuyến khích nhân dân di cư vào Thuận Hóa khai phá dat dai, lập làng sinh cơ lập nghiệp. Sau khi giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, Lê Lợi cho "Châu Sài, một người Minh đầu hàng đem 340 con ngựa vào Hóa Châu chan nuôi. Lai chia những người khóc mạnh trong bọn người Minh bị bat cho tới day khai khẩn làm an 5:38]. Năm 1467 và 1471, sau khi thắng Chiêm, tham nghị thừa chính Hóa Châu là Đặng Chiêm dâng sớ, những cuộc di dân lớn dược tổ chức và nhà nước giúp đỡ một phần cơ sở vật chất ban đầu.
Cách khẩn hoang tương đôi qui mô và mang lại hiệu quả dược sử dụng thời Lê Sơ là chính sách lập đồn điền. Sở đồn điền Thuận Hóa được thành lập. Binh lính, tù phạm và có thể gồm cả dan nghèo được xung vào làm trong các so đôn điên, khai khẩn dat dai. Công cụ, giông má do nhà nước cấp.
Ruộng đất đồn điền đêu thuộc sở hữu trực 20 tiếp của nhà nước. Sau quá trình phat triển, nhà nước cho lập thành làng và ruộng, đất đó trở thành ruộng đất công xã thôn. Những chính sách khuyến khích đi dân khai hoang lập làng, lập đồn điền của nhà Lê cùng với sự hưởng ứng của nông dân nghèo, sự lao động gian khổ của binh lính, chiến tù, tội nhân. đất Thuận Hóa được khai phá nhanh chóng.
Diện tích đất đai canh tác và dân số tăng nhiều so với thời thuộc Minh. Dưới thời Hong Đức, thừa tuyên Thuận Hóa gồm 2 phủ, 8 huyện, 4 châu với 732 xã thôn trên tổng số 6851 xã trong toàn quốc [#5:38; 141:31]. Đến thời Mạc, theo danh mục Dương Văn An ghi lại khu vực Thừa Thiên Huế bấy giờ là đất 3 huyện Kim Tra, Tư Vinh, Đan Điền, tổng cộng có 180 xã thôn.