Tổng quan luận án

Công trình "Về làng nghề truyền thống: Luyện sắt Phú Bài và rèn Hiền Lương tỉnh Thừa Thiên Huế" được tác giả Bùi Thị Tân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phan Đại Doãn, bảo vệ năm 1996 tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Hà Nội), thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 5.03.15).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Làng xã là đơn vị kết cấu cộng đồng cơ bản trong lịch sử Việt Nam thời trung đại, giữ vị trí quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa. Quá trình hình thành và phát triển làng xã ở Thừa Thiên Huế gắn liền với tiến trình hội nhập vào lãnh thổ Đại Việt từ đầu thế kỷ XIV, đóng vai trò bàn đạp cho công cuộc mở cõi về phương Nam, đồng thời là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn và kinh đô của quốc gia thống nhất thời Nguyễn.

Mặc dù việc nghiên cứu làng xã truyền thống đã đạt được nhiều thành tựu, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào loại hình làng nông nghiệp, ruộng đất và tổ chức làng xã ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Kết cấu kinh tế - xã hội làng xã miền Trung, đặc biệt là các làng nghề thủ công truyền thống như luyện và rèn sắt tại Thừa Thiên Huế, vẫn còn là một khoảng trống tư liệu và học thuật cần được khảo sát có hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua các nhiệm vụ sau:

  1. Tập hợp và hệ thống hóa đầy đủ tư liệu và kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về làng xã ở Thừa Thiên Huế giai đoạn từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, đặc biệt chú trọng tư liệu về làng nghề thủ công luyện sắt Phú Bài và làng rèn Hiền Lương.
  2. Trên cơ sở các nguồn sử liệu, phác thảo sơ bộ về sự hình thành và phát triển của làng xã ở Thừa Thiên Huế giai đoạn cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX trong nền cảnh chung của xã hội Việt Nam.
  3. Đi sâu tìm hiểu đặc điểm thủ công nghiệp nông thôn, đặc trưng của làng nghề, mối quan hệ qua lại giữa kết cấu làng truyền thống với nghề thủ công qua tư liệu cụ thể của làng luyện sắt Phú Bài và làng rèn Hiền Lương trong khung thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
  4. Cung cấp tư liệu và cơ sở khoa học cho việc biên soạn lịch sử địa phương, địa chí của tỉnh Thừa Thiên Huế, bổ sung giáo trình giảng dạy tại Đại học Huế, đồng thời phục vụ công tác phát triển nông thôn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kết cấu kinh tế - xã hội, tổ chức làng xã và hoạt động thủ công nghiệp của hai làng nghề truyền thống tiêu biểu: làng luyện sắt Phú Bài (thuộc huyện Phú Vang) và làng rèn Hiền Lương (thuộc huyện Quảng Điền, nay thuộc thị xã Hương Trà và huyện Quảng Điền), tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại địa bàn làng Phú Bài và làng Hiền Lương cùng các phân nhánh mở rộng, đặt trong bối cảnh không gian kinh tế - xã hội của vùng đất Thừa Thiên Huế và mối liên hệ với các địa phương lân cận tại miền Trung và Nam Bộ.
  • Phạm vi thời gian: Khung thời gian lịch sử trọng tâm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đồng thời truy nguyên từ khi vùng đất hội nhập Đại Việt (thế kỷ XIV) và khảo sát sự chuyển biến đến đầu thế kỷ XX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề làng xã và kinh tế thủ công nghiệp truyền thống đã được giới học giả trong và ngoài nước quan tâm qua nhiều thời kỳ lịch sử:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Thời kỳ trước năm 1945:
    • Các học giả người Pháp khảo cứu làng xã phục vụ chính sách thuộc địa: P. Ory với "La commune Annamite au Tonkin" (1894), P. Gourou với công trình khảo cứu kinh tế - nhân văn "Les paysans du delta Tonkinois" (1936).
    • Các tác giả Việt Nam khảo sát phong tục, xã hội: Phan Kế Bính với "Việt Nam phong tục" (1914), cùng các khảo cứu của Nguyễn Văn Huyện, Ngô Tất Tố, Hoàng Đạo.
    • Hướng tiếp cận mác-xít đầu tiên về nông thôn: Qua Ninh và Vân Đình với "Vấn đề dân cày" (1937, tái bản 1959).
  • Giai đoạn sau năm 1945 đến thập niên 1980:
    • Khảo cứu kinh tế và tổ chức xã thôn: Vũ Quốc Thúc với "L’Economie communaliste du Vietnam" (1950), Nguyễn Hồng Phong với "Xã thôn Việt Nam" (1958), Phan Huy Lê với "Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ" (1959).
    • Nghiên cứu chuyên khảo về ruộng đất và nông thôn: Viện Sử học xuất bản hai tập kỷ yếu "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử" (1977, 1978); Vũ Huy Phúc với "Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX" (1979); Trương Hữu Quỳnh với "Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI-XVIII" (2 tập).
    • Nghiên cứu phong tục và thiết chế làng xã: Toan Ánh và Cửu Long Giang với "Làng xóm Việt Nam" (1968), "Nếp cũ hội hè đình đám" (1992); Trần Từ với "Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ" (1984); Bùi Xuân Đính với "Lệ làng phép nước" (1985).
  • Thập niên 1990:
    • Nghiên cứu kinh tế - xã hội và quản lý nông thôn: Phan Đại Doãn với "Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội" (1992); Nguyễn Quang Ngọc với "Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX" (1993); Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc chủ biên "Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn trong lịch sử" (1994); Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh với tập hợp khảo cứu "Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam" (1995); Nguyễn Hải Kế với "Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ" (1996); chương trình KX-07 xử lý 140 địa bạ vùng Hà Đông do Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ nhiệm.
    • Nghiên cứu về thủ công nghiệp truyền thống: Phan Gia Bền với "Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam" (1957); Vương Hoàng Tuyên với "Tình hình công thương nghiệp Việt Nam trong thời Lê mạt" (1958); các bài nghiên cứu chuyên đề của Phan Đại Doãn, Phạm Văn Kính, Lâm Bá Nam, Nguyễn Ngọc Trạch; công trình khảo lược "Huế nghề và làng nghề thủ công truyền thống" của Nguyễn Hữu Thông.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các công trình nghiên cứu làng xã và kinh tế nông thôn trước đây đều tập trung khai thác tư liệu tại đồng bằng Bắc Bộ. Các vấn đề về kết cấu kinh tế - xã hội làng xã miền Trung chưa được nghiên cứu tương xứng. Mảng đề tài thủ công nghiệp nông thôn thường dừng lại ở mức giới thiệu nghề nghiệp tổng quát, chưa phân tích sâu sắc tác động qua lại giữa nghề thủ công với kết cấu làng truyền thống. Luận án lựa chọn hai làng nghề luyện sắt Phú Bài và rèn Hiền Lương nhằm giải quyết khoảng trống học thuật về làng nghề kim khí tại vùng đất kinh kỳ Thừa Thiên Huế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm làng nghề: Luận án sử dụng tiêu chí kinh tế để phân loại làng xã. Khái niệm làng nghề được định nghĩa là làng mà trong khoảng thời gian dài (ba, bốn thế hệ đời người hoặc một vài thế kỷ), phần lớn cư dân chủ yếu làm một nghề cố định (có kết hợp các nghề khác) và nguồn sống chính của dân làng do nguồn lợi kinh tế của nghề đó đem lại.
  • Khung phân tích: Đặt làng nghề trong tính chỉnh thể của làng Việt truyền thống, không tách rời thủ công nghiệp với kinh tế tiểu nông và hoạt động thương nghiệp nông thôn. Vận dụng quan điểm của GS. Hà Văn Tấn về các mối liên hệ "liên làng" và "siêu làng" để khảo sát không gian phân bố và mạng lưới trao đổi sản phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành lịch sử kết hợp liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Khôi phục tiến trình hình thành, hưng thịnh và suy thoái của làng nghề gắn với bối cảnh chính trị - xã hội từng thời kỳ (Lê - Mạc, chúa Nguyễn, Tây Sơn, triều Nguyễn).
  • Phương pháp điền dã dân tộc học và khảo sát thực địa: Thu thập hiện vật, phế tích lò nung, công cụ sản xuất, khảo sát địa hình mỏ quặng, đình, chùa, đền miếu và nhà thờ tổ nghề.
  • Phương pháp văn bản học: Sưu tầm, dịch thuật và đối chiếu các nguồn văn tự Hán Nôm nguyên bản lưu giữ tại địa phương.
  • Phương pháp so sánh lịch sử: So sánh cấu trúc làng nghề Thừa Thiên Huế với các làng nông nghiệp thuần túy, làng buôn và làng nghề thủ công ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ.
  • Phương pháp thống kê và bản đồ: Xây dựng 20 bảng thống kê số liệu ruộng đất, nhân khẩu, thuế khóa và 4 sơ đồ phân bố không gian hoạt động kinh tế.

Nguồn tư liệu sử dụng

Nguồn tư liệu của luận án được phân thành ba nhóm chính:

  1. Tài liệu thư tịch cổ:
    • Chính sử và thư tịch triều đình: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục (tiền biên và chính biên), Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.
    • Địa chí và khảo cứu đương đại: Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Ô châu cận lục (Dương Văn An), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Trịnh Nguyễn diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn).
    • Ghi chép của giáo sĩ, thương nhân phương Tây đến Đàng Trong và Huế thế kỷ XVII-XIX.
  2. Tài liệu văn tự Hán Nôm tại địa phương:
    • Gia phả 16 họ phái làng Phú Bài và 6 họ khai canh làng Hiền Lương.
    • Sổ địa bạ (bộ điền) từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, các bảng cấp công điền, công thổ, lương điền cho các hạng dân.
    • Sổ đinh (bộ đinh) thời Gia Long, Minh Mạng đến Bảo Đại; các bản tờ trình, đơn xin miễn giảm thuế sắt, đơn xin điều động nhân đinh tu bổ đê điều (năm 1828, 1836).
    • Văn bản Nôm "Bản thể thức tác thiết" (phép bí truyền tìm quặng và luyện sắt tại Phú Bài).
    • Văn bia, văn khắc chuông đồng và bản cung văn chùa Giác Lương (năm Gia Long thứ 5 - 1806).
    • Văn bản "Chúc từ" làng Phú Bài (niên hiệu Chính Hòa thứ 26 - 1705) ghi chép về Tiên khai khẩn Lê Trại Đại Lang và Ngô Quý Công.
    • Các bản hương cấm, hương ước (điều lệ làng) năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Tự Đức thứ 6 (1853), Duy Tân thứ 4.
    • Gần 30 khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử của sinh viên Đại học Tổng hợp Huế (nay là Trường Đại học Khoa học Huế).
  3. Tài liệu vật chất và hồi cố:
    • Di tích kiến trúc: Đình làng Phú Bài, đình làng Hiền Lương, chùa Giác Lương, nhà thờ tổ nghề rèn Hiền Lương, mộ tổ khai canh, vách hố khai thác quặng sắt tại Rú Quánh.
    • Di vật: Bễ thổi gió của lò rèn thờ, công cụ rèn, xỉ quặng sắt, chuông đồng.
    • Nguồn hồi cố: Ca dao, tục ngữ, hò vè, truyền thuyết dân gian về tổ nghề và các kiêng kỵ nghề nghiệp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mấy nét về sự hình thành và phát triển của làng xã ở Thừa Thiên Huế

Chương này dành 22 trang (trang 17-38) để phân tích bối cảnh lịch sử và đặc điểm tự nhiên chi phối quá trình hình thành làng xã tại Thừa Thiên Huế qua ba giai đoạn:

Thế kỷ XIV - XVI: Hội nhập Đại Việt (1306) -> Khai hoang lập đồn điền thời Lê Sơ
Thế kỷ XVI - XVIII: Chúa Nguyễn dựng nghiệp (1558) -> Hình thành thủ phủ Phú Xuân & làng nghề
Thế kỷ XIX - XX: Vương triều Nguyễn -> Quy hoạch kinh đô, phân cấp ruộng đất & hành chính
  • Hội nhập quốc gia Đại Việt: Vùng đất nguyên là đất Việt Thường Thị, thời thuộc Hán thuộc quận Nhật Nam, sau đó là lãnh thổ Lâm Ấp - Champa. Năm 1306, vua Champa Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân; nhà Trần tiếp nhận và đổi thành Thuận Châu, Hóa Châu. Quá trình di dân người Việt vào khai khẩn lập làng diễn ra xen cài cùng cư dân Chăm bản địa. Thời Lê Sơ, chính quyền đẩy mạnh chính sách đồn điền; năm 1471 sau cuộc Nam chinh của Lê Thánh Tông, xứ Thuận Hóa bước vào thời kỳ ổn định. Thời Hồng Đức, thừa tuyên Thuận Hóa có 732 xã thôn; thời Mạc, vùng Thừa Thiên Huế gồm ba huyện Kim Trà, Tư Vinh, Đan Điền có 180 xã thôn.
  • Đất dựng nghiệp của các chúa Nguyễn: Từ năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, các chúa Nguyễn thực hiện chính sách thu phục nhân tâm, dung nạp di dân Thanh - Nghệ, hàng binh và tù binh chiến tranh để khai hoang mở đất. Đất đai mới khẩn hoang được sung làm ruộng công làng xã dưới quyền sở hữu tối cao của chúa Nguyễn. Đến năm 1773, Thuận Hóa có 882 xã thôn, phường; riêng Thừa Thiên Huế có 234 xã, 23 thôn, 84 phường, 9 giáp, châu, sách, ấp với dân số năm 1776 đạt 125.857 người và 965 người thuộc các hạng khác. Thủ phủ Phú Xuân và đô thị cảng thị Thanh Hà phát triển, kích thích thủ công nghiệp chuyển hóa từ nghề phụ gia đình sang các làng thủ công chuyên nghiệp và các quan xưởng (ty, đội) của nhà nước.
  • Đất ưu đãi của vương triều Nguyễn: Vị thế kinh đô thúc đẩy việc củng cố thiết chế làng xã, hoàn thiện sổ bạ quản lý ruộng đất và đinh tráng, đồng thời tổ chức huy động nguồn lực thủ công phục vụ xây dựng kinh thành và trang bị quân đội.

Chương 2: Làng luyện sắt Phú Bài

Chương 2 là phần nghiên cứu trọng tâm gồm 79 trang (trang 39-116), khảo sát toàn diện làng luyện sắt Phú Bài (tổng Cự Lại/Sư Lỗ, huyện Phú Vang):

  • Sự hình thành và lịch sử làng: Làng được hình thành từ cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII gắn liền với công lao của các vị Tiên khai canh, Tiên khai khẩn như Lê Trại Đại Lang (người gốc Hoan Châu - Nghệ An, theo Nguyễn Hoàng vào nam năm 1600) và Ngô Quý Công (Bản thổ Ngô Quý Công - người có tài nấu sắt, săn bắn và phù chú).
  • Nghề luyện sắt truyền thống:
    • Nguồn nguyên liệu và địa bàn khai thác: Dựa vào mỏ quặng sắt lộ thiên tại vùng gò đồi Rú Quánh, Mộc Lâm, Khương Sơn, Kiều Sơn.
    • Văn bản "Bản thể thức tác thiết": Tác phẩm văn vần chữ Nôm bí truyền ghi lại kinh nghiệm nhận diện quặng đá sắt qua sắc diện (đá vàng, đá xanh, đá chết), cấu trúc xây đắp lò luyện sắt ("lập bệu"), kỹ thuật dùng bể thổi gió và tục thờ phụng tổ nghề (Tiên sư Thái Thượng Lão quân, Bản thổ Ngô Quý Công, 3 vị thiền sư và 12 người anh sư).
    • Quy mô và thuế khóa: Phú Bài trở thành trung tâm khai mỏ và luyện sắt lớn nhất Đàng Trong thời chúa Nguyễn. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi rõ biểu thuế sắt nộp cho nhà nước qua các thời kỳ, cho thấy vai trò của quặng sắt Phú Bài đối với việc đúc vũ khí, súng đạn và nông cụ sản xuất. Nghề luyện sắt bắt đầu suy tàn từ đầu thời Nguyễn do nguồn quặng cạn kiệt và sự thay đổi trong chính sách quản lý mỏ của triều đình.
  • Kinh tế nông nghiệp và sở hữu ruộng đất: Theo đơn trình năm 1836, diện tích ruộng đất của làng đạt hơn 2.166 mẫu. Chế độ công điền công thổ chiếm ưu thế tuyệt đối, được phân chia nghiêm ngặt thành lương điền cấp cho quan viên chức sắc và khẩu phân điền cấp cho đinh tráng theo chu kỳ quân cấp.
  • Thương nghiệp, thiết chế và văn hóa: Hoạt động trao đổi sản phẩm sắt diễn ra tại chợ làng và hệ thống chợ lân cận. Thiết chế làng xã vận hành dựa trên sự điều hành của 16 họ phái (tiêu biểu là họ Phan, Ngô, Lê, Nguyễn), duy trì các quy ước nghiêm ngặt qua hệ thống Hương cấm (bảo vệ rừng phòng hộ, nghiêm cấm chặt cây phá vỡ địa mạch mỏ quặng) và Hương ước (điều tiết thủy lợi, cấm thả trâu bò, vịt phá hoại đê đập).
Danh mục tư liệu Hán Nôm tiêu biểu Niên đại văn bản Nội dung phản ánh chính
Văn bản Chúc từ Chính Hòa 26 (1705) Sự tích Lê Trại Đại Lang và Ngô Quý Công kết nghĩa khai khẩn, lập nghề
Bản thể thức tác thiết Bản Nôm truyền khẩu Kỹ thuật tìm mỏ quặng, dựng bễ đắp lò và danh sách 12 vị tổ sư nghề sắt
Đơn xin phong sắc Bản thổ Minh Mạng 5 (1824) Khai báo công đức luyện sắt, khai hoang và bắt thú dữ của Ngô Quý Công
Hương cấm 16 phái Minh Mạng 17 (1836) Lệ phạt tiền và đánh đòn đối với hành vi chặt phá cây rừng khu vực mỏ sắt
Tờ trình đê điều thủy lợi Minh Mạng 17 (1836) Huy động 413 quân lính dân đinh đắp đê ngăn sụt lở bảo vệ 2.166 mẫu ruộng

Chương 3: Làng rèn Hiền Lương

Chương 3 gồm 61 trang (trang 118-178), tập trung phân tích làng rèn Hiền Lương (thuộc xã Hoa Lang, tổng Hiền Lương, huyện Quảng Điền):

  • Quá trình tụ cư và phát triển nghề rèn: Làng do 6 họ khai canh thành lập từ thời Lê - Nguyễn. Khác với Phú Bài chuyên về luyện quặng thành sắt thỏi thô, thợ rèn Hiền Lương chuyên chế tác sắt nguyên liệu thành các loại nông cụ (dao, rựa, cuốc, cày, kéo) và vũ khí phục vụ quốc phòng.
  • Tổ chức sản xuất và đóng góp kỹ thuật:
    • Thợ rèn Hiền Lương quy tụ thành các ty, đội thợ rèn, thợ đúc súng phục vụ trực tiếp cho chính quyền Phú Xuân và triều đình nhà Nguyễn.
    • Tư liệu văn khắc trên chuông đồng chùa Giác Lương và văn bản lễ cầu an năm Gia Long thứ 5 (1806) ghi nhận danh sách hàng chục chức sắc thuộc "hai ty thợ đúc súng, thợ rèn" của làng Hiền Lương.
    • Con em và thợ giỏi làng Hiền Lương từng tham gia vào các công trình chế tạo máy móc, đúc vũ khí và chế tạo tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên của Việt Nam dưới triều Nguyễn.
  • Mạng lưới thương nghiệp "hàng kỉnh": Khi nghề rèn phát triển mạnh mẽ, thợ rèn Hiền Lương không chỉ sản xuất tại chỗ mà còn tổ chức thành các nhóm lưu động đi khắp nơi mở lò rèn hoặc lập các đại lý buôn bán nông cụ (gọi là các trạm "hàng kỉnh"). Mạng lưới hoạt động trải dài từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nha Trang cho đến các tỉnh Nam Bộ.
  • Kinh tế nông nghiệp và sinh hoạt văn hóa: Làng duy trì kết cấu kinh tế kết hợp rèn sắt và cày cấy ruộng đất công. Đời sống tâm linh gắn liền với ngôi chùa cổ Giác Lương, đình làng Hiền Lương và Nhà thờ tổ nghề rèn, nơi lưu giữ bễ thổi gió cổ truyền làm hiện vật thờ cúng tôn nghiêm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Khái quát bức tranh toàn diện về lịch sử hình thành, phát triển và biến đổi của làng xã Thừa Thiên Huế trong tiến trình mở rộng lãnh thổ và xác lập quyền lực của các triều đại phong kiến Đại Việt và Đàng Trong.
  • Làm sáng tỏ đặc trưng của thủ công nghiệp truyền thống nông thôn: không tách rời kinh tế tiểu nông mà luôn kết hợp hữu cơ giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ.
  • Xác định mô hình phân công lao động liên làng mang tính chuyên môn hóa cao trong ngành kim khí Thừa Thiên Huế: làng Phú Bài đảm nhiệm khâu luyện quặng thành sắt nguyên liệu, làng Hiền Lương đảm nhiệm khâu rèn đúc chế tạo sản phẩm tiêu dùng, vũ khí và công cụ.
  • Cung cấp cơ sở tư liệu thực chứng góp phần nghiên cứu bản chất kinh tế - xã hội của làng Việt cổ truyền và thảo luận về kết cấu mầm mống tiền tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam thời trung - cận đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phát hiện, phiên âm, dịch nghĩa và hệ thống hóa nhiều nguồn tư liệu Hán Nôm nguyên bản quý giá chưa từng được công bố (địa bạ, sổ đinh, chúc từ, bản thể thức bí truyền, hương cấm, văn khắc chuông chùa).
  • Đóng góp nguồn cứ liệu lịch sử - văn hóa phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn bộ Địa chí tỉnh Thừa Thiên Huế và lịch sử các địa phương.
  • Cung cấp tư liệu xây dựng giáo trình và chuyên đề giảng dạy về làng xã, nông thôn, nông dân phục vụ sinh viên các khoa Lịch sử, Văn hóa - Du lịch và Luật học tại Đại học Huế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tài liệu chính sử chép về hoạt động kinh tế thủ công nghiệp dân gian tại các làng xã còn tản mạn và sơ lược; nhiều văn bản chữ Nôm cổ mang tính ước lệ, phong cách truyền ngôn bí truyền đòi hỏi thời gian dài để thẩm định niên đại tuyệt đối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu làng nghề kim khí miền Trung với các trung tâm luyện rèn sắt truyền thống tại Bắc Bộ (như Vân Chàng, Đa Hội) và các vùng mỏ phía Bắc; tiếp tục khảo sát khảo cổ học thực nghiệm tại phế tích lò nung Rú Quánh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Lịch sử: Khai thác phương pháp tiếp cận kinh tế làng xã, phương pháp điền dã kết hợp xử lý tư liệu Hán Nôm địa phương.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Cung cấp hồ sơ khoa học phục vụ công tác xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa (chùa Giác Lương, đình làng Phú Bài, nhà thờ tổ nghề rèn Hiền Lương), bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và quy hoạch phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch văn hóa.
  • Các nhà nghiên cứu địa chí và văn hóa học: Sử dụng hệ thống tư liệu dịch thuật văn bản Hán Nôm và thống kê ruộng đất, nhân khẩu thời phong kiến.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng tiêu chí nào để định nghĩa và phân loại làng nghề?

Tác giả chọn đặc điểm kinh tế làm tiêu chí phân loại. Làng nghề được định nghĩa là làng mà trong khoảng thời gian dài (ba, bốn thế hệ đời người hoặc một vài thế kỷ), phần lớn cư dân trong làng chủ yếu làm một nghề cố định (có kết hợp với nghề khác) và nguồn sống chính của dân làng do nguồn lợi kinh tế của nghề nghiệp đó đem lại.

2. Hai làng nghề Phú Bài và Hiền Lương có sự phân công chuyên môn hóa kỹ thuật như thế nào?

Hai làng hình thành chuỗi liên kết chuyên môn hóa: làng Phú Bài là trung tâm khai thác mỏ quặng sắt lộ thiên (Rú Quánh) và xây lò nấu luyện thành sắt nguyên liệu thô; làng Hiền Lương tiếp nhận sắt nguyên liệu để rèn thành nông cụ sản xuất (dao, rựa, cuốc), đúc súng và chế tạo vũ khí quân dụng phục vụ chính quyền kinh kỳ.

3. "Bản thể thức tác thiết" làng Phú Bài có giá trị đặc biệt gì?

Đây là tài liệu chữ Nôm bí truyền độc đáo của thợ luyện sắt Phú Bài, ghi lại kinh nghiệm dân gian về việc tìm kiếm quặng sắt theo màu sắc địa tầng, quy trình đắp lò luyện sắt ("lập bệu"), kỹ thuật dùng bễ thụt gió và nghi thức cúng tế tổ sư ngành sắt (Thái Thượng Lão quân, Ngô Quý Công, 3 vị thiền sư và 12 người anh sư).

4. Mạng lưới "hàng kỉnh" của làng rèn Hiền Lương hoạt động ra sao?

Thợ rèn Hiền Lương tổ chức mạng lưới đưa sản phẩm nông cụ và lập các phường rèn lưu động tỏa đi khắp các tỉnh miền Trung và Nam Bộ (từ Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định đến Nha Trang và Nam Bộ) theo sơ đồ phân phối thị trường vùng, tạo nên mạng lưới kinh tế liên làng vượt ra ngoài phạm vi Thừa Thiên Huế.

Kết luận

Luận án của tác giả Bùi Thị Tân là công trình chuyên khảo lịch sử phục dựng bức tranh toàn diện về hai làng nghề kim khí tiêu biểu Phú Bài và Hiền Lương trong mối liên hệ mật thiết với tiến trình phát triển làng xã Thừa Thiên Huế từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX. Bằng việc khai thác triệt để khối tư liệu Hán Nôm và khảo sát điền dã thực địa, tác giả đã làm rõ quy luật kết hợp giữa nông nghiệp tiểu nông với kinh tế thủ công nghiệp chuyên nghiệp hóa và thương nghiệp lưu thông. Công trình đóng góp nguồn tư liệu xác thực cho lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thời trung - cận đại, đồng thời phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục đại học và biên soạn địa chí địa phương.