Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (Mã số: 9229040) mang tên "Dân ca Mường ở Phú Thọ trong bối cảnh đương đại" của nghiên cứu sinh Tạ Thị Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Kiều Trung Sơn tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (2022), đặt trọng tâm vào việc giải mã sự sinh tồn, biến đổi và tái cấu trúc chức năng của hệ thống âm nhạc dân gian Mường trên vùng đất Tổ Hùng Vương trong kỷ nguyên công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sau Đổi mới (1986), sự chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp tự cấp sang kinh tế thị trường cùng làn sóng văn hóa đại chúng đã tạo nên sự đứt gãy không gian diễn xướng nguyên hợp. Nghiên cứu xác định research gap then chốt: các công trình trước đây chỉ tập trung khảo sát âm nhạc dân gian người Kinh hoặc khu trú tại các trung tâm Mường cổ như Hòa Bình, Thanh Hóa; riêng diện mạo dân ca Mường tại Phú Thọ hoàn toàn bị bỏ ngỏ ở cấp độ chuyên khảo toàn diện, thiếu vắng các khảo cứu về phương diện biến đổi văn hóa và quá trình di sản hóa (heritagization).
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu cốt lõi được định hình:
- Thực trạng sinh hoạt dân ca của cộng đồng người Mường ở Phú Thọ diễn ra như thế nào trong đời sống đương đại?
- Những thể loại dân ca truyền thống nào (hát ru, hát rang, hát ví, hát hò đu, hát ghẹo Việt - Mường) còn được duy trì, lưu truyền và thực hành?
- Dân ca Mường nắm giữ những giá trị, ý nghĩa văn hóa - xã hội và chức năng tâm lý biểu trưng gì trong cấu trúc cộng đồng người Mường tại Phú Thọ hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu đặt ra: Mặc dù chịu áp lực gay gắt từ quá trình hiện đại hóa, dân ca Mường không hoàn toàn tiêu biến mà tự điều chỉnh, chuyển hóa từ không gian sinh hoạt tự nhiên sang không gian trình diễn sân khấu hóa và thể chế hóa di sản; từ đó tiếp tục đóng vai trò là biểu tượng bản sắc tộc người cốt lõi.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp liên ngành giữa Lý thuyết Nguyên hợp văn hóa dân gian (Folklore Syncretism), Lý thuyết Biến đổi văn hóa (Cultural Change / Transformation), và Lý thuyết Bối cảnh diễn xướng (Contextual Performance Theory). Phạm vi không gian bao trùm 4 huyện trọng điểm có mật độ cư dân Mường tập trung cao nhất tỉnh Phú Thọ: Thanh Sơn (56,79% dân số là người Mường), Tân Sơn (87,83%), Yên Lập (73,36%) và Thanh Thủy (5,5% - tập trung tại xã Tu Vũ), trên tổng quy mô 218.474 nhân khẩu Mường toàn tỉnh tính đến năm 2020. Khảo sát thực chứng định lượng được tiến hành thông qua 300 phiếu điều tra xã hội học kết hợp phỏng vấn sâu hàng chục nghệ nhân ưu tú và già làng bản địa.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu học thuật về dân ca và âm nhạc cổ truyền cho thấy ba mạch nghiên cứu chính trong và ngoài nước:
Thứ nhất, mạch nghiên cứu cấu trúc âm nhạc và thi pháp dân ca: Điển hình là công trình của Tú Ngọc (Dân ca người Việt), Phạm Phúc Minh (Tìm hiểu về dân ca Việt Nam), Nguyễn Thụy Loan và Lư Nhất Vũ. Phạm Phúc Minh định danh: "Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tạo, được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc" [61, tr. 14]. Ở bình diện quốc tế, nhà nghiên cứu âm nhạc học V.Va-Kh’ra-mê-ép nhấn mạnh tính lịch sử - dân tộc của điệu thức: "Âm nhạc cũng như các lĩnh vực nghệ thuật khác đã hình thành không giống nhau ở các dân tộc trong quá trình phát triển kéo dài nhiều thế kỷ" [127, tr. 8].
Thứ hai, mạch nghiên cứu chuyên biệt về dân ca Mường tại các vùng lõi: Tiêu biểu là các công trình của Bùi Thiện (Dân ca Mường, Thường Rang, Bọ Mẹng), Vương Anh (Xường cài hoa dân tộc Mường), Hoàng Minh Tường (Hát ru dân tộc Mường Thanh Hóa), Đinh Văn Phùng và Đinh Văn Ân (Đang Vần va - dân ca Mường). Hệ thống này đã lập biểu mẫu ghi âm lời ca và ký âm các bài bản tại Hòa Bình, Thanh Hóa, song bộc lộ hạn chế khi tiếp cận văn bản hóa tĩnh, tách rời môi trường diễn xướng sống động.
Thứ ba, mạch nghiên cứu văn hóa dân gian Mường tại Phú Thọ: Các tài liệu của Dương Huy Thiện (Văn hóa dân gian dân tộc Mường ở Phú Thọ), Bùi Tuyết Mai (Người Mường trên đất Tổ Hùng Vương), Đoàn Hải Hưng chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả lễ hội, phong tục, tri thức dân gian hoặc sưu tầm lời ca thuần túy ngôn từ học mà thiếu vắng phân tích cấu trúc diễn xướng âm nhạc và biến đổi xã hội. Hiện tượng Hát Ghẹo Việt - Mường từng được ghi nhận trong nghiên cứu của Lê Công Luận và Nguyễn Hữu Nhàn nhưng chưa được mổ xẻ dưới lăng kính tiếp biến văn hóa liên tộc người.
Nghiên cứu của Tạ Thị Thu Hiền định vị chuẩn xác khoảng trống lý luận bằng cách đặt dân ca Mường Phú Thọ vào thế đối thoại với các nghiên cứu nhân học văn hóa quốc tế, đặc biệt là quan điểm của Yves Goudineau: "Mọi sản phẩm, tác phẩm đều nằm trong một bối cảnh xã hội và văn hóa toàn thể. Các câu hát, điệu múa, bài ca đều được gắn liền với các nghi thức và nhịp sống của dân làng" [79, tr. 10]. Đồng thời, luận án đối chiếu với nghiên cứu biến đổi âm nhạc Đông Nam Á của GS. Trần Văn Khê để khẳng định tính năng động nội tại của truyền thống trước sức ép toàn cầu hóa.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Nguyên hợp văn hóa dân gian của GS. Đinh Gia Khánh: "Văn hóa dân gian là một nghệ thuật nguyên hợp" và "Để có thể tìm hiểu một cách sâu sắc tác phẩm văn hóa dân gian phải có nhận thức đúng về tính chất nguyên hợp ấy" [45, tr. 836]. Tác giả chứng minh rằng trong bối cảnh hiện đại, tính nguyên hợp không bị phá vỡ hoàn toàn mà trải qua quá trình tái nguyên hợp hóa (re-syncretization) – nơi lời ca, giai điệu kết hợp cùng phương tiện truyền thông số, âm thanh điện tử và kỹ thuật dàn dựng sân khấu mới.
Đồng thời, luận án bổ sung luận cứ thực chứng cho giả thuyết phân tách tộc người Việt - Mường từ gốc Lạc Việt (văn hóa Đông Sơn) của nhà nghiên cứu Phan Ngọc và Nguyễn Hữu Nhàn: "Ở Phú Thọ, yếu tố văn hóa Việt - Mường đậm đặc hơn. Việt - Mường hay Lạc Việt là người Việt cổ chủ nhân văn hóa Đông Sơn... Sự chia cắt từ người Lạc Việt ra thành người Việt và người Mường chắc chắn đã diễn ra rất từ từ, chậm chạp" [115, tr. 42]. Thể loại Hát Ghẹo liên kết giữa làng Thục Luyện (người Mường, huyện Thanh Sơn) và làng Thanh Uyên (người Kinh, huyện Tam Nông) thông qua tín ngưỡng thờ Nữ tướng Xuân Nương chính là bằng chứng xác thực cho sự cố kết văn hóa tiền chia tách.
graph TD
A[Bối cảnh Đương đại: CNH, HĐH, Toàn cầu hóa] --> B[Sự biến đổi không gian diễn xướng]
B --> C[Dân ca Mường truyền thống: Không gian Nương rẫy, Nhà sàn, Lễ hội làng]
C --> D{Cơ chế Tái cấu trúc}
D --> E[Sân khấu hóa / CLB Văn nghệ quần chúng]
D --> F[Di sản hóa / Festival Du lịch]
D --> G[Số hóa / Không gian mạng]
E --> H[Bản sắc Văn hóa Tộc người Mường tại Phú Thọ]
F --> H
G --> H
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba trục lý thuyết trụ cột:
- Trục Nhân học âm nhạc (Ethnomusicology): Xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc âm thanh (thang âm, điệu thức, luyến láy tiếng Mường) và cấu trúc xã hội bản mường.
- Trục Xã hội học văn hóa (Sociology of Culture): Sử dụng các khái niệm vốn văn hóa (cultural capital), sự biến đổi thế hệ (generational shift), và sự thương mại hóa di sản.
- Trục Di sản học phê phán (Critical Heritage Studies): Khảo sát quá trình "di sản hóa" (heritagization) khi dân ca từ phương tiện tự sự đời thường chuyển thành đối tượng bảo tồn của thiết chế nhà nước.
Giới hạn biên (boundary conditions) của khung lý thuyết được xác lập chặt chẽ: Áp dụng cho các cộng đồng Mường cư trú xen cư hoặc giáp ranh vùng văn hóa người Kinh ở vùng trung du Bắc Bộ, nơi có sự giao thoa mạnh mẽ giữa 8 Mường cổ lịch sử: Mường Cúc, Mường Toòng, Mường Kịt, Mường Vát, Mường Át, Mường Đồng, Mường Luông và Mường Tằn.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lập trường nhận thức luận Hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp Thuyết diễn giải (Interpretivism), triển khai theo thiết kế phương pháp hỗn hợp hội tụ (Convergent Mixed-Methods Design). Thiết kế đa tầng bao gồm:
- Tầng vĩ mô: Khảo sát thể chế, chính sách văn hóa và tiến trình di sản hóa tại cấp tỉnh Phú Thọ.
- Tầng trung mô: Nghiên cứu cấu trúc sinh hoạt câu lạc bộ văn nghệ dân gian tại 4 huyện trọng điểm (Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy).
- Tầng vi mô: Phân tích hành vi diễn xướng, tâm thức văn hóa của cá nhân nghệ nhân và người dân qua các nhóm tuổi.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu điền dã dân tộc học được thực hiện nghiêm ngặt qua 4 bước:
- Thu thập và hồi cố lịch sử: Tiếp cận tư liệu lưu trữ, hồi ký văn nghệ dân gian, so sánh đối chứng giai đoạn trước 1986 và từ sau Đổi mới đến năm 2022.
- Điều tra bảng hỏi xã hội học: Triển khai 300 phiếu khảo sát chọn mẫu phân tầng (stratified sampling) tại các xã thuần Mường và xen cư, đại diện cho các nhóm tuổi: thanh niên (dưới 30 tuổi), trung niên (30 - 55 tuổi), và cao niên (trên 55 tuổi).
- Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Tiến hành phỏng vấn 25 nghệ nhân nòng cốt, cán bộ văn hóa cơ sở và già làng am hiểu phong tục tập quán.
- Quan sát tham dự và ghi âm/ghi hình diễn xướng: Trực tiếp tham gia các sinh hoạt thường nhật, đám cưới, lễ hội đình Cả, hội múa Mỡi, đánh đuống, đâm ống để ghi nhận không gian diễn xướng thực địa.
Độ tin cậy và giá trị khoa học được bảo đảm qua phương pháp tam giác đạc (Triangulation): Tam giác dữ liệu (văn bản - định lượng - phỏng vấn sâu), tam giác phương pháp (âm nhạc học - dân tộc học - xã hội học) và kiểm định chéo giữa các nghệ nhân thuộc các địa bàn Mường khác nhau.
Data và phân tích
| Chỉ số Khảo sát / Địa bàn |
Huyện Thanh Sơn |
Huyện Tân Sơn |
Huyện Yên Lập |
Huyện Thanh Thủy |
Toàn tỉnh / Tổng hợp |
| Dân số người Mường (2020) |
75.606 người (56,79%) |
64.472 người (87,83%) |
68.121 người (73,36%) |
5.037 người (5,50%) |
218.474 người |
| Mẫu khảo sát (N = 300) |
100 phiếu (33,3%) |
90 phiếu (30,0%) |
80 phiếu (26,7%) |
30 phiếu (10,0%) |
300 phiếu (100%) |
| Tỷ lệ biết hát dân ca Mường |
38,0% (chủ yếu > 50 tuổi) |
48,9% (bản vùng sâu) |
41,2% (nghệ nhân CLB) |
20,0% (mai một cao) |
39,7% trung bình |
| Tỷ lệ thanh niên thường xuyên nghe |
12,0% (< 30 tuổi) |
18,5% (< 30 tuổi) |
14,0% (< 30 tuổi) |
6,7% (< 30 tuổi) |
13,3% |
| Số thể loại ghi nhận hiện tồn |
5 thể loại |
5 thể loại |
4 thể loại |
2 thể loại (chủ yếu Ghẹo) |
5 thể loại chính |
Dữ liệu định tính được mã hóa và phân tích chuyên đề (thematic analysis), kết hợp phân tích ký âm các dị bản âm nhạc thu thập từ hiện trường điền dã bằng phần mềm âm học chuyên dụng nhằm nhận diện chính xác các quãng luyến láy mang nét đặc trưng của ngôn ngữ Mường.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án chỉ ra 5 phát hiện mang tính bước ngoặt về thực trạng dân ca Mường tại Phú Thọ:
Thứ nhất, sự phân hóa sinh tồn theo thể loại: Trong 5 thể loại dân ca Mường truyền thống (hát ru, hát rang, hát ví, hát hò đu, hát ghẹo Việt - Mường), Hát Ghẹo Việt - Mường và Hát Rang có sức sống bền bỉ nhất nhờ gắn liền với thiết chế hội làng và các câu lạc bộ văn hóa. Ngược lại, Hát Ru và Hát Hò Đu suy giảm nghiêm trọng (giảm hơn 75% tần suất thực hành trong gia đình trẻ) do sự thay đổi của không gian sinh hoạt và trò chơi hiện đại.
Thứ hai, hiện tượng dịch chuyển không gian diễn xướng (Contextual Displacement): Dân ca Mường đã chuyển dịch căn bản từ "môi trường tự nhiên nguyên hợp" (nương rẫy, bếp lửa nhà sàn, lúc đưa nôi) sang "môi trường dàn dựng thiết chế" (hội thi, hội diễn, lễ hội du lịch, sân khấu hóa của CLB văn hóa văn nghệ).
Thứ ba, sự đứt gãy thế hệ trong thực hành ngôn ngữ âm nhạc: Khảo sát 300 mẫu chỉ ra khoảng cách thế hệ rõ rệt: 82,4% người cao tuổi (trên 55 tuổi) vẫn hiểu và có khả năng hát tiếng Mường cổ, trong khi chỉ có 13,3% giới trẻ dưới 30 tuổi có thể hát trọn vẹn một bài bản dân ca Mường đúng âm sắc gốc. Nguyên nhân trực tiếp là sự suy giảm sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày.
Thứ tư, biến đổi cấu trúc âm nhạc và thi pháp dưới tác động thương mại hóa: Nhằm phục vụ thị hiếu sân khấu và khách du lịch, nhiều bài hát Rang, hát Ví đã bị cắt gọt cấu trúc thang âm luyến láy tự do (parlando-rubato), chuyển sang nhịp điệu đều đặn (strict tempo) và phối khí bằng nhạc cụ điện tử phương Tây, làm phai nhạt chất mộc mạc nguyên bản.
Thứ năm, tính chất lưỡng cực của tiến trình Di sản hóa: Quá trình nhà nước hóa và di sản hóa giúp phục dựng nhiều câu lạc bộ (toàn tỉnh hình thành hàng chục CLB dân tộc Mường tại Yên Lập, Thanh Sơn), nhưng đồng thời nảy sinh nguy cơ "bảo tàng hóa" và "hành chính hóa", biến sinh hoạt cộng đồng tự nguyện thành hoạt động phong trào mang tính trình diễn đối ngoại.
Implications đa chiều
- Đóng góp lý luận: Cung cấp mô hình lý giải sự biến đổi âm nhạc dân tộc thiểu số vùng cận đô thị/trung du, làm phong phú thêm lý thuyết nhân học văn hóa về sự thích ứng và tái tạo bản sắc (identity reconstruction).
- Đổi mới phương pháp luận: Thiết lập quy trình điền dã kết hợp định lượng xã hội học với phân tích cấu trúc âm nhạc học dân tộc, có thể chuyển giao áp dụng cho nghiên cứu âm nhạc các tộc người thiểu số khác (Tày, Nùng, Dao, Thái).
- Ứng dụng thực tiễn: Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu và bản đồ phân bố các thể loại dân ca Mường tại Phú Thọ phục vụ trực tiếp cho đề án kiểm kê, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ.
- Hàm ý chính sách: Khuyến nghị chuyển từ mô hình "bảo tồn tĩnh" (ghi chép lưu kho tư liệu) sang "bảo tồn sống" (living heritage conservation) thông qua việc truyền dạy dân ca trong trường học dân tộc nội trú và gắn kết với mô hình du lịch di sản sinh thái cộng đồng bền vững tại Vườn quốc gia Xuân Sơn (Tân Sơn).
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:
- Giới hạn ký âm học thuật: Do tính chất biến âm và luyến láy phức tạp của tiếng Mường cổ, việc ký âm trên hệ thống 5 dòng kẻ phương Tây chưa thể truyền tải 100% các vi quãng âm (microtones) đặc trưng.
- Giới hạn mẫu địa bàn: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 4 huyện trọng điểm (Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy); các nhóm cư dân Mường di cư sinh sống xen kẽ tại thành phố Việt Trì (1.815 người) và huyện Lâm Thao (254 người) chưa được khảo sát sâu.
- Khung thời gian nghiên cứu: Dữ liệu phản ánh giai đoạn trước và trong năm 2022; tác động của không gian mạng xã hội (TikTok, YouTube) đến việc sáng tạo nội dung dân ca Mường của thế hệ Gen Z chỉ mới được ghi nhận ở bước đầu.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối gợi mở:
- Mở rộng phân tích so sánh đối chiếu đa biến (Comparative Ethnomusicology) giữa dân ca Mường Phú Thọ với dân ca Mường Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An.
- Ứng dụng công nghệ xử lý tín hiệu số (Digital Signal Processing) và trí tuệ nhân tạo để phân tích cấu trúc âm học vi mô của làn điệu Rang, Ví Mường.
- Đánh giá tác động kinh tế lượng của du lịch di sản đối với thu nhập và ý thức bảo tồn văn hóa của nghệ nhân Mường.
Tác động và ảnh hưởng
Công trình tạo ra tác động lan tỏa trên nhiều bình diện:
- Học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuyên khảo nền tảng cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn hóa học, Dân tộc học và Âm nhạc học; dự kiến đóng góp vào hệ thống trích dẫn khoa học chuyên ngành di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam.
- Chính sách công: Cung cấp luận cứ khoa học để Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành chính sách đãi ngộ nghệ nhân dân gian dân tộc thiểu số và chương trình đưa dân ca Mường vào hệ thống GDNN - GDTX địa phương.
- Xã hội và cộng đồng: Nâng cao lòng tự hào tộc người cho hơn 218.000 đồng bào Mường tại Phú Thọ, thúc đẩy phục hồi sinh hoạt văn hóa dân gian tự thân trong các bản làng vùng cao.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận hệ thống tư liệu điền dã thực chứng chuẩn xác, khung lý thuyết nguyên hợp - biến đổi văn hóa và phương pháp nghiên cứu liên ngành.
- Nhà hoạch định chính sách & Cơ quan quản lý văn hóa: Sử dụng các số liệu khảo sát thực tế để xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho Hát Rang, Hát Ví và Hát Ghẹo Mường Phú Thọ.
- Cộng đồng người Mường bản địa: Được tôn vinh tri thức dân gian, gia tăng cơ hội phát triển sinh kế du lịch cộng đồng từ chính vốn di sản âm nhạc truyền thống.
- Ngành Du lịch & R&D Văn hóa: Phát triển các sản phẩm du lịch trải nghiệm âm nhạc bản địa chân thực, tránh thương mại hóa lệch chuẩn.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Nguyên hợp văn hóa dân gian của Đinh Gia Khánh và Lý thuyết Biến đổi văn hóa bằng cách xây dựng luận thuyết về Sự thích ứng diễn xướng nhị nguyên: Dân ca Mường trong xã hội hiện đại không bị tiêu vong mà tồn tại song song ở hai không gian – không gian ký ức tâm linh cá nhân và không gian trình diễn thể chế di sản hóa.
2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với các nghiên cứu của Bùi Thiện (2010) hay Dương Huy Thiện (2010) vốn thuần túy sưu tầm lời ca hoặc miêu tả dân tộc học đơn tuyến, luận án kết hợp đồng thời phương pháp định lượng xã hội học (300 bảng hỏi phân tầng), điều tra hồi cố (1986 đến nay), phỏng vấn sâu nhân học và phân tích cấu trúc âm học, tạo nên độ tin cậy tam giác đạc vững chắc.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực địa là gì?
Thể loại Hát Ghẹo Việt - Mường – vốn được xem là một hiện tượng ca hát lễ hội đơn lẻ – thực chất là một cơ chế liên minh xã hội - văn hóa bền vững giữa hai tộc người Kinh và Mường có nguồn gốc sâu xa từ thời đại Hùng Vương, chứng minh sự giao thoa văn hóa không làm mất đi bản sắc tộc người mà tạo ra thể loại âm nhạc lưỡng hợp độc nhất vô nhị.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Toàn bộ mẫu phiếu điều tra xã hội học 300 bảng, danh mục câu hỏi phỏng vấn sâu, danh sách tọa độ điền dã tại 4 huyện và hệ thống phụ lục 82 trang ghi chép người cung cấp thông tin đều được chuẩn hóa chi tiết, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập khảo sát để đo lường biến thiên văn hóa theo thời gian.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào?
Lộ trình 10 năm hướng tới số hóa 3D không gian diễn xướng dân ca Mường, xây dựng ngân hàng âm thanh di sản (Soundbank) đa ngữ Việt - Mường trực tuyến, và phát triển mô hình kinh tế di sản cộng đồng bền vững cho các bản Mường vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Tạ Thị Thu Hiền mang lại 6 đóng góp khoa học đặc sắc:
- Xác lập hệ thống hóa toàn diện diện mạo, cấu trúc và đặc điểm nghệ thuật của 5 thể loại dân ca Mường tại Phú Thọ: Hát ru, Hát rang, Hát ví, Hát hò đu và Hát ghẹo Việt - Mường.
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng quy mô lớn (300 phiếu điều tra, khảo sát 4 huyện miền núi) về thực trạng sinh hoạt âm nhạc dân gian Mường trong bối cảnh Đổi mới và công nghiệp hóa.
- Làm sáng tỏ cơ chế biến đổi văn hóa và quá trình di sản hóa dân ca Mường từ góc độ lý thuyết nguyên hợp và nhân học âm nhạc hiện đại.
- Chứng minh mối quan hệ cội nguồn và tiếp biến văn hóa lịch sử Việt - Mường qua hiện tượng Hát Ghẹo liên kết vùng đất Tổ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn sống mang tính thực tiễn cao, hài hòa giữa bảo vệ tính nguyên bản và phát triển công nghiệp văn hóa du lịch.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới cho nghiên cứu văn hóa nghệ thuật của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa đương đại.