Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về huyện Long Điền. Trình bày một số vấn đề về cơ sở lý luận, bao gồm một số khái niệm, quan điểm tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu vấn đề…Đồng thời giới thiệu tổng quan về huyện Long Điền, điều kiện tự nhiên, lịch sử, dân cƣ, cho đến kinh tế, văn hóa, xã hội. 8 Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển huyện Long Điền. Trình bày thực trạng tín ngƣỡng dân gian của cƣ dân ven biển huyện Long Điền.
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển huyện Long Điền. -Giá trị văn hóa của tín ngƣỡng dân gian cộng đồng cƣ dân ven biển huyện Long Điền. -Giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngƣỡng dân gian cộng đồng cƣ dân ven biển huyện Long Điền. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN LONG ĐIỀN 1.
Khái niệm Tín ngƣỡng dân gian (folk belief) Về thuật ngữ tín ngƣỡng dân gian, theo B. Patrick: "Tín ngƣỡng dân gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà ngƣời ta gọi là mê tín, tín ngƣỡng bình dân, làm phép, các hiện tƣợng siêu nhiên, các lời cầu khấn tụng niệm, những ngƣời hay vật mang đồ rủi,những điềm tốt hay điềm xấu, các chuyện yêu ma và những điều cấm kị" [49, tr. Lê Nhƣ Hoa đã đƣa ra định nghĩa tƣơng đối phù hợp:“Tín ngƣỡng dân gian là những hình thái tôn giáo sơ khai, chúng đƣợc hình thành trên cơ sở những tâm cách nguyên thủy (primitive mentality) để nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kỹ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh. Tín ngƣỡng dân gian ở đây nhằm phân biệt với những tín ngƣỡng, tôn giáo chính thống của những xã hội đã có nhà nƣớc”[21, tr.23] Theo chúng tôi, tín ngƣỡng dân gian là hình thái tôn giáo sơ khai, là niềm tin của con ngƣời vào đấng siêu nhiên, vào các đối tƣợng thần linh mà họ ngƣỡng vọng.
Nó gần gũi với cuộc sống hằng ngày và có thể thực hành niềm tin đó bằng những phƣơng cách đơn giản, mang tính dân dã, khác với tôn giáo ẩn chứa cả một hệ thống triết lý. Ngô Đức Thịnh đƣa ra cách phân loại các hình thức tín ngƣỡng dân gian Việt Nam: -Thờ cúng tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia): tô tem giáo. -Tín ngƣỡng cá nhân (vòng đời ngƣời): thờ cúng Bà Mụ (sinh đẻ), thờ ông Tơ, bà Nguyệt (cƣới xin), thờ thần bản mệnh, tang ma và thờ cúng ngƣời chết. 10 -Tín ngƣỡng nghề nghiệp: tín ngƣỡng nông nghiệp, thờ Thánh sƣ (tổ nghề), thờ thần Tài (nghề buôn), thờ Cá Ông (ngƣ dân).
-Tín ngƣỡng thờ Thần (đạo thờ Thần): Thành Hoàng làng, Đạo Mẫu, thờ các anh hùng dân tộc, thờ Thổ thần (Thổ công-Thổ thần), Sơn thần, Thủy thần.20-21] Cách phân loại này không khoa học, do không dựa vào bản chất đối tƣợng để đƣa ra tiêu chí phân loại nhƣ dựa vào nguồn gốc, phạm vi thờ cúng… Một cách phân loại khác về tín ngƣỡng dân gian của tộc ngƣời Việt là: -Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ, -Tín ngƣỡng thờ các anh hùng dân tộc, -Tín ngƣỡng thờ Mẫu, -Tín ngƣỡng nghề nghiệp, -Tín ngƣỡng tổ nghề, -Tín ngƣỡng ngƣ nghiệp, -Tín ngƣỡng theo nghi lễ vòng đời ngƣời.35-37] Trong luận văn của mình, chúng tôi phân loại tín ngƣỡng của cƣ dân ven biển huyện Long Điền dựa vào nguồn gốc đối tƣợng: tín ngƣỡng nhiên thần và tín ngƣỡng nhân thần. Tín ngƣỡng nhiên thần là tín ngƣỡng liên quan đến việc thờ cúng các thần linh trong tự nhiên nhƣ thờ động vật, thực vật, đất đai, sông nƣớc, các hiện tƣợng tự nhiên…Tín ngƣỡng nhân thần là tín ngƣỡng liên quan đến việc thờ cúng các thần linh nhƣ các nhân vật lịch sử, anh hùng, những ngƣời có công với nƣớc, truyền dạy nghề cho dân chúng… 1. Lý thuyết tiếp cận Tín ngƣỡng là sản phẩm văn hóa do con ngƣời sáng tạo ra, có mối liên hệ với tự nhiên, xã hội và mỗi tín ngƣỡng đều có vai trò trong đời sống của con ngƣời điều đó lý giải về sự ra đời và tồn tại lâu dài của tín ngƣỡng. 11 Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề này tôi chọn hƣớng tiếp cận sau.
* Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural Ecology) Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của mỗi tộc ngƣời đều liên quan chặt chẽ với đặc điểm địa lý từng vùng. Con ngƣời đã biết dựa vào điều kiện tự nhiên để sinh tồn và phát triển. Mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên luôn là lĩnh vực nghiên cứu không thể bỏ qua. Việc tìm hiểu và lý giải mối quan hệ giữa văn hóa với môi trƣờng sinh thái trong quá trình phát triển xã hội của con ngƣời dựa trên lý thuyết sinh thái văn hóa là cách tiếp cận quan trọng trong công trình nghiên cứu này.
Môi trƣờng sinh thái tác động đến khả năng thích ứng của con ngƣời, tạo nên một đặc trƣng văn hóa vùng miền. Với khả năng thích ứng với hệ sinh thái, con ngƣời có thể làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên. Sinh thái văn hóa là quá trình một tộc ngƣời thích nghi với môi trƣờng tự nhiên xung quanh, môi trƣờng xã hội. Đó là sự nhận thức về thế giới quan, phƣơng thức sản xuất, phƣơng thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngƣỡng, phong tục tập quán.Con ngƣời phải thích nghi với môi trƣờng sinh thái tự nhiên nhƣ đất đai, sông suối, ao hồ, rừng rậm, biển cả.với hệ thống động thực vật, khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Qua sự nhận thức hợp lý về môi trƣờng sinh thái tự nhiên, con ngƣời quyết định phƣơng thức sản xuất và lựa chọn hình thức cƣ trú, hành vi ứng xử và khế ƣớc nhất định với thế giới tự nhiên.9-10] Sinh thái tộc ngƣời (Ethno-Ecology) là sự tổng hợp các nhân tố tự nhiên và nhân văn của một tộc ngƣời hay một nhóm dân tộc, có sự đồng nhất về môi trƣờng sống, trình độ phát triển kinh tế-xã hội, từ đó hình thành nên hệ thống tri thức bản địa về ứng xử môi trƣờng, tổ chức và ứng xử xã hội và truyền thống văn hóa. Hai nhân tố cơ bản của sinh thái tộc ngƣời là môi trƣờng tự nhiên sinh tồn của tộc ngƣời và môi trƣờng xã hội, văn hóa của tộc 12 ngƣời. Khi có sự tƣơng đồng giữa hai nhân tố ấy thì con ngƣời mới tồn tại và đƣợc tác động của nhân tố sinh thái tộc ngƣời. Con ngƣời đã biết dựa vào thiên nhiên để sinh tồn và phát triển.
Môi trƣờng sinh thái tốt hay xấu đều tác động đến khả năng thích nghi của con ngƣời, tạo nên đặc trƣng văn hóa vùng.9-10] Julian Steward (1902 – 1972) cho rằng: “Nhân học sinh thái là sự tƣơng tác giữa tự nhiên và văn hóa. Nghiên cứu sinh thái văn hóa là phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trƣờng của nó. Mục đích là để tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tiến hóa bắt đầu từ sự thích nghi với môi trƣờng để biến thành một nền văn hóa. Vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa với môi trƣờng, trong đó thể hiện sự tƣơng tác của môi trƣờng văn hóa và sự tác động ngƣợc lại của văn hóa với cách con ngƣời tác động đến môi trƣờng tự nhiên” [10, tr.
Sinh thái văn hóa là sự trải nghiệm của con ngƣời khi thích nghi với môi trƣờng thiên nhiên cụ thể theo những cách khác nhau và sáng tạo nên những dạng thức văn hóa. Ngƣời nào cũng phải sinh sống trong một môi trƣờng tự nhiên, thế giới họ có thể trải nghiệm thông qua các giác quan nhƣng họ sẽ nhận thức nó theo nhu cầu thích nghi và bối cảnh văn hóa của họ.24] Nhà nhân học Mỹ Emilio F. Moran chỉ ra phƣơng pháp nghiên cứu nhân học sinh thái là giải quyết vấn đề con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên trên phạm vi rộng, định chế xã hội và cách thức giải quyết vấn đề môi trƣờng trƣớc đây, không chỉ nghiên cứu cơ chế “thích ứng”. Thích ứng / thích nghi đƣợc J.
Steward sử dụng để lý giải hành vi văn hóa của con ngƣời đối với môi trƣờng tự nhiên. Khái niệm này không chỉ xác định vai trò, vị trí của con ngƣời trong hệ sinh thái tự nhiên mà còn xác lập mối quan hệ giữa con ngƣời 13 với tự nhiên của con ngƣời với môi trƣờng mà còn dùng những nghiên cứu định tính để trả lời những vấn đề: “Con ngƣời làm thế nào để điều tiết bản thân thích ứng với sự biến đổi môi trƣờng” [5, tr.24-25] Chúng tôi vận dụng lý thuyết này nhằm mục đích giải thích mối quan hệ giữa môi trƣờng sống tự nhiên với tín ngƣỡng dân gian của cƣ dân ven biển huyện Long Điền. * Lý thuyết chức năng (Functionalism) Lý thuyết chức năng chủ yếu nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tƣ cách là một cấu trúc tƣơng đối ổn định. Thuyết chức năng xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX, gắn liền với tên tuổi của Bronislaw Malinowski (1884-1942) và Arthur Reginald Radcliffe-Brown (1881-1995).
Quan điểm của hai ông là không xem những tập tục của các xã hội có quy mô nhỏ nhƣ là tàn dƣ của một thời kì trƣớc đó, mà phải giải thích theo chức năng hiện thời của chúng. Malinowski thuộc chức năng về tâm lý, cho rằng chức năng của các tập tục là để thỏa mãn những nhu cầu sinh học chủ yếu của cá nhân thông qua phƣơng tiện văn hóa. Theo ông, để giải thích các tập tục phải dựa vào chức năng hiện có của chúng và điều này sẽ làm cho việc kiểm chứng đƣợc dễ dàng và khoa học hơn. Ông đƣa ra ví dụ ngƣời dân đảo Trobriand, trong những trƣờng hợp đƣợc xem là nguy hiểm nhƣ khi đóng thuyền đi biển, trong quá trình hoàn tất chiếc thuyền, ngƣời thợ thƣờng đọc những “thần chú” hoặc khi đi đánh bắt ngoài biển khơi, họ luôn thực hiện những nghi lễ “bùa phép”.
Giải thích cho hai trƣờng hợp này, B. Malinowski cho rằng việc “đọc thần chú” và “làm bùa phép” là nhằm trấn an tâm lý của con ngƣời, giúp cho ngƣời thợ có sự tự tin để hoàn thành con thuyền và ngƣời đánh cá sẽ an tâm hơn khi đối mặt với biển cả. Do đó, những tập tục xuất hiện trong đời sống 14 cộng đồng đều gắn liền với một chức năng nào đó vào mặt tâm lý của con ngƣời và những tập tục xuất hiện theo nguyên tắc của nó.