phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn còn có phần nội dung đƣợc chia làm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về nghi lễ cộng đồng và tổng quan về ngƣời Xơ Đăng nhóm Tơđrá Chương 2. Nghi lễ cộng đồng và chức năng nghi lễ cộng đồng của ngƣời Xơ Đăng nhóm Tơđrá Chương 3. Bảo tồn và phát huy nghi lễ cộng đồng của ngƣời Xơ Đăng nhóm Tơđrá 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHI LỄ CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI XƠ ĐĂNG 1.
Cơ sở lí luận * Một số khái niệm công cụ - Cộng đồng Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng (Community) có nhiều nghĩa khác nhau, đồng thời cộng đồng cũng là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhƣ: Xã hội học, Dân tộc học, Y học v.v… Khái niệm cộng đồng thƣờng dùng để chỉ nhiều đối tƣợng có nhiều đặc điểm khác nhau về qui mô và đặc tính xã hội. Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp ngƣời với các liên minh rộng lớn nhƣ toàn thế giới (cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng châu Á, cộng đồng châu Âu, Mĩ, Phi v.v… một khu vực (cộng đồng ASEAN). Cộng đồng còn đƣợc áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tƣơng đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo (cộng đồng ngƣời Do Thái, cộng đồng ngƣời da đen tại Hoa Kỳ v.v… Nhỏ hơn nữa, cộng đồng còn đƣợc dùng khi đƣợc gọi tên các đơn vị nhƣ làng/bản, xã, huyện, v.v… nhƣ vậy ý nghĩa cộng đồng ở đây là nói về những ngƣời có chung lý tƣởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội v.v… Khái niệm cộng đồng bao gồm từ các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ là nhóm xã hội có lúc khá phân tán, chỉ đƣợc liên kết với nhau bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời và thời gian nhất định chẳng hạn nhƣ: phong trào quần chúng, công chúng và đám đông. Nhƣ vậy, có thể phân thành hai dạng cộng đồng dựa trên cấu trúc xã hội và tính chất liên kết xã hội: + Dạng cộng đồng thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó có những đặc trƣng đƣợc xác định nhƣ: tình cảm, ý thức và chuẩn mực xã hội.
Dạng cộng đồng này đƣợc gọi là cộng đồng tính. + Dạng cộng đồng mà đƣợc xác định là nhóm ngƣời cụ thể, những nhóm xã hội có liên kết với nhau ở nhiều qui mô khác nhau, kể từ đơn vị nhỏ nhất 17 nhƣ gia đình cho đến các quốc gia và toàn thế giới. Dạng cộng đồng này gọi là cộng đồng thể [27, tr. Tonnies – nhà xã hội học ngƣời Đức đã phân chia xã hội thành hai dạng có liên quan đến sự phát triển nghề nghiệp nhƣ: Dạng xã hội thứ nhất gần nhƣ cộng đồng tính bao gồm các cộng đồng truyền thống tiền công nghiệp và thuộc các cộng đồng thể thuộc xã hội công nghiệp và đô thị.
Về mặt tổ chức xã hội, ngƣời ta cho rằng có 3 tổ chức gắn kết với nhau để tạo thành cộng đồng là: 1. Dòng họ hay dòng tộc; 2. Đẳng cấp hay tầng lớp xã hội và 3. Câu lạc bộ.
Nhƣ vậy, tổ chức 1 và 2 gần với dạng cộng đồng tính còn dạng câu lạc bộ gần với hiệp hội nhƣ cách chia của F. Từ những quan điểm trên, có thể rút ra những nhận xét về đặc trƣng của cộng đồng tính là: + Quan hệ mang tính chất thân tình, thân thiện, mang độ kết cố có ý nghĩa tự nhiên và thể hiện tính cộng đồng cao. + Tính cộng đồng là bền vững, đƣợc khẳng định theo thời gian và chính thời gian là yếu tố kết dính các thành viên trong cộng đồng. + Khi xét về vị thế xã hội của các thành viên trong cộng đồng tính thì ở đó vị thế xã hội đƣợc gán sẵn hơn là sự phấn đấu của các thành viên mà có.
Chẳng hạn, con cái của ngƣời ở đẳng cấp cao trong xã hội khi sinh con ra đƣơng nhiên họ đƣợc xếp vào đẳng cấp này. Dòng họ là quan hệ cơ bản, vừa là huyết thống và vừa là khuôn mẫu văn hóa của sinh hoạt cộng đồng. - Trong khi đó, các hiệp hội, câu lạc bộ không có các đặc tính trên đây của cộng đồng tính đƣợc thể hiện là: + Có tính cá nhân cao. + Có tính nhạy cảm trong quan hệ xã hội.
+ Quan hệ xã hội theo nội qui, sự thỏa thuận giữa các thành viên trong hiệp hội/ câu lạc bộ về quyền lợi và nghĩa vụ. 18 + Có tính hợp lý và tính toán thiệt hơn, hơn là tình cảm trong các mối quan hệ xã hội. + Các vị thế trong hiệp hội là vị thế do phấn đấu đạt đƣợc chứ không phải gán sẵn. Nhƣ vậy, cộng đồng tính có nhiều đặc điểm về mặt truyền thống trong quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, còn các hiệp hội/ câu lạc bộ thiên về hiện đại [27, tr.
- Nghi lễ Có thể hiểu nghi lễ theo định nghĩa sau: + Nghi: là dáng, mẫu, nghi thức, nghi lễ, khuôn phép… [45, tr. + Lễ: là lễ giáo, lễ bái, cúng tế, tôn thờ, cung kính… [45, tr. Nghi lễ nhƣ vậy có ý nghĩa rất rộng, bao trùm hành vi, thái độ, tín ngƣỡng, văn hoá ngôn ngữ, phong cách của con ngƣời và xã hội. Trong nghĩa hẹp thì nghi lễ là nghi thức hành lễ tụng niệm mang tính tín ngƣỡng thờ phụng của một tôn giáo.
Nghi lễ thƣờng đi đôi với nhạc, lễ và nhạc là triết lý chủ yếu trong nghi lễ, nó có tác dụng chuyển hóa con ngƣời và xã hội. Nghi lễ thƣờng có hai phần -lễ và nhạc, tùy theo truyền thống văn hoá nghệ thuật của mỗi vùng, miền mà phần lễ, nhạc sẽ có ảnh hƣởng và biểu hiện theo truyền thống của vùng miền ấy. Nghi lễ của hầu hết các dân tộc Việt thƣờng mang một sắc thái riêng của dân tộc Việt Nam, là một mảng của nền văn hoá truyền thống cần phải tôn trọng và bảo tồn. Có ý kiến cho rằng nghi lễ là một từ chung, mang ý nghĩa qua sự tổ chức thể hiện các khuôn mẫu giao tiếp đã đƣợc đặt ra của một hay nhiều ngƣời đối với một hay nhiều ngƣời khác, và đối với một hay nhiều thần linh, đấng cao cả siêu nhiên.
Nghi lễ (rite gốc từ la tinh ritualis) gồm nhiều nghi thức (rituals) hành lễ hợp lại [43, tr. 19 Có định nghĩa lại cho rằng, nghi có nghĩa là uy nghi, dáng vẻ, cung cách. Nghi cũng đƣợc hiểu là mẫu mực, là tiêu chuẩn đo lƣờng, ví dụ: Nghi khí (dụng cụ để đo lƣờng). Nghi còn có nghĩa là đồ cúng, ví dụ: Nghi hạ.
Lễ là sự thực hiện các phép tắc, khuôn mẫu mà ngƣời xƣa đã thực hiện; là hình thức thể hiện việc tổ chức giao tế xã hội, ví dụ: các cử chỉ, ngôn ngữ trong giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thƣờng; các hình thức cúng bái, tế lễ, cầu nguyện, v. Nhƣ vậy, nghi lễ đƣợc hiểu là nghi thức khi hành lễ, hội đủ các yếu tố mang tính văn hóa tâm linh [43, tr. Nghi lễ là một phần của lịch sử phát triển loài ngƣời, và trong một ý nghĩa nhất định có thể nói rằng nó chính là bộ phận quan trọng của các mối quan hệ giao tiếp trong xã hội loài ngƣời. Loài ngƣời trải qua một quá trình lâu dài thực hiện các nhu cầu giao tiếp của mình đã dần dần hình thành những quy phạm mang tính ràng buộc và điều chỉnh hành vi giao tiếp của mọi ngƣời, những quy phạm này đƣợc gọi là nghi lễ.
Nghi lễ chính là kết quả của sự văn minh và tiến bộ của nhân loại. Nghi lễ đƣợc coi nhƣ là những quy phạm về hành vi trong cuộc sống của loài ngƣời, nó ra đời và phát triển song hành với xã hội loài ngƣời. Mỗi giai đoạn xã hội khác nhau hình thành nên những nghi lễ tƣơng ứng với trình độ phát triển của xã hội đó. Mỗi hình thức nghi lễ đều có một quá trình phát triển, biến đổi từ không đến có, từ một bộ phận phát triển thành một tổng thể, từ trình độ thấp lên trình độ cao.
Vì vậy, tìm hiểu sự ra đời và quá trình phát triển của nghi lễ sẽ giúp chúng ta tiếp thu, kế thừa tốt hơn nữa thành quả văn minh mà ông cha ta đã sáng tạo ra. Chúng ta tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc về nghi lễ không những làm cho chính bản thân hiểu rõ hơn những bƣớc phát triển của lịch sử mà còn có thể phát huy làm rạng danh những truyền thống tốt đẹp về nghi lễ của dân tộc mình, đồng thời càng nâng cao hơn nữa trình độ văn minh của nhân loại [43, tr. 20 - Nghi lễ cộng đồng Từ khái niệm về nghi lễ, ta có thể hiểu nghi lễ cộng đồng theo các nghĩa nhƣ sau: Thứ nhất, nghi lễ cộng đồng không nhất thiết phải là nghi lễ truyền thống. Bởi lẽ có những nghi lễ đƣợc sinh ra và mất đi, có những nghi lễ đƣợc sinh ra chỉ đƣợc xuất hiện một vài lần rồi biến mất.
Nhƣng cũng có những nghi lễ đƣợc sinh ra và tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhƣ vậy chúng ta thấy, những nghi lễ không đƣợc tồn tại thƣờng xuyên và lâu dài thì đó không phải là nghi lễ truyền thống. Những nghi lễ đƣợc tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác dần dần sẽ trở thành nghi lễ truyền thống nếu nó tồn tại và phù hợp. Thứ hai, có thể nói nghi lễ cộng đồng do một cộng đồng sản sinh ra nó vì: trong đời sống xã hội, con ngƣời có rất nhiều nhu cầu sinh hoạt nhƣ: ăn, mặc, đi, đứng… và từ đó nhu cầu về mặt tinh thần, tâm linh cũng đƣợc ra đời.
Do đó, các nghi lễ đƣợc ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của cộng đồng đó. Thứ ba, nó đƣợc tạo ra nhằm để phục vụ lợi ích cho 1 cộng đồng, lợi ích đó thƣờng thiên về đời sống tinh thần, đời sống tâm linh. Nhƣ chúng ta đã biết, trong cuộc sống của xã hội, đặc biệt là xã hội trƣớc đây, khi thiên nhiên và con ngƣời còn gần gũi, gắn bó và quan hệ mật thiết với nhau, xã hội loài ngƣời còn phụ thuộc tƣơng đối nhiều vào thiên nhiên. Họ tin rằng chính các đấng siêu nhiên chia phối toàn bộ cuộc sống.
Những hiện tƣợng nhƣ thiên tai, mƣa lũ, cháy rừng tất cả đều do các vị thần tạo nên đặc biệt là thần Rừng, thần Sấm, thần Mƣa là những vị thần mà các tộc ngƣời ở vùng đất Tây Nguyên rất coi trọng. Vì vậy, họ cảm thấy bất an và lo sợ.