CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở châu Âu là định nghĩa của nhà nhân học văn hóa người Anh E. Taylor đã ra đời từ năm 1871 trong công trình nghiên cứu nhan đề văn hóa nguyên thủy (Primitive culture): “Văn hóa hoặc văn minh hiểu theo nghĩa rộng nhất là của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng (tín niệm), nghệ thuật, đạo đức, luật lệ phong tục và tất cả những khả năng thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội”.
Theo UNESCO “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân mình, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng phát biểu một quan điểm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó do loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sinh sinh tồn.
Theo định nghĩa về văn hóa của Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở Văn hóa Việt Nam thì: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người Luan van 7 sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [11, tr 10]. Bản sắc văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó [4, tr 223]. "Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài.
Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác. Xét về bản chất, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc. Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất” giữa dân tộc này với dân tộc khác. Với việc tách riêng bản sắc và văn hóa, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm về bản sắc văn hóa như sau: Bản sắc văn hóa chính là nét đặc trưng văn hóa của một dân tộc, quốc gia, thông qua đó, có thể so sánh với văn hóa của quốc gia, dân tộc khác.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Theo từ điển Hán Nôm của Nguyễn Quốc Hùng, “bảo tồn là giữ gìn cho còn, không để bị mất”. Trong cách diễn giải như vậy, chúng ta có thể hiểu bảo tồn là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa: Là việc giữ gìn những giá trị văn hóa đặc trưng, cốt lõi do con người tạo ra phù hợp với sự phát triển của xã hội con người. Chính sách công Trong những năm gần đây, thuật ngữ “CS công” được các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế dùng rất phổ biến.
Có thể nêu ra một số quan niệm sau: “CS là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003)”; “CS công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn Luan van 8 đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu CS đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004)”. Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về CS như sau: “CS là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. CS được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Nội dung, bản chất và phương hướng của CS tùy thuộc vào tính chất của quan điểm, đường lối, chủ trương, nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa…" Các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành những CS nhằm giải quyết những vấn đề mang tính cộng đồng thì được gọi là CS công. Tổ chức thực hiện CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa để từng bước thực hiện các mục tiêu CS và mục tiêu chung. Mục tiêu của CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Thực tế, trong quá trình thực hiện CS này cho thấy muốn đạt được mục tiêu của CS thì phải thông qua việc thực hiện CS, và các mục tiêu của CS thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến các mục tiêu chung.
Thực hiện CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa còn để khẳng định được tính đúng đắn, tính hợp lý của CS. CS khi triển khai rộng rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và khi CS được xã hội chấp nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của CS. Dựa trên những quan điểm trên, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định”. Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Là một bộ phận của CS công, CS văn hóa được UNESCO định nghĩa như sau: “CS văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa”.
CS văn hóa là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều bộ phận CS khác nhau gộp thành. Trong đó, CS bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đóng vai trò quan trọng, là tập hợp nhiều quyết định chính trị có nội dung liên quan nhằm lựa chọn, đề xuất các mục tiêu, công cụ và giải pháp để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Luan van 9 Chính sánh bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa được thực hiện trên cơ sở các chủ trương, đường lối Đảng và Nhà nước, từ Hiến pháp đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, được cụ thể qua Nghị quyết các Hội nghị Trung ương Đảng, qua việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa qua các thời kỳ, khi Luật Di sản văn hóa được thông qua và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật di sản văn hóa được các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Vai trò của chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 1.
Mục đích, ý nghĩa của chính sách đối với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 1. Mục đích - Bảo tồn phát huy các giá trị VHTT tốt đẹp của các dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc, vì một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. - Tôn vinh các giá trị văn hóa tốt đẹp của các DTTS, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đặc biệt tại các địa bàn vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa vùng đồng bào DTTS, gắn kết chặt chẽ những hoạt động xây dựng đời sống văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng khu vực, từng vùng, từng dân tộc, tôn giáo. - Bảo tồn phát huy BSVH các DTTS kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, kết hợp với phát triển du lịch cộng đồng để xóa đói giảm nghèo. - Cụ thể hóa các quy định chung của Nhà nước đến cộng đồng DTTS, đảm bảo rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu để mọi người dân dễ dàng tiếp thu và tự giác chấp hành. Gắn lợi ích của người dân khi tham gia các hoạt động bảo tồn văn hóa để thu hút đông đảo người dân tham gia lưu giữ di sản VHTT của mình.
Tăng cường vận động, tuyên truyền để nâng cao ý thức tự giác của người dân, gắn với xã hội hóa trong công tác bảo tồn.