Chương 1: TONG QUAN VE DE TÀI 1. Khai niệm Hôn nhân 1. Khái niệm hôn nhân nói chung Hôn nhân là một bước ngoặt lớn đánh dấu sự trưởng thành của mỗi người. “Trai khôn lấy vợ, gái lớn ga chong” đó là quy luật tự nhiên của con người và của tạo hóa.
Hôn nhân và gia đình luôn là một vấn đề quan trọng đối với mỗi người. Hôn nhân là sự tạo lập cuộc sống chung của một người đàn ông và một người đàn bà, cùng ở chung dưới một mái nhà, ăn cùng một mâm, hưởng chung những vật chất, đồng lao cộng khổ dé cùng tạo nên hạnh phúc. Nhờ có tình yêu thương gắn bó nên những của cải mà hai người tạo ra đều là của chung, họ cùng gắn bó với nhau, người này làm lợi người kia sung sướng. Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về hôn nhân.
Dưới cái nhìn của Xã hội học: “Hôn nhân là một cách chung nhất có thể được xác định như một sự sắp xếp của mỗi một xã hội dé điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa dan ông và đàn bà. Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội sắp xếp và cho họ sống chung với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Như vậy, khác với gia đình hôn nhân chi với tu cách là một quan hệ xã hội. Hôn nhân được coi như cơ sở cho sự hình thành của gia đình”[2].
Trong Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [19]. So với các văn bản pháp luật trước đây thì khái niệm hôn nhân chính thức quy định trong Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 2000 dựa trên sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà xác lập quan hệ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và các điều kiện khác do pháp luật quy định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Hôn nhân Công giáo “Bởi thé, người nam sẽ lia bỏ cha mẹ mình mà kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân xác. Mẫu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” [14.
11 Khi một người nam và một người nữ kết hôn, họ trở thành vợ chồng theo luật tự nhiên. Hôn nhân của họ là một khế ước, có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Đối với người Công giáo, hôn nhân không chỉ là một khế ước mà còn là một bí tích. Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Hôn nhân là bí tích tình yêu.
Khi vợ chồng nên một trong hôn nhân, cả hai không còn là hình ảnh dưới trần nữa, mà là hình ảnh của Chúa trên trời.” Theo sách Hôn nhân Công giáo định nghĩa: “Hôn nhân Công giáo là hôn nhân được Chúa Giêsu nâng lên hàng bí tích” [33, 10]. Hôn nhan là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức tự do và trách nhiệm, để sống yêu thương và giúp đỡ nhau trong tình nghĩa vợ chồng, để sinh sản và giáo đục con cái trong nhiệm vụ làm cha làm mẹ [14]. Nguồn gốc của hôn nhân chính là Thiên Chúa. Sách Sáng thé kể lại rằng ngày thứ sáu, sau khi đã tạo dựng nên trời đất, cây cối và muôn loài muôn vật, Thiên Chúa đã tạo ra con người giống hình ảnh Thiên Chúa.
Ngài tạo thành họ có nam, có nữ. Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, day mat Gat, va thong trị nó, hãy ba chu cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt dat”. Ngoài ra, sách Sdng thé còn nói một cách cụ thé hơn về việc kết hiệp vợ chồng: “Thién Chúa lấy bùn đất nắn thành con người, thối sinh khí vào lỗ mũi và con người trở thành một vật sống. Thiên Chúa phán: “Đàn ông ở một mình không tot, ta hãy tạo dung cho nó một nội trợ giống như no” [33, 14].
Thiên Chúa khiến cho Ađam ngủ say, và khi ông đang ngủ, Ngài lấy một xương sườn của ông, và đắp thịt lại. Thiên Chúa làm cho chiếc xương sườn đã lấy từ Adam trở thành người đàn bà, rồi dẫn đến Ađam. Ađam liền nói: “Báy giờ xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Người này sẽ được gọi là người nữ, vì bởi người nam mà ra”.
Hôn nhân là bí tích quan trọng nên giáo hội quy định con cái sửa soạn và cử hành rất long trọng. Hơn nữa, hôn nhân là một khế ước trao hoán: “Đổi frao hai thân xác, hai cuộc đời. Từ nay, thân xác anh là của em, thân xác em là của anh”. Như vậy, việc chiếm hữu thân xác chỉ dành cho vợ chồng, ngoại tình không những lỗi đức trong sạch mà còn lỗi đức công bình và đây là một trong những lý do giáo hội cho ly thân khi bắt gặp quả tang người kia đang phạm tội ngoại tình.
Dân gian 12 có câu: “Một úp lều tranh hai trái tim vàng” cho thấy tình yêu thương là cam kết chính yếu của hôn nhân và yêu nhau đòi hỏi sự hi sinh cho nhau. Hôn nhân là sự dan thân và là việc của hai người trưởng thành. Người trưởng thành là người làm gì cũng có suy tính kỹ lưỡng, khi đã làm thì không bao giờ bỏ và đã nói không bao giờ sai lời, đã cam kết thì giữ mãi cho đến chết. Sy dan thân trong hôn nhân đòi hỏi sự can đảm, cuộc sống nào cũng có thử thách gai chông, chúng ta đã dan thân thì phải chấp nhận, như người bước chân xuống tàu vượt biên là chấp nhận tất cả, đang ở giữa biển khơi không thể nào đòi quay trở lại.
Hôn nhân cùng Tôn giáo Hôn nhân cùng tôn giáo là việc một người nam và một người nữ cùng một niềm tin tôn giáo cùng theo một tôn giáo kết hôn với nhau. Trong đề tài này, tác giả nhận định: Hôn nhân cùng tôn giáo là hai người cùng theo đạo Công giáo kết hôn với nhau. Hôn nhân khác Tôn giáo “Nếu anh em nào có vợ ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì chớ ray VỢ. Va người vợ nào có chông ngoại mà người đó thuận ở với minh, thì đừng bỏ chong.
Vi chong ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại được thánh hóa nhờ người chồng có dao”. Trong Giáo luật của Giáo hội Công giáo có đề cập đến trường hợp hôn nhân có sự khác biệt về tôn giáo như sau: “Hôn nhân khác tôn giáo là hôn nhân giữa một bên là Công giáo và một bên không phải là Công giáo ” [33].Trong trường hợp nếu bên không phải là Công giáo, nhưng đã được rửa tội! trong Hội Thánh Tin Lành hay Chính Thống, thì hôn nhân này được gọi là hôn nhân dị tín hay hôn nhân hỗn hợp. Nếu bên không Công giáo chưa được rửa tội, thì hôn nhân này được gọi là hôn nhân dị giáo hay hôn nhân khác đạo. Ví dụ: Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người Phật giáo, Hồi giáo, An Độ giáo, Do Thái giáo,.
kế cả trường hợp một người không theo tôn giáo nào. Tóm lại trong nghiên cứu này, khái niệm hôn nhân khác tôn giáo được hiểu là hôn nhân giữa người Công giáo và người không theo đạo Công giáo. Hai trường hợp có thé xảy ra của những cuộc hôn nhân khác tôn giáo: - Hôn nhân sẽ hạnh phúc, nếu hai bên biết tôn trọng nhau, “đạo ai người ấy giữ”. Phía không Công giáo thực sự để cho bạn mình được tự do thờ phượng và chăm sóc đức tin cho con cái như đã thoả thuận lúc ban đầu.
Phía Công giáo sống thật tốt và giúp phía không Công giáo nhận được ơn Chúa. - Hôn nhân có thể gặp nguy hiểm và tan vỡ, nếu hai bên không chịu nhân nhượng nhau trước những mối bất đồng do sự khác biệt về niềm tin tạo ra, phía Công giáo có thé trở nên nguội lạnh và đi đến chỗ bỏ đạo. Tại Việt Nam, ngày nay vẫn có nhiều cha mẹ tỏ thái độ quá dè dặt, khắt khe đối với con cái trong hôn nhân khác tôn giáo bắt buộc theo đạo Công giáo mới cho phép làm đám cưới. Một số khác lại quá dễ dãi cho rằng chỉ cần Đạo ai nấy giữ, chang cần chuẩn gi hết.
Cả hai thái độ trên đều không phù hợp với ý muốn của Hội Thánh Công giáo. Hội Thánh có phép chuẩn cho những cặp hôn nhân khác tôn giáo. Theo luật hiện nay của Hội Thánh: - Hôn nhân hỗn hợp chỉ hợp pháp khi có phép rõ ràng của giáo quyền. - Hôn nhân khác đạo chỉ thành sự khi có phép chuẩn rõ ràng của giáo quyền.
Bởi vậy, nếu ở trong trường hợp hôn nhân hỗn hợp hoặc hôn nhân khác đạo, đôi bạn cần trình bày với cha xứ để được hướng dẫn về thủ tục xin phép chuẩn nơi Đức Giám Mục Giáo phận. Muốn được phép chuẩn: - Hai đương sự phải hiểu biết, chấp nhận mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân theo giáo lý Công giáo. - Bên Công giáo cam kết giữ đức tin của mình, bảo đảm cho con cái được rửa tội, được giáo dục trong Hội Thánh Công giáo và cũng cần phải cho bên không Công giáo biết rõ những điều ấy[ 14]. Khai niệm gia đình 1.
Khái niệm gia đình nói chung Bất cứ ai nghĩ đến sự tồn vong của nhân loại, sự hưng thịnh của xã hội, đều tìm cách xây dựng gia đình. Gia đình được các nhà xã hội học gọi là tế bào của xã hội, bởi lẽ gia đình qua định chế hôn nhân là một dữ kiện cấu thành xã hội. Tam quan trọng của gia đình được mọi người công nhận. Không chỉ các nước được coi là văn minh, mà cả những dân tộc bị coi là ít tiến bộ cũng có những quy định chặt chẽ về gia đình, về thân tộc,.
Các nhà dan tộc học nỗi tiếng một thời như Claude Lévi- Strauss đã từng chứng minh nơi những dân tộc thô sơ không có chữ viết cũng đã thành hình những quy luật khắt khe về thân tộc để ngăn ngừa tình trạng loạn luân bằng một cấu trúc tỉnh thần rất tỉnh vi, sắc sảo. Các nhà dân tộc học đã chỉ ra rằng đã là con người sống trong một tập thé, một cộng đồng thì phải biết đến luật cấm loạn luân, luật không có văn tự nhưng được khắc ghi trong trí não, lương tâm con người, dù ở bất cứ chân trời nào.