mở đầu đến kết thúc lễ hội. Từ những phân tích trên có thể rút ra nhận xét sau: - Lễ hội truyền thống là một hình thức diễn xuớng dân gian xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử, trong đó bao gồm nhiều loại hình diễn xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ tạo nên một tổng thể diễn xướng lễ hội. - Lễ hội truyền thống là một hình thức diễn xướng tâm linh, nó không còn là thế giới hiện thực, trần tục nữa, mà nó vươn lên thế giới biểu tượng, linh thiêng. Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng khác với thời gian thường ngày - Diễn xướng lễ hội truyền thống đạt tới hiệu quả lễ hội nhiều mặt, nó tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng.2 Lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam.
* Đặc điểm Hà Nam 17 z Về quá trình thành lập: Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam ngày nay nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ; đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô. Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm 1832 nhà Nguyễn, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội. Đến tháng 10 năm 1890 (đời vua Thành Thái năm thứ 2) tỉnh Hà Nam được thành lập từ các huyện của Hà Nội và Nam Định.
Tên tỉnh Hà Nam ra đời từ chữ Hà của Hà Nội và chữ Nam của Nam Định ghép lại và Phủ Lý trở thành tỉnh lỵ của tỉnh. Ngày 20/10/1908, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đem toàn bộ phủ Liêm Bình và 17 xã của huyện Vụ Bản và Thượng Nguyên (phần nam Mỹ Lộc) của tỉnh Nam Định, cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp của huyện Phú Xuyên (Hà Nội), nhập vào huyện Duy Tiên lập thành tỉnh Hà Nam. Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Hà. Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, năm 1992 tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ.
Tháng 11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập thành một tỉnh riêng biệt (Nguồn địa chính - Hà Nam). Về đặc điểm tự nhiên: Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Phía bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình. Diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Nam là 8.522km², dân số là 786.300 người (năm 2010) 18 z Hà Nam là một vùng đất được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng, sông Đáy và thu nhận đất đai bị bào mòn từ vùng núi cao trôi xuống.
Ngoài những ngọn núi, Hà Nam còn được bao bọc bởi những con sông. Đó là sông Hồng ở phía đông, sông Đáy ở phía tây, sông Nhuệ ở phía bắc, sông Ninh ở phía nam và nhiều con sông khác chảy trong tỉnh. Chính những điều kiện tự nhiên đã tạo cho vùng đất này các đặc trưng về văn hóa lịch sử của một khu vực giao thoa hay vùng đệm kết nối văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Hà Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi.
Mật độ và độ sâu chia cắt địa hình so với các vùng núi khác trong cả nước hầu như không đáng kể. Hướng địa hình đơn giản, duy nhất chỉ có hướng Tây Bắc - Đông Nam, phù hợp với hướng phổ biến nhất của núi, sông Việt Nam. Hướng dốc của địa hình cũng là hướng Tây Bắc - Đông Nam theo thung lũng lũng sông Hồng, sông Đáy và dãy núi đá vôi Hòa Bình - Ninh Bình, phản ánh tính chất đơn giản của cấu trúc địa chất. Về điều kiện kinh tế - xã hội Hà Nam có 5 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Duy Tiên, Thanh Liêm, Lý Nhân, Kim Bảng, Bình Lục, 1 thành phố là Phủ Lý.
Theo thống kê mới nhất, tổng số hộ dân cư của tỉnh Hà Nam tính đến hết quý I năm 2013 là 243.787 hộ, trong đó số hộ gia đình là 243. Tổng số nhân khẩu thường trú tính đến cuối quý I là 846. Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng cao đáng kể. Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong phát triển 19 z kinh tế, mở mang văn hóa xã hội.
Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Hà Nam có trên 40 làng nghề. Có những làng nghề truyền thống lâu đời như dệt lụa Nha Xá, trống Đọi Tam, mây giang đan Ngọc Động (Duy Tiên), sừng mỹ nghệ (Bình Lục), gốm Quyết Thành, nghề mộc (Kim Bảng), thêu ren xã Thanh Hà (Thanh Liêm),. Có làng đã đạt từ 40–50 tỷ đồng giá trị sản xuất, tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, mây giang đan: 5,5 triệu sản phẩm; lụa tơ tằm: 0,695 triệu m; hàng thêu ren: 2,83 triệu sản phẩm,.
Về công nghiệp: Ngành công nghiệp Hà Nam trong những năm gần đây có những bước chuyển mạnh mẽ. Hàng loạt các khu công nghiệp được xây dựng với quy mô lớn. Hiện nay có 9 khu công nghiệp lớn thu hút sự đầu tư của nước ngoài. Điều này tạo việc làm cho nhiều nhân lực.
Phát triển công nghiệp dồn dập cũng đã ít nhiều mang lại các hậu quả về môi trường, xong tỉnh cũng đã từng bước thanh kiểm tra các khu công nghiệp và dần tốt đẹp hơn. Nhiều khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý rác thải hoạt động hiệu quả và kinh tế. Nông nghiệp: 28,4% Cơ cấu nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 39,3% năm 2000 còn 28,4% năm 2005. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 4,1% (2001-2005).
Trong đó: trồng trọt tăng 1,7%, chăn nuôi tăng 6,7%, dịch vụ 31%, sản lượng lương thực đạt 420 tấn/năm, sản lượng thuỷ sản năm 2005 đạt 11.500 tấn, giá trị sản xuất trên 1 ha đạt 38,5 triệu đồng. Hình thành vùng cây lương thực chuyên canh, thâm canh có năng suất cao ở ba huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục. Tại đây đầu tư vùng lúa đặc sản xuất khẩu có năng xuất cao. Chuyển diện tích trũng ở vùng độc canh, hoang hoá sang sản xuất đa canh để nuôi trồng thủy sản là 5.188 ha 20 z Du lịch, dịch vụ: - Về du lịch sinh thái: Hà Nam có nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn như: Khu du lịch đền Trúc thờ vị anh hùng Lý Thường Kiệt và Ngũ Động Thi Sơn là quả núi năm hang nối liền nhau cách thành phố Phủ Lý 7 km.
Đã quy hoạch Khu du lịch Tam Chúc thuộc huyện Kim Bảng với quy mô gần 2000 ha với 9 khu chức năng. Diện tích mặt nước hồ khoảng 600 ha, diện tích phụ cận và khu du lịch sinh thái là 600 ha. Xây dựng các nhà nghỉ, khách sạn, sân gôn, quần vợt, công viên nước, nhà thuỷ tạ. Nơi đây cách chùa Hương 7 km, cách Hà Nội 60 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng Yên 40 km là điểm dừng chân cho khách du lịch nhiều tỉnh, nơi nghỉ dưỡng và giải trí vào các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương, đang thu hút đầu tư.
Chùa Long Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Di tích Long Đọi Sơn được xếp hạng từ năm 1992. Hàng năm có trùng tu, tôn tạo để gìn giữ cho muôn đời sau. - Khu trung tâm du lịch thành phố Phủ Lý: Được xây dựng 2 bên dòng sông Đáy, giáp cửa sông Châu; có khách sạn 3 sao, 11 tầng, có khu du lịch bến thuỷ phục vụ du khách đi chùa Hương, Ngũ Động Sơn, chùa Bà Đanh, Hang Luồn.
Nơi đây còn là địa điểm bơi thuyền dọc sông Châu, sông Đáy vãng cảnh nước non Phủ Lý. Đền Trần Thương, ở huyện Lý Nhân, thờ quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Đền được xây dựng năm 1783; với diện tích 1,4 ha. - Về truyền thống văn hoá, lịch sử Hà Nam là mảnh đất sớm được khai phá.
Trải qua chiều dài lịch sử, tiền nhân đã để lại cho nhiều di sản văn hoá phi vật thể và vật thể vô cùng quý giá như: Trống đồng Ngọc Lũ - dấu ấn thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hoá Đông Sơn - thuở các Vua Hùng dựng nước và giữ nước, cuốn sách đồng Bắc Lý - một trong bốn cuốn sách còn nguyên vẹn nhất, nội dung phong phú nhất của cả nước, tấm bia " Sùng Thiện Diên Linh" - một trong những 21 z tấm bia quý còn lại của triều đình nhà Lý, có giá trị lịch sử của đất nước, bia có kích thước khá lớn, tấm bia "Đại Trị" - thời Trần duy nhất ở Hà Nam. Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhiều người con quê hương Hà Nam đã phát huy truyền thống dân tộc và trở thành các anh hùng dân tộc được lưu danh sử sách: Thiện Công, Vực Công thời Hùng Vương, nữ tướng Cao Thị Liên, Quỳnh Chân, Nga Nương, Hồng Nương, Học Công, Nguyệt Nga (thời Hai Bà Trưng), Đinh Lôi (thời Lý Nam Đế), Nguyễn ninh, Nguyễn Tĩnh, Phạm Hán, Phạm Phổ (Thời Đinh), thập đại tướng quân Lê Hoàn (vua Lê Đại Hành), tướng Trần Bình Trọng thời Trần, Đinh Công Tráng, Đinh Công Lý (tức Đề Yêm). Lịch sử quê hương và con người Hà Nam luôn gắn bó hòa quyện trong lịch sử đất nước. Người Hà Nam có truyền thống yêu nước, có phẩm chất cần cù, siêng năng, chăm chỉ trong lao động sản xuất, có kinh nghiệm trong nghề trồng lúa, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, chế biến nông sản thể hiện bàn tay tài hoa, sáng tạo khéo léo trong nghề mộc, nghề đan nát, thủ công mỹ nghệ.