Chương 1: Đặc trưng văn hóa dân tộc – những nội dung khái quát. Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày khái quát một số nội dung liên quan đến vấn đề văn hóa dân tộc như: mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, các đặc trưng đặc điểm của ngôn ngữ. 7 Chương 2: Khảo sát một số đặc trưng văn hóa dân tộc của người Việt qua nhóm đại từ xưng hô của tiếng Việt. Trong chương này chúng tôi sẽ khảo sát cụ thể một số đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện qua nhóm đại từ xưng hô của tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu với nhóm đại từ này trong tiếng Anh để từ đó chỉ ra những đặc trưng văn hóa dân tộc được ẩn chứa trong ngôn ngữ.
Chương 3: Hình tượng một số vật nuôi tiêu biểu trong thành ngữ và tục ngữ của tiếng Việt và vai trò của chúng đối với việc tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của người Việt. Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát một số thành ngữ tục ngữ của tiếng Việt có sử dụng hình ảnh biểu trưng của một số vật nuôi quen thuộc của người Việt(chó, gà, lợn) có so sánh với những hình tượng tương đương trong thành ngữ tục ngữ của tiếng Anh. qua đó tìm hiểu dấu ấn, đặc trưng văn hóa dân tộc của người Việt được thể hiện trong ngôn ngữ. 8 Chƣơng 1 NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC NHỮNG NỘI DUNG KHÁI QUÁT 1.
Văn hóa và những đặc trƣng dân tộc của văn hóa Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ là sự rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, dân tộc, các nền văn hóa. Chính nhân tố này là động lực để quá trình toàn cầu hóa diễn ra mãnh mẽ và sâu rộng hơn. Với mỗi quốc gia, dân tộc, đi liền với quá trình này, không chỉ là những thách thức về kinh tế mà còn cả những thách thức liên quan đến văn hóa, xã hội. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc đây mới chính là những thách thức lớn nhất.
Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ góp phần phát huy nét đẹp truyền thống mà còn là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của xã hội. Trước khi đi vào những nội dung cụ thể, việc làm cần thiết lúc này là cần làm rõ khái niệm văn hóa và những đặc trưng dân tộc của văn hóa. Cho đến nay còn tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, sở dĩ có hiện tượng này là vì đây là một vấn đề đa diện, phức tạp. Vì những lý do khác nhau nên các nhà nghiên cứu thường hướng định nghĩa của mình vào những vấn đề phục vụ cho mục đích của mình.
Tuy nhiên có thể tạm chia các định nghĩa văn hóa thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất hướng đến trả lời câu hỏi: “Văn hóa là gì, nó gồm những thành tố nào?”; nhóm thứ 2 hướng đến việc trả lời cho câu hỏi: “Văn hóa là gì, nó gồm những chức năng nào?” [26 :16]. Theo Trần Ngọc Thêm thì văn hóa trước hết phải mang đủ những đặc trưng sau: - Phải có tính hệ thống - Phải có tính giá trị - Phải có tính nhân sinh - Phải có tính lịch sử [26: 27]. 9 Mặc dù còn nhiều điểm chưa thống nhất với nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận hai yếu tố quan trọng của văn hóa đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Nhìn dưới góc độ này thì “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [26: 27].
Trên đây chúng ta đang bàn đến khái niệm rộng về văn hóa nghĩa là xem xét chúng ở dạng chung nhất. Tuy nhiên, khi tìm hiểu văn hóa của một dân tộc hay một quốc gia cụ thể thì việc phân tách và đối chiếu hai hay nhiều nền văn hóa khác nhau là việc làm cần thiết có tính bắt buộc.C Mackaria đã gọi những “nền” văn hóa như vậy là văn hóa cục bộ. Trong mỗi nền văn hóa cục bộ lại được chia thành văn hóa bằng ngôn ngữ và văn hóa phi ngôn ngữ. Một trong những hệ quả quan trọng khi so sánh đối chiếu hai nền văn hóa cục bộ với nhau là: có thể nền văn hóa cục bộ này là hoàn toàn đặc thù so với nền văn hóa kia nhưng nếu so với nền văn hóa khác nữa thì những nét đặc thù này có thể không còn.
Từ những phân định trên chúng ta có thể chia một số đặc điểm của nền văn hóa cục bộ như sau: - Những đặc điểm chung cho cả loài người (đặc điểm chung không đặc thù). - Những đặc điểm đặc thù một phần(có giá trị với một số nền văn hóa nhất định). - Những đặc điểm hoàn toàn đặc thù [ 13: 18] Như vậy chúng ta có thể xếp những hiện tượng sau đây vào số những thành tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, những thành tố văn hóa mang đặc trưng dân tộc: - Truyền thống, phong tục , nghi lễ - Sinh hoạt –truyền thống - Hành vi thủ cựu(nét mặt, cử chỉ, điệu bộ) - Bức tranh dân tộc về thế giới - Nghệ thuật 10 Văn hóa tinh thần chính là sản phẩm đã được một cộng đồng người tích lũy trong một thời gian dài vì thế dấu ấn dân tộc được thể hiện đậm nét. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc cho việc tìm hiểu những đặc trưng dân tộc của văn hóa.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Ngôn ngữ ra đời vốn không có mục đích tự thân mà xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của con người- nhu cầu giao tiếp. Chính sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt để hình thành văn hóa, mặc dù theo cách sắp xếp truyền thống ngôn ngữ vốn là một bộ phận, một thành tố bên cạnh các thành tố khác như nghệ thuật, tôn giáo. Khi nhắc đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành “con người xã hội”, Engels đã cho rằng “Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ ”. Những thực nghiệm gần đây của các nhà khoa học Mỹ cũng cho thấy chính ngôn ngữ thành tiếng chứ không phải yếu tố nào khác là cơ sở để hình thành nên con người xã hội.
Như vậy, ngôn ngữ không chỉ là tiền đề để tạo ra con người mà còn là tiền đề để tạo ra văn hóa mà trước hết là tạo ra “con người”. Nguyễn Lai đã rất có lý khi cho rằng: “Nếu không có loại ngôn ngữ đầu tiên tạo ra sức sản sinh tư duy nơi con người thì phẩm chất nghệ sỹ bên trong con người không thể hình thành để từ cơ sở ấy con người tạo ra nhiều loại hình ngôn ngữ nghệ thuật dưới dạng không còn là ngôn ngữ ban đầu như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc v. Và đến lượt mình văn hóa lại trở thành tiền đề giúp cho sự phát triển của ngôn ngữ, yếu tố nối kết các giá trị ngôn ngữ và văn hóa chính là tính ước lệ. Bởi suy cho cùng cả ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế xã hội.
Nói cách khác về nguyên tắc cả hoạt động ngôn ngữ và văn hóa đều là hoạt động tinh thần cả hai đều dựa vào quá trình ước lệ gắn với tâm lý xã hội. Cả hai thiết chế xã hội này đều hoạt động theo nguyên tắc kế thừa truyền thống. Chính vì thế bản thân chúng chứa đựng những đặc điểm riêng nhất về 11 sắc thái cộng đồng dân tộc. Trong đó cả hai đều có vai trò quan trọng tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển.F Humboldt văn hóa chính là “linh hồn” của ngôn ngữ còn ngôn ngữ chính là tấm gương thực sự phản chiếu nền văn hóa dân tộc.
Sự phản ánh đặc trƣng văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ Trên đây, chúng ta vừa khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa ngôn ngữ và văn hóa. Nhưng một câu hỏi cũng không kém phần quan trong cần được làm sáng tỏ đó là những đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện như thế nào trong ngôn ngữ ? Theo Leontev đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ được hình thành từ một hệ thống các nhân tố quy định sự khác biệt trong cách thứ tổ chức, trong các chức năng và cách thức tiến hành quá trình giao tiếp tiêu biểu cho cộng đồng văn hóa dân tộc (hoặc cộng đồng ngôn ngữ nào đó). Các nhân tố này có thể là: - Những nhân tố gắn với truyền thống văn hóa dân tộc. - Những nhân tố gắn với hoàn cảnh xã hội và các chức năng xã hội của việc giao tiếp.
- Những nhân tố có trong kho tàng của cộng đồng này, những phản ánh khái niệm đặc thù nào đó. - Những nhân tố được quy định bởi một cộng đồng [13 :24] Theo những gợi ý trên, trong phạm vi này chúng tôi sẽ tập trung vào những phương tiện giao tiếp, những khuôn mẫu nói năng kiểu ngạn ngữ thành ngữ tục ngữ, những hình ảnh so sánh theo truyền thống và cách thức mô hình hóa, ngữ pháp hóa những phạm trù gắn với truyền thống văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trước khi tiến hành những khảo sát cụ thể có liên quan đến đối tượng của đề tài, chúng ta có thể điểm qua một số nét chính về sự phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ. Theo một số nhà nghiên cứu, đặc trưng văn hóa dân tộc trước hết được thể hiện trong ý nghĩa của từ [13 :24].
Việc tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc 12 qua ý nghĩa của từ là hoàn toàn có cơ sở. Để khẳng định cơ sở này, chúng ta có thể quay lại với cơ chế hình thành nghĩa của từ. Mối quan hệ giữa từ ngữ âm với nhận thức của chúng ta về đối tượng (ý nghĩa) và đối tượng đã được Orchar và Stern xác lập trong tam giác ngữ nghĩa nổi tiếng của mình. Trong đó mối quan hệ giữa âm thanh với nhận thức của con người về đối tượng được gọi tên được xây dựng trên mối quan hệ biểu hiện, mối quan hệ giữa âm thanh với sự vật hiện tượng được xây dựng trên mối quan hệ gọi tên, mối quan hệ giữa đối tượng với nhận thức của con người về đối tượng được xây dựng trên mối quan hệ phản ánh.
Mối quan hệ được chúng ta quan tâm ở đây chính là mối quan hệ phản ánh. Mối quan hệ này đã hình thành một trong những nội dung quan trọng của từ đó chính là ý nghĩa.