phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn đƣợc sắp xếp thành 2 chƣơng, 6 tiết. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM THƠ CA VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX 1. Điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tƣ tƣởng triết học về con ngƣời trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 1. Điều kiện kinh tế - xã hội Cuối thế kỷ XV, đầu thế kỉ XVI, nhà Lê sơ sau một thời kỳ thịnh trị đã bƣớc vào giai đoạn suy thoái.
Xã hội lúc này bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu khủng hoảng trầm trọng về mọi phƣơng diện. Dƣới sự thống trị của triều đình chuyên chế đồi bại, đời sống của nhân dân ngày càng chìm đắm trong tối tăm, cơ cực.Ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, đội ngũ quan liêu bị tha hóa, đời sống của đông đảo nhân dân ngày càng bị bần cùng. Tô thuế và lao dịch không ngừng tăng thêm, đè nặng lên cuộc sống của ngƣời nông dân. Kinh tế nông nghiệp không đƣợc chăm lo, đê điều và các công trình thủy lợi bị bỏ bê; thiên tai, mất mùa xảy ra quanh năm.
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến cầm quyền, gây ảnh hƣởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Trong hoàn cảnh đó, những ngƣời sản xuất vẫn nỗ lực để duy trì cuộc sống, xây dựng quê hƣơng, bản quán. Nông dân ở cả hai vùng vẫn tiếp nối truyền thống lao động cần cùvà trong một mức độ, đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệpphát triển.Công cuộc khai hoang lập làng xóm mới, mở rộng thêm diện tích đấtđai canh tác tiếp tục đƣợc thực hiện ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc, nhất là vùng đồng bằng, ven biển. Ở Đàng ngoài, hàng chục vạn mẫu đất đai đƣợc khai khẩn đƣa vào sản xuất.Ở vùng trung du thuộc các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, công cuộc khẩn hoang cũng đƣợc tiến hành mạnh.
Nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng ngoài trong các thế kỷ XVI, XVII và XVIII vẫn có sự phát triển mạnh mẽ. Đây là một biểu hiện rõ nét về sự ổn định của quan hệ sản xuất phong kiến và sự phát triển của chế độ phong kiến ở Đàng ngoài bấy giờ. 9 z Ở Đàng trong, ban đầu các chúa Nguyễn dựa vào những ngƣời Việt đã sinh sống lâu đời ở đây lập thành xóm làng và tiếp tục công cuộc khẩn hoang. Về sau, số ngƣời lƣu tán từ Thuận Quảng vào ngày càng nhiều, do đó, chúa Nguyễn đã cho phép và khuyến khích các quan lại, địa chủ mộ ngƣời phiêu tán đi khẩn hoang và làm chủ tất cả ruộng đất khai phá.
Với cách này, chúa Nguyễn đã tạo nên một tầng lớp đại địa chủ giàu có, là cơ sở xã hội vững chắc cho chính quyền mới.Những ngƣời nông dân, nhất là lực lƣợng nông dân lƣu tán đã tích cực và chủ động đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai dƣới những hình thức và quy mô khác nhau (tự động khai phá, khai hoang do các nhà giàu, có thế lực đứng ra chiêu tập, thuê mƣớn;. Đối với dân lƣu tán từ Đàng ngoài vào vùng Thuận Quảng, chúa Nguyễn khuyến khích họ khẩn hoang lập làng xóm. Ruộng đất khai khẩn trở thành công điền chia cho ngƣời khai phá. Đối với bộ phận ruộng đất do những ngƣời giàu có tổ chức khai khẩnthì nhà nƣớc cho phép biến thành ruộng đất tƣ.
Ngoài ra, chúa Nguyễn còn sử dụng quân đội, tù binh và những ngƣời dân bị bắt trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn vào việc khẩn hoang. Nhờ có chủ trƣơng đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai và nhờ sức lao động cần cù, bền bỉ của những ngƣời dân lao động, trong đó có một bộ phận đông đảo từ Đàng ngoài vào, Đàng trong đã trở thành một vùng đất trù phú.Giai cấp địa chủ ở Đàng trong chủ yếu thực hiện phát canh thu tô, bóc lột theo quan hệ địa chủ - tá điền.Do có đất đai màu mỡ, đƣợc khai khẩn nhiều, nhất là ở phƣơng nam mà nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng trong khá phát triển. Thủ công nghiệp phát triển thêm một bƣớc, buôn bán phồn vinh, những thành thị hƣng khởi, những mầm mống của quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa có điều kiện nảy sinh.Trong nhân dân, các nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển và trở nên phổ biến rộng khắp ở nhiều làng xã. Trong những thế kỷ 10 z XVII, XVIII ngành kinh tế thủ công nƣớc ta phát triển rất mạnh mẽ.
Xuất hiện nhiều làng nghề thủ công trong cả nƣớc. Về làng nghề Bát Tràng dân gian có câu ca: “Trên trời có đám mây xanh Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng Ƣớc gì anh lấy đƣợc nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây Xây dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân” Về nghề dệt tơ lụa có làng nghề Vạn Phúc: “Hỡi cô thắt lƣng bao xanh Có về Vạn Phúc quê anh thì về Vạn Phúc có một cây đề Có ao tắm mát có nghề quay tơ” Nghề làm gốm đƣợc cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật và mỹ thuật, đã xuất hiện các lò gốm lớn nổi tiếng nhƣ Chu Đậu, Hợp Lễ (Hải Dƣơng), Bát Tràng nay thuộc Gia Lâm - Hà Nội. Nhiều làngnghề thủ công chuyênnghiệpnổi tiếng ra đời nhƣ làng Mỹ Thiện(Quảng Ngãi), Phú Trạch(Thừa Thiên) làm nồi đất nung, dệt chiếu, lụa hoa; làng Thổ Hà (Bắc Ninh), Hƣơng Canh (Vĩnh Phúc) chuyên sản xuất chum vại, vò, chĩnh; làng Yên Thái (Hà Nội) chuyên làm giấy;v. Hầu nhƣ các làng xã Đàng ngoài đều làm nghề trồng bông dệt vải, chăn tằm dệt lụa.
Tơ trở thành một mặt hàng buôn bán quan trọng bậc nhất. Thƣơng nghiệp cũng phát triển lên một bƣớc đáng kể về cả nội thƣơng và ngoại thƣơng. Ở các làng hình thành nhiều chợ mới họp theo phiên, xuất hiện một số chợ có quy mô cấp huyện hay phủ nên có tên gọi là chợ huyện, chợ phủ. Sự trao đổi buôn bán với các thƣơng nhân nƣớc ngoài đƣợc tăng 11 z cƣờng và mở rộng.
Bên cạnh các thƣơng nhân Trung Quốc, Xiêm, Nhật Bản còn có thuyền buôn của các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây. Sự phát triển của công thƣơng nghiệp đã làm xuất hiện một số thành thị mới và làm hƣng thịnh, phồn vinh các trung tâm kinh tế hàng hoá cũ. Ví nhƣ Kẻ Chợ (hay Kinh Kỳ) là đất Thăng Long nổi tiếng với 36 phố phƣờng.Phố Hiến cũng là một thành thị sầm uất của Đàng ngoài thời bấy giờ.Nhiều thƣơng nhân các nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp đều có mặt và buôn bán ở Phố Hiến. Ở Đàng trong có Hội An là thành phố cảng lớn nhất, từ thế kỷ XVI đã có thƣơng nhân nƣớc ngoài đến buôn bán.
Ngoại thƣơng ở Đàng trong cũng có bƣớc phát triển mạnh từ thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Đầu thế kỷ XVII, các thuyền buôn Trung Quốc thƣờng đến buôn bán ở sông Thu Bồn. Hội An từ một chợ địa phƣơng đã phát triển thành thƣơng cảng nổi tiếng Đàng trong. Mặc dù có những bƣớc phát triển mạnh mẽ nhƣng nhìn chung quan hệ ngoại thƣơng giữa Đàng trong với các nƣớc phƣơng Tây cũng giống nhƣ ở Đàng ngoài, chỉ phát triển khá mạnh mẽ ở thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, sau đó thuyền buôn các nƣớc thƣa thớt dần và chấm dứt hẳn.
Điều kiện chính trị Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX có nhiều biến chuyển mạnh mẽ. Lúc này, loạn lạc khắp nơi nổ ra, các phe phái đánh giết nhau để tranh giành quyền lực. Trong suốt hai thế kỷ XVII, XVIII chiến tranh Nam - Bắc, chống ngoại xâm, diệt Trịnh, Nguyễn, phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra liên miên. Do đó, đạo lý, luân thƣờng không còn trong khuôn thƣớc.
Nỗi lòng ngƣời dân đƣợc thể hiện qua câu ca: “Sông Gianh nƣớc chảy đôi dòng Đèn chong đôi ngọn biết trông ngọn nào?” Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Sự khủng hoảng này đƣợc bộc lộ trên nhiều 12 z phƣơng diện nhƣng nổi bật nhất là tính chất thối nát, suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến.Nó còn đƣợc biểu hiện ở sức trỗi dậy mãnh liệt với một khí thế chƣa từng có của phong trào nông dân. Ðỉnh cao lúc này là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, đánh đổ các tập đoàn phong kiến thống trị trong nƣớc, đánh tan hơn hai mƣơi vạn quân Thanh xâm lƣợc, lập nên một vƣơng triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ.
Nhƣng vua Quang Trung chỉ lên ngôi trong một thời gian ngắn. Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn lại trở nên lục đục. Nhân cơ hội ấy, Nguyễn Ánh trở lại tấn công nhà Tây Sơn, lập nên triều đại nhà Nguyễn. Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình, nhà Nguyễn đã thực hiện đƣợc một số chính sách tiến bộ nhƣng càng về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đƣờng phản động.
Vì thế, các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra. Tuy nhiên, khởi nghĩa nông dân trong hoàn cảnh của xã hội đƣơng thời không thể đi đến thắng lợi hoàn toàn và triệt để. Nó mới chỉ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển chứ chƣa thể làm thay đổi chế độ xã hội. Tình hình chính trị bất ổn đã đẩy nhân dân vào tình cảnh khốn cùng, giai cấp thống trị ra sức củng cố quyền lực bằng đủ mọi thủ đoạn phi nhân tính, những ngƣời tài đều không có đất dấn thân.Tuy vậy, con ngƣời trong giai đoạn này, đặc biệt là giới trí thức không còn là những con ngƣời chỉ biết cúi đầu cam chịu trƣớc sự áp bức của chế độ nữa.
Sự tiếp xúc ngày càng mở rộng với văn hóa phƣơng Tây một mặt làm nứt vỡ đạo đức thánh hiền, khiến cuộc sống xã hội đảo lộn, nhƣng mặt khác cũng tạo ra một sự khởi động về mặt ý thức. Đã đến lúc ngƣời ta nhìn đời, nhìn ngƣời, nhìn số phận mình không còn nhƣ cũ. Họ biết thẩm định lại những giá trị vật chất và tinh thần, rằng giá trị nào đem lại hạnh phúc cho con ngƣời, những gì gây đau khổ, chết chóc. Điều đáng nói là họ nhận ra nhƣng lại chƣa thể tìm đƣợc một con đƣờng nào để giải thoát cho bản thân và cộng đồng, sự bế tắc đó chính là bi 13 z kịch của giới trí thức thời kỳ này.
Nhìn một cách tổng quát, giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX đã diễn ra nhiều bƣớc chuyển mang ý nghĩa to lớn.