Khám Phá Khuynh Hướng Hiện Sinh Trong Thơ Việt Nam Đương Đại

Tổng hợp kiến thức Khuynh Hướng Hiện Sinh Trong Thơ Việt Nam Đương Đại, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong văn học

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

170
17
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại

1.1.2. Về nghiên cứu tư tưởng hiện sinh và khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

1.1.3. Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.1.3.1. Chủ nghĩa hiện sinh
1.1.3.2. Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học

1.1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

2.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại và việc phân loại các khuynh hướng thơ

2.1.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại

2.1.2. Vấn đề phân loại các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại

2.2. Cơ sở xác định sự hiện diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

2.3. Sự xuất hiện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

2.4. Những tiền đề văn hóa, xã hội, thẩm mỹ của sự xuất hiện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

2.5. Diện mạo và đường hướng vận động của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

2.6. Vị thế của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ NỘI DUNG BIỂU HIỆN

3.1. Ý thức biểu đạt cái tôi theo hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

3.1.1. Ý thức biểu đạt cái tôi theo hướng hiện sinh trong thơ ca nói chung

3.1.2. Biểu đạt cái tôi hiện sinh - xu hướng phổ biến trong thơ Việt Nam đương đại

3.1.3. Các dạng thái của cái tôi hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

3.2. Cảm nhận về con người theo hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

3.2.1. Một vài giới thuyết

3.2.1.1. Con người sinh thể với mọi nhu cầu và khát vọng sống trần thế
3.2.1.2. Con người khát khao tự do, dấn thân và những giới hạn, bất khả
3.2.1.3. Con người thân phận với những buồn đau, âu lo về số kiếp, sự cô đơn và cái chết

3.2.2. Quan niệm về thời gian “tồn tại” của con người hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

3.2.3. Sự mong manh, hữu hạn của kiếp người

3.2.4. Quá khứ - hiện tại - tương lai và sự mịt mờ, bất khả tri

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT

4.1. Bút pháp, thể thơ và cách tổ chức bài thơ

4.1.1. Sự tương hợp giữa các nội dung hiện sinh và phương thức biểu hiện

4.1.2. Những nét chính trong bút pháp, thể thơ và cách tổ chức bài thơ

4.1.3. Các sắc thái giọng điệu trữ tình hiện sinh nổi bật

4.1.3.1. Giọng điệu chán chường - sầu muộn
4.1.3.2. Giọng hoài nghi - cật vấn
4.1.3.3. Giọng triết lý - tư biện

4.2. Ngôn ngữ và nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ

4.2.1. Ngôn ngữ mang đậm màu sắc hiện sinh

4.2.2. Nghệ thuật tổ chức ngôn từ biểu tượng hàm ý hiện sinh

4.3. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại đã trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng, phản ánh sự chuyển mình của văn học trong bối cảnh xã hội và văn hóa hiện đại. Thơ Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều trào lưu, trong đó khuynh hướng văn học hiện sinh nổi bật với những đặc điểm riêng biệt. Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ là một triết lý mà còn là một cảm hứng sáng tạo, thể hiện qua các tác phẩm của nhiều nhà thơ như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn. Sự hiện diện của tác phẩm thơ mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật thơ hiện sinh đã tạo ra một bức tranh đa dạng về cảm xúc và tư tưởng. Việc nghiên cứu khuynh hướng này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tình cảm trong thơ mà còn mở ra những hướng đi mới cho việc tiếp cận và phân tích văn học Việt Nam hiện đại.

1.1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại

Chủ nghĩa hiện sinh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam, đặc biệt là trong thơ ca. Chủ nghĩa hiện sinh được hiểu là một trào lưu triết học, nhấn mạnh sự tồn tại của con người trong một vũ trụ vô nghĩa. Các nhà thơ Việt Nam đã tiếp thu và vận dụng những tư tưởng này để phản ánh những trăn trở về thân phận con người. Nghệ thuật thơ hiện sinh không chỉ thể hiện qua nội dung mà còn qua hình thức, với những bút pháp độc đáo và cách tổ chức bài thơ sáng tạo. Những chủ đề như sự cô đơn, phi lý, và khát vọng tự do đã trở thành những yếu tố chủ đạo trong tác phẩm thơ hiện sinh. Việc phân tích các tác phẩm này giúp làm rõ hơn về cảm hứng sáng táctình cảm trong thơ, từ đó khẳng định giá trị của khuynh hướng hiện sinh trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại.

II. Nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại thể hiện rõ nét qua việc biểu đạt cái tôi và những cảm nhận về con người. Ý thức biểu đạt cái tôi theo hướng hiện sinh đã trở thành một xu hướng phổ biến, phản ánh những trăn trở về bản thể và sự tồn tại. Các nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ thơ để thể hiện những cảm xúc sâu sắc, từ nỗi cô đơn đến khát vọng tự do. Cảm hứng sáng tác hiện sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả hiện thực mà còn đi sâu vào những suy tư triết lý về cuộc sống. Những tác phẩm tiêu biểu đã khắc họa rõ nét hình ảnh con người trong bối cảnh xã hội hiện đại, với những nỗi lo âu và bất an. Việc nhận diện khuynh hướng này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tình cảm trong thơ mà còn mở ra những hướng đi mới cho việc tiếp cận và phân tích văn học Việt Nam hiện đại.

2.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại

Bức tranh thơ Việt Nam đương đại rất đa dạng, với nhiều khuynh hướng và trào lưu khác nhau. Khuynh hướng văn học hiện sinh nổi bật lên như một hiện tượng đáng chú ý, phản ánh những trăn trở về thân phận con người trong xã hội hiện đại. Các nhà thơ đã thể hiện những cảm xúc chân thật, từ nỗi cô đơn đến khát vọng tự do, qua đó tạo nên một không gian nghệ thuật phong phú. Nghệ thuật tổ chức ngôn từ trong thơ hiện sinh không chỉ đơn thuần là việc sử dụng ngôn ngữ mà còn là cách mà các nhà thơ thể hiện những suy tư triết lý về cuộc sống. Những tác phẩm tiêu biểu đã khắc họa rõ nét hình ảnh con người trong bối cảnh xã hội hiện đại, với những nỗi lo âu và bất an. Việc phân tích bức tranh toàn cảnh này giúp làm rõ hơn về cảm hứng sáng táctình cảm trong thơ, từ đó khẳng định giá trị của khuynh hướng hiện sinh trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại 1. Việc giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, mối liên hệ giữa chủ nghĩa hiện sinh với văn học và văn học Việt Nam hiện đại “Hiện sinh”, “Chủ nghĩa hiện sinh” là những khái niệm đã khá quen thuộc với người Việt đương đại.

Sự phổ biến của chúng trong ngữ vựng tiếng Việt có thể đã bắt đầu từ giữa thập niên 1950 - 1960 ở miền Nam nước ta. Theo Từ điển Tiếng Việt, “chủ nghĩa hiện sinh” là “khuynh hướng triết học quan niệm con người là độc nhất và đơn độc trong một vũ trụ lãnh đạm, thậm chí thù địch, con người là hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về những hành động của mình” [160, tr. Điều đáng chú ý là Từ điển Tiếng Việt coi “hiện sinh” là một danh từ nói tắt của “chủ nghĩa hiện sinh”, và cụm danh từ đồng nghĩa với nó là “chủ nghĩa sinh tồn” (được xem là từ cũ) [160, tr. Thực ra, “Hiện sinh” hay hơn thế nữa, “chủ nghĩa hiện sinh” không đơn thuần chỉ là triết thuyết (chủ nghĩa, lý luận, lý thuyết, học thuyết, …) hay chỉ là một phương pháp nghiên cứu phê bình, một cảm hứng sáng tạo hay khuynh hướng sáng tác hay đơn giản hơn nữa - một thái độ chính trị, tôn giáo.

“Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là Thuyết sinh tồn, Thuyết hiện sinh, Triết hiện sinh, Phong trào hiện sinh) là một trào lưu triết học phi duy lý phát triển với nhịp điệu chóng mặt (theo cách nói của một số học giả nghiên cứu về triết thuyết hiện sinh) ở châu Âu và nhanh chóng trở thành xu hướng thời thượng của xứ này sau thế chiến II. Khoảng hai mươi năm sau năm 1945 là thời kỳ hoàng kim của triết thuyết này. Chủ nghĩa hiện sinh cắm rễ và lan tỏa đến mọi ngõ ngách của đời sống, thấm cả vào những lĩnh vực khó biểu hiện nhất như âm nhạc. Cũng có thể nói “Hiện sinh trở thành tôn chỉ cho phong cách sống của những người dám là chính mình và sống cho chính mình” [29, tr.

Theo Trần Nhật Thu, thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” (L'existentialisme) được nhà triết gia Pháp Grabiel Marcel tuyên xưng lần đầu và ngay sau đó được J. Sartre sử dụng trong bài thuyết trình của mình vào ngày 29 tháng 11 năm 1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành sách mỏng với tựa đề “L’existentialisme est un humanisme” (Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 6 bản)”. Điều đáng chú ý là cuốn “sách mỏng với tựa đề L’existentialisme est un humanisme” này đã được dịch giả Thụ Nhân dịch sang tiếng Việt Hiện sinh - một nhân bản thuyết và xuất bản ở Sài Gòn năm 1965 [124].

Trần Đình Sử cho rằng “Chủ nghĩa hiện sinh đi theo cách nghĩ của hiện tượng học, kiên quyết phản đối đối lập bản chất với hiện tượng mà chủ trương hiện tượng tức bản chất, kêu gọi trở về với bản thân sự vật”. Bản thể luận của họ chính là tồn tại luận. Vì thói quen ở đây vẫn dùng bản thể, nhưng sẽ hiểu là tồn tại luận. Theo Heidegger vấn đề căn bản của triết học là đi tìm ý nghĩa của tồn tại (sein), chứ không phải vật tồn tại, khách thể (seinde), mà tồn tại thì chỉ có con người là hiểu được, bởi con người nêu ra vấn đề ý nghĩa của tồn tại.

Ông gọi con người là Dasein - Tồn tại đó (Da nghĩa là đó, đây, này, cái có thể nhìn thấy trước mặt. Việt Nam có người dịch là Hữu đó, Trung Quốc dịch là Thử tại, tức tồn tại này. Trần Công Tiễn dịch là hiện hữu, cái hữu hiện đó. Cái tồn tại đó khác các vật tồn tại khác ở chỗ ngay từ đầu, nó đã cảm thấy mình ở đó, bị ném ở đó, và do đó mà khác với mọi vật.

Sự tự cảm thấy mình đó gọi là hiện sinh - ex-sistenz. Do có năng lực tự nhận biết mình, biết ý nghĩa của tồn tại mình mà sự tồn tại được hiện ra. Không có con người thì tồn tại sẽ vô nghĩa. Chủ nghĩa hiện sinh xem sự tồn tại của con người là một hiện sinh, thực tồn (existenz/existence) và phân tích trạng thái hiện sinh đó [128].

Theo Lê Công Sự, thuật ngữ Existentialism (Chủ nghĩa hiện sinh), có gốc từ “Existence” có nghĩa là sự tồn tại hay hiện hữu, nhưng không phải là sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng vật lý hay sự tồn tại của sinh vật mà là sự tồn tại của con người” [130]. Như vậy, đi tìm một định nghĩa đầy đủ về chủ nghĩa hiện sinh là rất khó “vì nó là trào lưu vào loại phức tạp nhất, được diễn đạt dưới dạng tư tưởng phi lý, bằng loại tư duy và từ vựng còn xa lạ nhiều với chúng ta” [127, tr. Chủ nghĩa hiện sinh nghiên cứu về con người đang hiện hữu, đang sinh hoạt vật chất và đầy cảm xúc sinh học. Theo 150 thuật ngữ văn học, “Chủ nghĩa hiện sinh là khuynh hướng triết học hình thành trước Thế chiến I ở Nga (L.

Bedyaev), sau Thế chiến I ở Đức (M. Buber), trong thời kỳ Thế chiến II ở Pháp (J. Sartre, Merleau-Ponty, A. de Beauvoir), sau đó phổ biến ở các nước khác tại châu Âu và ở Hoa Kỳ [17, tr.

Bắt đầu là hiện tượng học thuần túy của Husserl, tiếp đến là hiện tượng học hiện sinh của M. Heidegger và sau đó là triết học hiện sinh của J. Các nhà triết học đã có cái nhìn mới về con người với tư cách là chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 7 thể trong quan hệ với khách thể. Triết học hiện sinh đã xuất hiện như là triết học nhân sinh trong bối cảnh đổ vỡ và khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực của đời sống ở phương Tây.

Triết học hiện sinh mặc dù đã tiếp thu những quan điểm cơ bản của hiện tượng học, nhưng nó đã phát triển những quan điểm đó thành một học thuyết có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về con người, nó kêu gọi con người chủ động dấn thân và nhập cuộc để vượt lên những lo âu và bất an thường trực thế giới phi lí, nơi con người từ khi bị sinh ra đã phải nhận bản án là “sẽ phải chết như một con chó” (ý của Kafka trong tác phẩm Vụ án). Triết học hiện sinh cho thấy nỗi lo âu và sự tha hóa là những hiện tượng đi cùng với nhau, cùng tăng lên hoặc giảm đi trong quá trình lịch sử nhân loại. Xã hội hiện đại đang phát sinh những nỗi lo âu mới, bên cạnh nỗi sợ có nguồn gốc tự nhiên đã xuất hiện nỗi sợ có nguồn gốc xã hội do mối quan hệ giữa người với người ngày càng xấu đi. Mỗi khi thế giới thay đổi thì cái sinh tồn cũng thay đổi theo.

Trong chủ nghĩa hiện sinh, triết học được khảo sát như một lĩnh vực nhận thức gần với sáng tác nghệ thuật và khác với khoa học. Nhận thức duy lý được coi là bất cập đối với hiện sinh (esistenia) của con người. Các đại diện của chủ nghĩa hiện sinh nhiều khi trình bày quan điểm của mình không phải dưới hình thức những luận văn có cấu tạo hệ thống hóa mà là dưới hình thức tác phẩm nghệ thuật, như tiểu thuyết, kịch. hoặc thông qua việc phân tích sáng tác nghệ thuật.

Chủ nghĩa hiện sinh được xem là triết học của sự khủng hoảng bởi nó ra đời vào thời kỳ của những chấn động và tai biến xã hội. Chủ nghĩa hiện sinh có phái hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần. Nhánh vô thần có sự thừa nhận Thượng đế đã chết, sự tồn tại của con người đã mất hết ý nghĩa. Nhánh hữu thần cho rằng chính nghệ thuật là cái sáng tạo ra nội dung nhân loại cho thế giới.

Điểm gặp gỡ của các nhánh hiện sinh là “có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể cá nhân con người - không chỉ đơn thuần là chủ thể tư duy mà còn là chủ thể hành động, cảm nhận và sống [158]. Trong văn học, chủ nghĩa hiện sinh chỉ bộc lộ rõ rệt như một trào lưu ở Pháp thời kỳ trước và trong thế chiến II (1939 - 1945) và thời kỳ ngay sau chiến tranh. Sartre đã đưa chủ nghĩa hiện sinh đến với nhiều người trên thế giới. Với công trình nghiên cứu “Hành trình khám phá triết học phương Tây”, William F.

Lawhead đã nghiên cứu rất kĩ về các nhà hiện sinh như S.Kierkegaard - Người sáng lập hiện sinh tôn giáo, F. Nietsche - người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh thế tục. Công trình nghiên cứu của William F. Lawhead đã diễn giải khá tường tận về tư tưởng, quan điểm của các nhà hiện sinh từ hữu thần đến vô thần và các nhánh TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 8 hiện sinh khác” [92, tr.

Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến thân phận con người. Con người sinh ra không có bản chất sẵn có, tự con người tạo nên chính nó. Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm nhiều đến con người bản thể, soi chiếu vào chiều sâu với nhiều chiều kích bên trong phức tạp, bí ẩn. Triết học hiện sinh là triết học về con người.

Đây được xem là một “nhân bản thuyết”. Với thuyết hiện sinh “nó coi trọng tính độc đáo tuyệt đối của con người có vị trí quan trọng, hàng đầu” [113, tr. Chủ nghĩa hiện sinh được du nhập nhiều vào các nước phương Đông trong đó có Việt Nam và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần xã hội cũng như văn học ở các nước này. Ở nước ta, có thể nói chủ nghĩa hiện sinh được du nhập sớm hơn cả cũng như đã thực sự tạo dựng ảnh hưởng sâu rộng quy mô xã hội là ở miền Nam.

Huỳnh Như Phương đã dựng lại diễn trình du nhập của chủ nghĩa hiện sinh tại miền Nam trong “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954 - 1975 (trên bình diện lý thuyết)”. Theo ông, “Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 -1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh. Ảnh hưởng đó thể hiện ở chỗ đây là trào lưu, tuy lúc đậm lúc nhạt, nhưng đã hiện diện gần như trọn cả một giai đoạn lịch sử đen tối và phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề Khám Phá Khuynh Hướng Hiện Sinh Trong Thơ Việt Nam Đương Đại của tác giả Đoàn Thị Hạnh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đăng Điệp tại Trường Đại Học Vinh, năm 2022, tập trung vào việc phân tích và khám phá khuynh hướng hiện sinh trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài viết không chỉ làm rõ những đặc điểm nổi bật của khuynh hướng này mà còn chỉ ra những ảnh hưởng của nó đến tâm tư, tình cảm và tư tưởng của người sáng tác cũng như người đọc. Độc giả sẽ tìm thấy những góc nhìn sâu sắc về sự phát triển của thơ ca Việt Nam trong bối cảnh hiện đại, từ đó mở rộng hiểu biết về văn học và nghệ thuật.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực văn học, bạn có thể tham khảo bài viết Giáo Trình Lí Luận Văn Học: Tác Phẩm Văn Học Đặc Sắc, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các tác phẩm văn học tiêu biểu. Ngoài ra, bài viết Khám Phá Đặc Điểm Thi Pháp Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Quang Sáng cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các đặc điểm nghệ thuật trong văn học Việt Nam. Cuối cùng, bài viết Tư tưởng lý luận phê bình văn học của Kim Thánh Thán và sự tiếp nhận tại Việt Nam sẽ mang đến cho bạn những góc nhìn mới mẻ về lý luận văn học, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của bạn về lĩnh vực này.