Chương 1 THƠ NGUYỄN MINH KHIÊM TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Một số vấn đề thơ Việt Nam đương đại từ sau 1986 Từ sau Đại hội VI của Đảng (1986), nhu cầu đổi mới văn học đã dần trở thành đòi hỏi chung của cả giới sáng tác, lí luận phê bình lẫn công chúng. Tư duy nghệ thuật đổi mới, buộc phải đổi mới toàn diện các quan niệm về lý luận và mỹ học cũng như về công chúng văn học. Đường lối mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng đã tạo cơ hội mở rộng giao lưu văn hóa, văn học giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt với Phương Tây.
Nhờ vậy mà nhiều trào lưu, khuynh hướng và lí luận nghệ thuật hiện đại của thế giới đã được giới thiệu ở Việt Nam, tác động tích cực đến nền văn học nước nhà. Trong bối cảnh chung đó, văn học nói chung, thơ ca nói riêng không thể không bị tác động từ nhiều phía và diễn ra theo quy luật của chính nó. Thơ ca đã nhanh chóng chuyển mình để đáp ứng nhu cầu phản ánh những hiện thực mới của đất nước và con người trong tính chân thật, cụ thể và tính nhân văn, nhân ái đa dạng, sinh động. Về nội dung, thơ đã có sự dịch chuyển từ đề tài chiến tranh sang thế sự, đời tư, những góc khuất, trăn trở của đời sống thường nhật đã đi vào thơ ca.
Về cảm hứng, thơ đã có bước chuyển từ cảm hứng ngợi ca là âm hưởng chủ đạo sang cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm. Và những đổi mới về thi pháp cũng được các nhà thơ đương đại đặc biệt chú ý. Những biểu hiện sinh động và đa dạng ấy của thi ca được diễn ra liên tục trong tính kế thừa và cách tân ở từng giai đoạn với từng quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người cũng như các phương thức thể hiện cách tân đa dạng của chúng. Từ sau 1986, nền thơ Việt Nam hội tụ nhiều thế hệ nhà thơ giàu nhiệt huyết sáng tạo.
Các thế hệ nhà thơ trong cuộc đại đoàn viên lần này đa dạng, đa thanh và đa khu vực. Điều đặc biệt là các thế hệ sáng tác này, bằng kinh nghiệm và phong cách riêng, khuynh hướng riêng đã tạo ra sự đa thanh, phức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điệu cho tổng thể phong trào. Càng về sau, nhất là bước sang thế kỷ XXI, các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa được các thế hệ nhà thơ trẻ thế hệ 7X, 8X vận dụng và thể nghiệm bước đầu thành công, đem lại cho nền thơ những thông điệp thi ca mới mẻ. Chính sự đa dạng và đa thanh này tạo nên sự đa phong cách, đa thi pháp cho cả phong trào.
Tinh thần đổi mới sau năm 1986 do Đảng khởi xứng đã thực sự tạo thành bệ phóng, thành cú hích cho mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học. Văn nghệ sĩ đã nhạy bén thức nhận tinh thần đổi mới. Đó là sự cởi trói không chỉ trong tác động bề ngoài mà phải hiểu nó trong cấu trúc nội tại bên trong của từng nghệ sĩ, trong khát vọng được là mình trong sứ mệnh một nghệ sĩ, một công dân. Nhà thơ nhìn lịch sử và dân tộc, tổ quốc, quê hương, con người trong tinh thần nhân văn mới để không ngừng phát huy những giá trị văn hoá trầm tích trong quá khứ, để nó có cơ hội tái hiện trong tâm thức của con người hiện đại: “Tôi hát, tôi hát bài hát về cố hương tôi.
Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm. Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó. Kiếp này tôi là người” (Nguyễn Quang Thiều). Thơ quay về với muôn mặt đời thường, với bộn bề xuôi ngược để yêu thương và căm giận, để đồng cảm và sẻ chia; để tự thoại và tự thú: “Em âu lo trước xa tắp đường mình.
Trái tim đập những điều không thể nói. Trái tim đập cồn cào cơn đói. Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn?” (Xuân Quỳnh). Nhà thơ tự thoại với mình rồi sau đó quay về với tha nhân trong niềm nhân ái bao la: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em.
Là máu thịt đời thường ai chẳng có. Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa. Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” (Xuân Quỳnh). Sang đầu thế kỷ XXI đến nay, thơ đương đại đang trên mạch tiếp tục đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người.
Những thay đổi cơ cấu đời sống và những thiết chế xã hội theo cơ chế kinh tế thị trường, theo tinh thần hội nhập quốc tế cũng như những nhu cầu đổi mới, hiện đại hoá thơ ca… đã làm cho nhu cầu thể hiện tình cảm và quan hệ sống của con người cần có cách 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp cận và lí giải khác hơn. Những nhu cầu thể hiện cá tính càng trở nên gấp gáp và nhiều khi như một mode thời thượng. Các nhà thơ trẻ công khai thể hiện những nhu cầu này trong thơ một cách trần trụi, bạo liệt: “Em khoả thân trong chăn chờ chồng. Thèm mùi da thịt của anh/ Hai đầu ngực của em nóng ran” (Vi Thuỳ Linh).
Họ nhìn cuộc sống và con người nhiều khi thông qua những ẩn dụ, nhân hoá, nhoè mờ để những nghĩa ẩn sâu hiện ra: “Em thì thầm muốn vuốt ve Huế thật khẽ. Nhưng lại sợ chạm vào nơi nhạy cảm nhất của cơ thể Việt Nam” (Phan Huyền Thư). Một số nhà thơ trẻ khác lại muốn đẩy sex lên thành tâm lý học đám đông, nhưng không thành công và phải chịu sự phê phán và hững hờ của người đọc. Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ly Hoàng Ly, các nhà thơ trong nhóm Dự báo phi thời tiết… là những thể nghiệm không có kết quả mỹ mãn như họ mong muốn.
Bên cạnh đó, những nhà thơ lớp 6X, 7X lại bình tĩnh thử nghiệm những cách tân ở tầm nghệ thuật và văn hoá cao hơn thì lại thành công đáng kể. Trường hợp Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quyến, Đặng Thân…là những nhà thơ cách tân đáng trân quý. Họ đã làm nên dòng chảy đầy sức sống sáng tạo và đa dạng của nền thơ đương đại. Cách tân thơ không phải là mục đích cuối cùng của thơ.
Mục đích của thơ ca là truyền cảm, làm rung động lòng người. Gần đây, nhiều bài thơ viết về người mẹ, người chị Việt Nam với cảm hứng chân thật và giọng điệu mới lạ. Không thể kể hết những chiến công của những người phụ nữ thời hậu chiến. Giáo sư, viện sĩ Hồ Sĩ Vịnh tình cờ bắt gặp bài thơ dự thi của Nguyễn Minh Khiêm, bài “Chị”: “Chưa ai tạc tượng chị trong những ngày anh đi đánh giặc, một mình nuôi con, sóng cả, đò đầy, thân lươn, mình vạc, góc đường quê nhìn vẹt một phương trời!.
Chị quên vừng trăng, chị quên giếng nước, quên mình là đàn bà. Chưa ai tạc tượng chị những năm tháng cuối cùng. Da nhăn vỏ đổ. Suốt ngày khói hương, Chiếc xe lăn xếp cạnh bàn thờ, Huân chương của Anh gắn đầy tay vịn!”.
Ông đánh giá “Một bài thơ phá thể: thơ tự do hay thơ - văn xuôi không quan trọng. Điều quan trọng là nhà thơ đã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạc chân dung cao cả và thánh thiện người phụ nữ Việt Nam bằng món quà vô giá của cảm hứng sáng tạo. Biệt tài của đoạn thơ là sự vận dụng những cụm từ bắt nguồn từ trong thành ngữ dân gian dùng “bắt buộc” để lập vần, nói lên tính hài hòa của câu thơ. Đó là sáng tạo chứ không bắt chước, không lặp lại người.
Nhiều bài thơ tự nhận là thơ - văn xuôi, nhưng đọc lên nghe sao lổn nhổn, lủng củng” [58]. Thơ Việt Nam đương đại từ sau 1986 là một giai đoạn không dài so với những thời kỳ lớn đầy biến động của lịch sử, nhưng về mặt tiến trình thơ thì nó đã đi trọn một chu kì thi ca, đủ để nhận diện và đánh giá những thành tựu và hạn chế về thi pháp thể loại, thi pháp tác giả, thi pháp tác phẩm và thi pháp thời đại trên những yêu cầu lớn của giai đoạn văn học. Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm 1. Vài nét về tiểu sử và con người Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm sinh ngày 7.1952 tại làng Thọ Lộc, xã Yên Trung, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Quê nhà thơ là vùng bán sơn địa nằm ở phía Bắc huyện Yên Định phong cảnh hữu tình, thơ mộng, mây in dáng núi, dòng sông mềm mại uốn quanh ôm ấp xóm làng. Chính phù sa sông Mã đã tưới tắm tâm hồn, nuôi lớn tuổi thơ và hồn thơ ông. Để rồi sau này lớn lên, dù dấu chân đã in hình vạn dặm thì tấm lòng chẳng lúc nào thôi đau đáu về quê hương. Tốt nghiệp Trường Sư phạm 10+3 Thanh Hóa, ra trường, dạy học ở miền xuôi được hai khóa.
Năm 1977, ông được được điều đi dạy bổ túc văn hóa tại Đội thanh niên tình nguyện 42-12 ở Quan Hóa, Thanh Hóa. Ông được được phân công dạy học cho anh chị em thanh niên xung phong, dạy chữ cho trẻ em trong bản. Kể về quãng thời gian này, nhà thơ tâm sự "Tôi đã ở Cổng Trời 18 tháng, ở Lát-xê 6 tháng và ở Pù Nhi 6 tháng. Tôi hiểu sự khắc nghiệt của Cổng Trời.
Những chịu đựng của "lính" mở đường thời ấy đã ngoài tưởng tượng của hàng triệu người. Đau thương, mất mát của Mường Lát bây giờ lại ngoài tưởng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng của tôi hàng triệu lần". Nhưng dường như chính tại "chiến trường không tiếng súng" này đã hối thúc Nguyễn Minh Khiêm viết. Trở về từ Mường Lát, người giáo viên trẻ giữ nguyên sự hăng hái của mình, câu chuyện mở đường dường như còn "nóng hổi" trong ký ức.
Tuổi trẻ ông vào lính làm nghĩa vụ công dân đối với Tổ quốc, rồi về đi học, đi dạy học, rồi làm thơ, viết văn. Sống cuộc sống giản dị ở làng quê, là thầy giáo có nhiều học sinh giỏi quốc gia, có thơ được chọn in trong bộ SGK. Hiện ông là Hội viên Hội VHNT Thanh Hoá 1984, Phó Trưởng Ban Thơ Hội VHNT Thanh Hoá, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm dù xuất thân trong một gia đình không có ai theo con đường văn chương nghệ thuật “nhà tôi không có ai làm văn chương.
Bố mất năm tôi mới tám tuổi. Mẹ quanh năm mò cua bắt ốc nuôi con. Làng cũng không có ai là nhà văn, nhà thơ hay nhà báo” [31]. Bù lại, ông là người học giỏi và sớm bộc lộ năng khiếu văn chương: “Tôi làm thơ từ những năm cấp hai, chính xác là từ năm lớp 4 (.