Tổng quan luận án
Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học là sự giao thoa giữa hai hình thái ý thức xã hội. Tôn giáo vừa mang tính trí tuệ, khoa học, vừa mang tính siêu hình; văn học, đặc biệt là thơ ca, đóng vai trò là phương tiện chuyển tải nghệ thuật các tư tưởng và tâm lý tôn giáo. Trong lịch sử văn học Việt Nam, sự hiện diện của Phật giáo và Ki tô giáo đã tạo nguồn mạch sáng tác cho nhiều thế hệ tác giả. Từ ca dao dân gian, thơ Thiền thời Lý - Trần cho đến phong trào Thơ mới và các giai đoạn sau của thế kỷ XX, cảm hứng tôn giáo liên tục vận động dưới nhiều hình thái. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự phát triển của công nghệ và đời sống đô thị làm nảy sinh những biến động về tâm lý, sự hoang mang và khủng hoảng niềm tin; các giá trị đạo đức nhân bản của tôn giáo trở thành điểm tựa tinh thần, và thơ ca mang cảm hứng tôn giáo là một phương tiện hỗ trợ con người tìm lại sự cân bằng nội tâm.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học thế kỷ XX tuy đã xuất hiện nhưng còn tản mát, chủ yếu dừng lại ở các bình diện cục bộ hoặc các tác giả riêng lẻ. Do đó, luận án hướng đến việc thiết lập một cái nhìn hệ thống, toàn diện và khoa học về sự chi phối của cảm hứng tôn giáo đối với thơ Việt Nam trong suốt một thế kỷ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các đặc điểm của cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX trên hai bình diện nội dung và phương thức thể hiện; xác định sự tiếp nối, biến đổi từ truyền thống đến hiện đại; đánh giá thành tựu của bộ phận thơ này và khẳng định góc tiếp cận tâm linh - tôn giáo trong nghiên cứu thi ca.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích, luận giải các tiền đề xã hội - thẩm mỹ của cảm hứng tôn giáo, nhận diện quá trình vận động, vị trí của nguồn cảm hứng này trong lịch sử thơ ca dân tộc nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói riêng.
- Khảo sát, phân tích, luận giải những đặc điểm của cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX trên các bình diện nội dung: quan niệm về các cõi và đức tin; quan niệm về đạo và đời, mối quan hệ giữa đạo và đời; vấn đề ngã/bản ngã.
- Khảo sát, phân tích, luận giải những đặc điểm về phương thức thể hiện cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX như: thể thơ, cách thức tổ chức, kết cấu bài thơ, biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu.
Đối tượng nghiên cứu là cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX.
Phạm vi nghiên cứu bao quát hai nguồn cảm hứng: cảm hứng Phật giáo và cảm hứng Ki tô giáo. Khảo sát được thực hiện trên sáng tác của hai nhóm tác giả: nhóm tác giả là tín đồ và nhóm tác giả không phải là tín đồ. Các hiện tượng trọng tâm được nghiên cứu sâu gồm có: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng, Thích Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Mai Văn Phấn; đồng thời quan sát sự vận động mở rộng sang đầu thế kỷ XXI qua các gương mặt như Pháp Hoan, Phápxa Chan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm lược tình hình nghiên cứu cảm hứng tôn giáo theo ba chặng đường vận động của văn học sử và theo từng tác giả trọng điểm:
Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đến năm 1945: Các công trình tập trung vào phong trào Thơ mới (1932 - 1945). Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn Việt Nam hiện đại và bài viết Một nguồn hứng mới đã nhận định về vị trí mở đầu của Hàn Mặc Tử đối với dòng thơ tôn giáo. Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1942) cùng các bài viết từ năm 1941 (được Từ Sơn tuyển chọn năm 2008 trong Hoài Thanh - bình thơ và nói chuyện thơ) đã khẳng định Đạo Thiên Chúa là nguồn cảm hứng mạnh mẽ tạo nên thế giới thơ của Hàn Mặc Tử.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975: Các công trình nghiên cứu chủ yếu xuất hiện ở đô thị miền Nam. Về Phật giáo, có thể kể đến: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học giảng bình của Phạm Văn Diêu, Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (1932 - 1962) của Minh Huy, Ảnh hưởng của Phật giáo trong thi ca Việt Nam của Phạm Xuân Sanh, Đạo Phật với văn học và nghệ thuật của Thích Minh Châu, Tinh thần Phật giáo trong văn học Việt Nam của Thạch Trung Giả, Sự thích ứng giữa tinh thần Phật giáo với tinh thần dân tộc qua một số tư liệu văn học của Khiếu Đức Long. Về Ki tô giáo, công trình Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (1965) của Võ Long Tê xác định sự tồn tại độc lập của dòng văn học Công giáo; Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam dành một chương luận giải văn chương tôn giáo đầu thế kỷ XX.
Giai đoạn sau năm 1975 đến nay: Đánh dấu sự mở rộng góc nhìn học thuật. Về diện mạo chung có các chuyên luận của Vũ Anh Tuấn, Phạm Quốc Ca, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Lê Ngọc Thúy, Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Hữu Sơn. Các công trình thi pháp học của Hà Minh Đức, Lê Lưu Oanh, Vũ Văn Sỹ (1999), Mã Giang Lân (2000), Bùi Công Hùng (2000), Nguyễn Việt Chiến (2007), Nguyễn Đăng Điệp (2014), Hồ Thế Hà (2018). Mối quan hệ giữa Phật giáo và văn học được đào sâu tại nhiều hội thảo khoa học trong các năm 2006, 2010, 2014, 2016, 2018; cùng các tham luận của Nguyễn Phạm Hùng, Võ Phước Lộc, Thái Tú Hạp, và luận án tiến sĩ của Đặng Thị Đông (Ảnh hưởng của triết lí Phật giáo trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay). Về Ki tô giáo, xuất hiện các công trình của Thành Tâm (Văn học Công giáo ở Việt Nam), Lê Đình Bảng (Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam, Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường), Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Hồng Dương, Trần Hoài Anh và Nguyễn Thanh Tâm (Loại hình Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945, 2015).
Nghiên cứu về các tác giả cụ thể: Hàn Mặc Tử nhận được sự quan tâm nhiều nhất qua các công trình của Trần Thanh Mại (1941), Quách Tấn, Nguyễn Toàn Thắng, Trần Quý Thiện, Đặng Tiến, Đỗ Lai Thúy, Bích Thu, Phan Cự Đệ và Nguyễn Hữu Sơn.
| Nhóm tài liệu |
Tác giả tiêu biểu |
Công trình / Bài viết chính |
Hướng tiếp cận chính |
| Giai đoạn trước 1945 |
Hoài Thanh - Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Trần Thanh Mại |
Thi nhân Việt Nam (1942), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) |
Phê bình ấn tượng, khảo cứu ban đầu về cảm quan tôn giáo trong Thơ mới |
| Giai đoạn 1945 - 1975 |
Võ Long Tê, Phạm Thế Ngũ, Thích Minh Châu, Thạch Trung Giả |
Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên |
Lược khảo văn học sử, xác lập vị trí của văn học Công giáo và văn học Phật giáo |
| Giai đoạn sau 1975 |
Lê Đình Bảng, Đặng Thị Đông, Nguyễn Thanh Tâm, Đỗ Lai Thúy |
Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường, luận án của Đặng Thị Đông (2015) |
Phân tích thi pháp học, loại hình học, tiểu sử và tư duy nghệ thuật chuyên sâu |
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là sự thiếu vắng một công trình bao quát mang tính liên ngành, so sánh song song cả hai nguồn mạch cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo trong suốt tiến trình thế kỷ XX, làm rõ quy luật vận động từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các khái niệm tôn giáo học, mỹ học và lý luận văn học:
Về tôn giáo học:
- Phật giáo được nhìn nhận là một hệ thống triết học vô thần, tập trung ở Tam tạng kinh điển (Tạng Luật, Tạng Kinh, Tạng Luận). Thế giới quan Phật giáo bao gồm quan niệm về cấu tạo vật chất và tinh thần ("sắc" và "danh", hợp thành "ngũ uẩn": sắc, thụ, tưởng, hành, thức); phân tầng không gian "tam giới" (dục giới, sắc giới, vô sắc giới); bản thể "tính không" (nhân pháp nhị không); nguyên lý "duyên khởi" và quy luật "thập nhị nhân duyên", tạo nên tính chất "vô thường", "vô ngã". Nhân sinh quan Phật giáo giải thích sự hiện hữu qua quy luật nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, sinh - trụ - dị - diệt; mục đích tối hậu là giải thoát con người khỏi trầm luân thông qua việc nhận thức "tứ diệu đế" (khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế).
- Ki tô giáo (trọng tâm là nhánh Công giáo Rôma) là tôn giáo độc thần, xác lập trên nền tảng Kinh thánh (Cựu ước và Tân ước). Thế giới quan Ki tô giáo đặt niềm tin vào Thiên Chúa ba ngôi ("tam vị nhất thể": Cha, Con và Thánh thần), Đấng sáng tạo vũ trụ từ hư vô bằng Lời quyền năng; thời gian có điểm khởi đầu (sáng thế) và điểm kết thúc (tận thế); đời sống trần thế là hữu hạn, đời sau là vô hạn với hai cõi thưởng phạt: Thiên đường và Địa ngục (hỏa ngục). Nhân sinh quan Ki tô giáo xác định con người được tạo dựng từ bụi đất và sinh khí của Thiên Chúa, mang phẩm giá cao quý vì mang hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đã sa ngã do bất tuân; số phận đời sau tùy thuộc vào lối sống đức tin và việc thực thi đức công chính ở đời này.
Về mối quan hệ giữa tôn giáo và thơ ca: Hai lĩnh vực gặp gỡ ở dạng thức tư duy hướng nội, đề cao trực giác và vô thức sáng tạo; cùng hướng đến giá trị nhân văn và chức năng nhận thức thực tại. Tôn giáo đóng vai trò cung cấp chất liệu biểu tượng và chiều sâu suy tưởng bản thể luận; thơ ca là phương tiện nghệ thuật hóa các tín điều trừu tượng. Tác giả tiếp thu nhận định của Chu Văn Sơn về dạng thức thơ tôn giáo ẩn chìm: người viết có "tín tâm" nhưng không nhất thiết phải là tín đồ của một giáo phái cụ thể.
Về khái niệm cảm hứng sáng tạo và cảm hứng tôn giáo trong thơ: Cảm hứng (pathos) gắn liền với cảm hứng chủ đạo (dẫn theo G. Pospelov) là trạng thái tình cảm say đắm kết hợp với tư tưởng đánh giá sâu sắc. Tác giả dẫn giải các quan niệm của Platon, mỹ học phương Đông, Puskin, Mayakovsky, Phương Lựu, Tchaikovsky, Baudelaire, Paustovsky và Nguyễn Quýnh để chỉ rõ cảm hứng là kết quả của quá trình tích lũy thẩm mỹ lâu dài. Cảm hứng tôn giáo trong thơ không đơn thuần là đề tài hay từ ngữ bề mặt, mà là sự chuyển hóa từ "ý thức tôn giáo" sang "ý thức trữ tình", thẩm thấu thành "kinh mạch tôn giáo" và biểu hiện ở cấp độ "khí vị" (thuật ngữ của Uyên Nguyên).
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm có:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phương pháp chủ đạo dùng để giải mã thế giới nghệ thuật thơ từ quan niệm nghệ thuật, không gian, thời gian đến ngôn ngữ, biểu tượng.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức của triết học, tôn giáo học, văn hóa học, tâm lý học, ngôn ngữ học, lịch sử và mỹ học.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Sắp xếp các hiện tượng thơ theo trật tự thời gian và loại hình, tạo nên một hệ thống chỉnh thể.
- Phương pháp loại hình học: Phân loại các tập hợp thơ theo chủ thể sáng tạo (tín đồ / ngoại đạo) và loại hình tôn giáo (Phật giáo / Ki tô giáo) để nhận diện sự tương đồng và khác biệt.
- Phương pháp tiểu sử: Khai thác cuộc đời, trải nghiệm tâm linh của tác giả nhằm lý giải chiều sâu tư tưởng tác phẩm.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các giai đoạn lịch sử văn học, giữa thơ ca có và không có yếu tố tôn giáo, giữa cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo.
- Thao tác bổ trợ: Thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp.
Nguồn tư liệu khảo sát bao gồm: Toàn bộ tác phẩm của các tác giả thơ thế kỷ XX được chọn lọc; các văn bản thơ Thiền Lý - Trần, tác phẩm trung đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm...); các kinh điển tôn giáo (Tam tạng, Kinh thánh).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí thuyết của đề tài và tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và tổng kết lịch sử vấn đề. Tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về thế giới quan, nhân sinh quan của Phật giáo và Ki tô giáo; phân tích cơ chế giao thoa giữa tư duy tôn giáo và tư duy nghệ thuật thơ ca. Chương này làm rõ khái niệm cảm hứng tôn giáo như một sự chuyển hóa từ đức tin sang ý thức trữ tình. Đồng thời, tác giả đưa ra sơ đồ phân loại thơ tôn giáo thành hai nhóm: theo chủ thể sáng tạo (tín đồ và không phải tín đồ) và theo loại hình tôn giáo (Phật giáo và Ki tô giáo). Phần tổng quan tài liệu phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX đến nay, xác định rõ khoảng trống học thuật mà luận án đảm nhận.
Chương 2. Cơ sở tiếp nối và các chặng đường vận động của cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX
Chương 2 phục dựng mạch nguồn truyền thống và các tiền đề lịch sử - xã hội định hình cảm hứng tôn giáo thế kỷ XX:
- Về cội nguồn truyền thống: Luận án phân tích sự kế thừa từ ca dao dân gian đến giai đoạn cực thịnh của thơ Thiền thời Lý - Trần (thế kỷ X - XIV). Thơ Thiền giai đoạn này do các thiền sư, vua chúa và cư sĩ sáng tác dưới dạng thi kệ, vấn đáp, sử dụng thể Đường luật, cổ phong bằng chữ Hán và chữ Nôm. Tinh thần Phật giáo thời Lý - Trần mang tính nhập thế sâu sắc. Mạch thơ Phật giáo tiếp tục duy trì từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX qua sáng tác của các thiền sư (Liễu Quán, Nguyên Thiều) và tác gia thế tục (Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến). Dấu ấn Ki tô giáo xuất hiện từ thế kỷ XVI qua các văn bản kể hạnh các thánh bằng chữ Nôm, diễn ca kinh nguyện bằng thể lục bát và song thất lục bát, trước khi chuyển biến sang chữ Quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX.
- Về tiền đề lịch sử - xã hội: Khảo sát qua ba mốc thời gian:
- Giai đoạn 1900 - 1945: Sự bảo hộ của chính quyền thuộc địa tạo điều kiện cho Công giáo phát triển và sự phổ biến của chữ Quốc ngữ; Phật giáo đối diện khó khăn và bước vào phong trào chấn hưng từ những năm 1930; phong trào Thơ mới tiếp thu cảm hứng tôn giáo vào dòng thơ lãng mạn.
- Giai đoạn 1945 - 1975: Bối cảnh chiến tranh; miền Bắc hướng văn học phục vụ cách mạng và đoàn kết tôn giáo (Tăng già cứu quốc, Công giáo kháng chiến); miền Nam thành lập các viện đại học tôn giáo (Vạn Hạnh, Đà Lạt, Minh Đức), thi ca chịu ảnh hưởng của tâm lý bất an thời chiến, kết hợp tư tưởng Thiền với chủ nghĩa hiện sinh phương Tây.
- Giai đoạn từ 1975 (trọng tâm từ 1986 đến nay): Chính sách Đổi mới mở rộng không gian văn hóa tín ngưỡng; sự khủng hoảng tinh thần thời kinh tế thị trường khiến con người tìm về tôn giáo; thơ ca chuyển hướng đào sâu vào cõi tâm linh và vô thức.
- Về sự tiếp nhận ở các nhà thơ là tín đồ: Phân tích tiểu sử và tạng thơ của bốn trường hợp tiêu biểu:
| Tác giả |
Năm sinh - mất |
Xuất thân / Truyền thống |
Dữ liệu tác phẩm và thành tựu ghi nhận trong văn bản |
| Thích Nhất Hạnh |
1926 - 2022 |
Thừa Thiên Huế; xuất gia hệ phái Đại thừa (Thiền tông); pháp hiệu Nhất Hạnh |
Sáng lập Đại học Vạn Hạnh, Làng Mai; viết hơn 100 cuốn sách (hơn 40 cuốn tiếng Anh); các tập thơ: Tiếng địch chiều thu, Ánh xuân vàng, Thơ ngụ ngôn, Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện, Tiếng đập cánh loài chim lớn, Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt, Truyền đăng tục diệm, Thơ học trò |
| Minh Đức Triều Tâm Ảnh |
Sinh 1944 |
Thừa Thiên Huế; tu sĩ Phật giáo Nam tông (pháp hiệu Giới Đức); lập chùa Huyền Không |
Các tập thơ: Chèo vỡ sông trăng, Đá trắng chiêm bao, Tình mẹ mùa báo hiếu, Lửa lạnh non thiêng; xác lập quan niệm về "đạo" và "thơ" trong sáng tạo thi ca |
| Phạm Thiên Thư |
Sinh 1940 |
Hải Phòng; từng là tu sĩ Phật giáo (Thích Tuệ Không) gần 10 năm, hoàn tục năm 1975 |
Giải thưởng Văn chương toàn quốc (1973); tác phẩm: Động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Đạo ca; lập kỷ lục Việt Nam khi chuyển thể kinh Hiền Ngu thành 12.062 câu thơ lục bát (Kinh Hiền hội hòa đàm, 464 trang) và biên soạn Từ điển cười (Tiếu liệu pháp, 5.000 từ) |
| Hàn Mặc Tử |
1912 - 1940 |
Quảng Bình; tín đồ Công giáo ngoan đạo; trút hơi thở cuối cùng tại trại phong Quy Hòa |
Chuyển hóa nỗi đau thể xác vì bệnh phong và niềm tin Công giáo thành mỹ cảm thi ca; tiếp thu kết hợp yếu tố kinh thánh với thi pháp tượng trưng, siêu thực |
Chương 3. Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX, nhìn từ nội dung biểu hiện
Chương 3 triển khai việc giải mã các bình diện nội dung theo đề cương nhiệm vụ của đề tài:
- Quan niệm về các cõi và đức tin: Làm rõ sự phản ánh cấu trúc vũ trụ luận Phật giáo (tam giới, cõi trần thế hư ảo, vô thường) và Ki tô giáo (sáng thế, cõi trần hữu hạn, Thiên đường, Địa ngục) trong tâm cảm thi nhân.
- Quan niệm về đạo và đời, mối quan hệ giữa đạo và đời: Khảo sát sự đan xen giữa tư tưởng xuất thế và nhập thế; sự tìm kiếm giải pháp cứu rỗi, giải thoát cho nỗi đau nhân sinh; sự hòa giải giữa bổn phận trần thế và đức tin tôn giáo.
- Vấn đề ngã/bản ngã: Phân tích sự đối thoại nghệ thuật giữa quan niệm "vô ngã" của triết học phương Đông và ý thức khẳng định "cái tôi" cá nhân của thơ hiện đại; sự hạ mình phục tùng của bản ngã trước Đấng tối cao trong thơ Ki tô giáo đối chiếu với khát vọng khẳng định nhân vị cá nhân.
Chương 4. Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX, nhìn từ các phương thức, phương tiện nghệ thuật
Chương 4 khảo cứu hệ thống thi pháp hình thức thể hiện cảm hứng tôn giáo:
- Thể thơ: Khảo sát sự tiếp nối các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát) trong việc thi hóa kinh kệ; sự kế thừa thể Đường luật cổ điển; và việc mở rộng sang các thể thơ tự do, thơ văn xuôi nhằm biểu đạt các trạng thái tâm linh phức hợp.
- Cách thức tổ chức và kết cấu bài thơ: Nhận diện kết cấu phỏng theo kinh nguyện, thi kệ, cấu trúc đối đáp khai tâm hoặc kết cấu đối thoại tâm linh giữa cái tôi trữ tình với tha nhân và Đấng thiêng liêng.
- Biểu tượng nghệ thuật: Khảo sát hai hệ thống biểu tượng cốt lõi: biểu tượng Phật giáo (hoa sen, trăng, chuông chùa, bến mê, bờ giác, hư không) và biểu tượng Ki tô giáo (Thánh giá, máu, linh hồn, thiên thần, Đức Mẹ, ánh sáng cứu rỗi).
- Ngôn ngữ và giọng điệu: Phân tích lớp từ vựng tôn giáo chuyên biệt (thuật ngữ Phật học và Thánh kinh); khảo sát sự đa dạng của giọng điệu nghệ thuật từ trang nghiêm, tụng niệm, sám hối đến suy tư, chiêm nghiệm triết lý và siêu thoát.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới trên các phương diện:
- Xác định hệ thống các nhân tố lịch sử, xã hội, văn hóa và thẩm mỹ tạo nên cảm hứng tôn giáo trong thơ ca; nhận diện và hệ thống hóa danh mục các tác giả, tác phẩm thơ Việt Nam thế kỷ XX chịu ảnh hưởng của tôn giáo.
- Thiết lập một cái nhìn bao quát, khoa học về sự vận động liên tục của cảm hứng tôn giáo từ văn học truyền thống (dân gian, trung đại) đến hiện đại, khẳng định đây là một thành phần hữu cơ đóng góp vào thành tựu chung của văn học dân tộc.
- Đề xuất và khẳng định góc tiếp cận tâm linh - tôn giáo như một phương thức nghiên cứu chuyên biệt trong việc tiếp nhận và giải mã thơ ca hiện đại.
- Làm rõ vai trò nhân văn của bộ phận thơ mang cảm hứng tôn giáo trong việc hỗ trợ con người hiện đại tìm kiếm sự an lạc và hoàn thiện nhân cách hướng thiện.
Về mặt ứng dụng và kiến nghị: Luận án đề xuất sử dụng toàn bộ kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy học phần văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế nghiên cứu: Văn bản luận án nêu rõ phạm vi chỉ tập trung sâu vào hai dòng cảm hứng lớn là Phật giáo và Ki tô giáo, khảo sát trên một số hiện tượng tác giả tiêu biểu (Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng, Thích Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Mai Văn Phấn). Luận án chưa thể bao quát toàn diện mọi tác giả có sáng tác tôn giáo, cũng như chưa đi sâu khảo sát các hệ thống tôn giáo nội sinh khác xuất hiện trong thế kỷ XX.
Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi và khảo cứu mạch vận động của cảm hứng tôn giáo vắt qua đầu thế kỷ XXI ở các thế hệ nhà thơ đương đại (như Pháp Hoan, Phápxa Chan...); mở rộng phạm vi so sánh sang các thể loại văn học khác như văn xuôi, trường ca hoặc kịch thơ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng học thuật:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận thi pháp học kết hợp nghiên cứu liên ngành văn học - tôn giáo.
- Giảng viên đại học ngành Ngữ văn, Văn hóa học, Tôn giáo học: Sử dụng nguồn tư liệu phân loại tác giả, văn bản tác phẩm và hệ thống dẫn luận lịch sử trong giảng dạy các chuyên đề thơ ca hiện đại và văn hóa tâm linh.
Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống tư liệu lịch sử - xã hội qua ba giai đoạn tại Chương 2, cùng các phân tích tiểu sử - tôn giáo gắn liền với sự nghiệp thi ca của Thích Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh và Hàn Mặc Tử.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa cảm hứng tôn giáo trong thơ như thế nào để phân biệt với đề tài tôn giáo đơn thuần?
Luận án xác định cảm hứng tôn giáo không chỉ là việc sử dụng từ ngữ hay hình ảnh tôn giáo bề ngoài. Cảm hứng tôn giáo chỉ thực sự hình thành khi tác giả hiểu, tin và thấm nhuần giáo lý, biến ý thức tôn giáo thành ý thức trữ tình. Cảm hứng tôn giáo điều khiển thế giới nghệ thuật thơ từ bên trong qua cơ chế trữ tình đặc thù, tạo nên "kinh mạch tôn giáo" và biểu hiện ở cấp độ "khí vị" chứ không dừng lại ở chi tiết miêu tả.
2. Hai nguồn cảm hứng tôn giáo nào và những nhóm tác giả nào được luận án xác định làm trọng tâm?
Luận án tập trung vào hai nguồn cảm hứng chính là Phật giáo và Ki tô giáo. Về phía chủ thể sáng tạo, luận án phân chia thành hai nhóm: nhóm tác giả là tín đồ (như Thích Nhất Hạnh, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Hàn Mặc Tử, Mai Văn Phấn...) và nhóm tác giả không phải tín đồ (như Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng...).
3. Phạm Thiên Thư có những đóng góp cụ thể nào gắn với Phật giáo được ghi nhận trong luận án?
Phạm Thiên Thư (từng là tu sĩ Thích Tuệ Không) được ghi nhận là người đầu tiên thi hóa kinh Phật tại Việt Nam. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập hai kỷ lục của ông: chuyển thể kinh Hiền Ngu thành 12.062 câu thơ lục bát trong tác phẩm Kinh Hiền hội hòa đàm (dày 464 trang) và biên soạn Từ điển cười (Tiếu liệu pháp) gồm 5.000 từ ngữ dưới hình thức thơ ca; cùng các công trình Qua suối mây hồng - Kinh Ngọc, Suối nguồn vi diệu - Kinh Thơ.
4. Bối cảnh lịch sử - xã hội miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 đã tác động ra sao đến cảm hứng tôn giáo trong thơ?
Sau năm 1954, miền Nam thành lập nhiều cơ sở giáo dục đại học của tôn giáo như Viện Đại học Vạn Hạnh (Phật giáo), Viện Đại học Đà Lạt, Minh Đức (Công giáo). Tình trạng bất ổn chính trị, kinh tế và sự tàn khốc của chiến tranh gây hoang mang tâm lý, thúc đẩy con người tìm về tôn giáo. Thơ ca miền Nam thời kỳ này phản ánh sự gặp gỡ giữa tư tưởng Thiền học và các trào lưu triết học phương Tây (như hiện sinh, phân tâm học) để biểu đạt thân phận con người và thực tại bất an.
5. Luận án vận dụng những phương pháp nghiên cứu chính nào?
Phương pháp chủ đạo là tiếp cận thi pháp học. Ngoài ra, luận án kết hợp các phương pháp: liên ngành (triết học, tôn giáo học, văn hóa học, tâm lý học, mỹ học), cấu trúc - hệ thống, loại hình học, tiểu sử, so sánh, cùng các thao tác thống kê - phân loại và phân tích - tổng hợp.
Kết luận
Luận án Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX là một công trình nghiên cứu văn học sử và thi pháp học chuyên sâu, phục dựng có hệ thống diện mạo của dòng thơ mang cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo trong suốt tiến trình thế kỷ XX. Thông qua việc phân tích cơ sở lý thuyết, các tiền đề lịch sử - xã hội và khảo sát tác phẩm của các tác giả tiêu biểu, luận án đã làm rõ sự vận động của cảm hứng tôn giáo từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa nhân bản của bộ phận thơ tôn giáo đối với nền văn học dân tộc, đồng thời xác lập một hướng tiếp cận khoa học về mối quan hệ giữa văn học và tâm linh tôn giáo.