Tổng quan luận án
Công trình Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại là luận án tiến sĩ ngành Lí luận văn học (mã số: 92 22 01 20), do nghiên cứu sinh Lê Sĩ Na thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, bảo vệ năm 2023.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ nhận định của nhà phân tâm học Erich Fromm: "Vấn đề tôn giáo không phải là vấn đề Thượng đế mà là vấn đề con người". Văn học nhân loại từ thời cổ đại (với các trường ca Ấn Độ Ramayana, Mahabharata hay trường ca Hy Lạp Iliad, Odyssey), qua thời trung đại thần quyền, thời Phục hưng (François Rabelais với Gargantua và Pantagruel, Dante với Thần khúc), đến thời Khai sáng và hiện đại (Voltaire, Lev Tolstoy, Fyodor Dostoevsky, Umberto Eco, Salman Rushdie, James Wood) đều gắn bó với tư tưởng tôn giáo. Tại Việt Nam, tư tưởng tôn giáo manh nha từ văn học dân gian, phát triển qua văn học trung đại (Nho giáo, Phật giáo) đến đầu thế kỷ XX (Kitô giáo kết hợp tín ngưỡng bản địa trong phong trào Thơ Mới, Tự Lực văn đoàn).
Sau năm 1986, bối cảnh Đổi mới và không khí dân chủ hóa đời sống văn hóa nghệ thuật đã đưa những vấn đề tâm linh từng bị gạt bỏ trở lại, biến tôn giáo thành thành tố nghệ thuật và chất liệu tư duy trong sáng tác của nhiều nhà văn như Bảo Ninh, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Vũ Huy Anh. Dù giới nghiên cứu trước 1975 ở miền Nam và sau 1986 ở miền Bắc đã dành sự quan tâm nhất định đến mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học, song chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, bao quát và mang tính hệ thống về cảm quan tôn giáo trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu quá trình hình thành cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại; làm sáng tỏ những nét đặc thù của cảm quan tôn giáo trên hai bình diện nội dung và phương thức thể hiện; xác định sự tiếp nối, bổ sung từ văn học truyền thống đến hiện đại; từ đó góp phần nhận diện, đánh giá thành tựu và đóng góp của tiểu thuyết đương đại mang cảm quan tôn giáo đối với tiến trình văn học dân tộc.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm "cảm quan" và "cảm quan tôn giáo" như những công cụ nền tảng làm cơ sở phương pháp luận cho luận án.
- Thấy được quá trình hình thành nên cảm quan tôn giáo trong văn học nói chung cũng như trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng.
- Tìm hiểu cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên các bình diện: sự phản ánh hiện thực, con người, nghệ thuật biểu hiện.
Đối tượng nghiên cứu là cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thời gian, luận án khảo sát các tiểu thuyết có dấu ấn tôn giáo rõ nét từ sau mốc Đổi mới năm 1986 đến nay, có đối chiếu so sánh với tiểu thuyết trước thời kỳ Đổi mới. Về mặt tác giả và tác phẩm, luận án tập trung khảo sát sáng tác của các cây bút tiêu biểu: Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Vũ Huy Anh. Về mặt hệ thống tư tưởng, luận án tập trung bao quát hai nguồn tư tưởng tôn giáo nổi bật trong tiểu thuyết đương đại là Phật giáo và Ki tô giáo, kết hợp yếu tố tín ngưỡng bản địa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước theo tiến trình lịch sử:
Ở nước ngoài, nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học thuộc địa hạt văn hóa học ra đời từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hình thành khuynh hướng phê bình văn học từ góc nhìn tôn giáo ("phê bình tôn giáo văn học"):
- Các công trình thần học và văn hóa học thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX: William Seymour Tyler với Theology of the Greek Poets (1867); Stopford Augustus Brooke với Theology in the English Poets: Cowper, Coleridge, Wordsworth, and Burns (1874) và Religion in Literature and Religion in Life (1901), nhìn nhận tôn giáo trong văn học ở phương diện nhân văn thế tục; G. Wilson với Theology of Modern Literature (1899); W. Shaw với Precinct of Religion in the Culture of Humanity (1908).
- Khuynh hướng phê bình đạo đức tôn giáo: Thomas Stearns Eliot với tiểu luận Religion and literature trong Essays Ancient and Modern (1936), phân biệt văn học tôn giáo (religious literature) với văn học có yếu tố tôn giáo, khẳng định tác phẩm cần mang tính Cơ Đốc giáo trong vô thức của tác giả để phát huy giá trị đạo đức.
- Các khảo cứu hiện đại: Charles F. Thwing với bài viết Religion and Literature (2004); Anthony C. Yu (1987) và Larry D. Bouchard (2005) trong Encyclopedia of Religion (mục từ Literature: Literature and Religion); Erich Fromm với Phân tâm học và Tôn giáo; Mircea Eliade với Thiêng và phàm bản chất của tôn giáo (1956); Mark Knight với Biblical Religion and the Novel, 1700-2000 (đồng chủ biên với Thomas Woodman, 2006), Nineteenth-Century Religion and Literature: An Introduction (viết chung với Emma Mason, 2006), An Introduction to Religion and Literature (2009), Religion, Literature and the Imagination (đồng chủ biên với Louise Lee, 2009); Meyer Howard Abrams (chủ biên) với Literature and Belief (1958); Frank Burch Brown (chủ biên) với The Oxford Handbook of Religion and the Arts (2014); Alastair Morrison với luận án tiến sĩ A Choice of Illusions: Belief, Relativism, and Modern Literature (Đại học Columbia, 2015).
- Các thiết chế học thuật chuyên biệt: Trung tâm Queen Mary Tôn giáo và Văn học Tiếng Anh (Đại học Queen Mary Luân Đôn, 2016), tạp chí Religion & Literature (Đại học Notre Dame), tạp chí Literature and Belief (Đại học Brigham Young), Trung tâm Tôn giáo và Văn học (Đại học Baylor).
- Các nhà văn thế giới viết về tôn giáo: Thể hiện qua hai nguồn cảm hứng là cảm hứng chống tôn giáo thời kỳ Ánh sáng (Voltaire với Candide, Jean-Jacques Rousseau với Emile, Denis Diderot với Nữ tu sĩ) và cảm hứng tôn giáo trở về trong văn học lãng mạn như một mỹ cảm nghệ thuật (Chateaubriand với Atala, Rene, Thần lực sáng tạo của đạo Giatô, Những người tử vì đạo; Victor Hugo với Những người khốn khổ; Fyodor Dostoevsky với Tội ác và hình phạt).
Tại Việt Nam, vấn đề tôn giáo trong văn học được ghi nhận qua hai khu vực tư liệu:
- Ở miền Nam trước 1975:
- Khuynh hướng phê bình văn học chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo: Phạm Xuân Sanh ("Ảnh hưởng của Phật giáo trong thi ca Việt Nam", 1959); Nguyễn Đăng Thục (Thế giới thi ca Nguyễn Du, 1971; "Bóng trăng thiền với Nguyễn Du", 1970); nhóm tác giả Nam Sơn (Chân dung Nguyễn Du, 1960); Thích Thiên Ân (Giá trị triết học tôn giáo trong Truyện Kiều, 1966); Thạch Trung Giả ("Tinh thần Phật giáo trong văn học Việt Nam", 1973); Minh Huy (Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (1932 – 1962), 1962); Cao Hữu Đính (Văn học sử Phật giáo, 1971); Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, 1962); Phạm Văn Diêu (Việt Nam văn học giảng bình, 1970); Chơn Hạnh ("Nguyễn Du trên con đường trở về của Phật giáo", 1970); Thích Minh Châu ("Đạo Phật với Văn học và Nghệ thuật", 1972); Khiếu Đức Long ("Sự thích ứng giữa tư tưởng Phật giáo với tinh thần dân tộc qua một số tư liệu văn học", 1974).
- Khuynh hướng phê bình văn học chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiên Chúa giáo: Trần Điền ("Sự đau khổ của Hàn Mặc Tử", 1956); bài "Hàn Mặc Tử, thi sĩ của đạo quân thánh giá" (Tạp chí Xã hội, 1954); Võ Long Tê ("Sự hiện diện của Hàn Mặc Tử", 1956; chuyên luận Lịch sử văn học công giáo Việt Nam, 1965); Lê Hữu Mục ("Sứ mạng của Hàn Mặc Tử", 1956); Đặng Tiến (trong Vũ trụ thơ); Nguyễn Đình Tuyến ("Niềm tin thiên chúa trong thơ Hữu Phương" trong Nhà văn hôm nay, tập 1, 1969); Tạ Tỵ (Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, 1972).
- Ở miền Bắc sau 1975 và sau Đổi mới 1986:
- Nghiên cứu về Phật giáo: Hoàng Như Mai ("Đạo Phật trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên", 1995); Thích Tâm Pháp (luận văn "Tư tưởng Phật giáo trong văn học thành văn Việt Nam", 1997); Nguyễn Công Lý ("Mối quan hệ giữa Phật giáo và văn học", 1998); Phan Cự Đệ (Hàn Mặc Tử phê bình và tưởng niệm, 2002).
- Nghiên cứu về tín ngưỡng và văn xuôi đương đại: Trần Thị An ("Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn", 2007); Lê Dục Tú ("Cảm quan tôn giáo trong văn xuôi Việt Nam đương đại", 2014); Phùng Phương Nga ("Văn hóa tâm linh trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh", 2017); Tống Thị Thanh ("Chủ đề tôn giáo trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh", 2018).
Khoảng trống học thuật: Các công trình trên đây phần lớn dừng lại ở việc khảo sát tác gia, tác phẩm đơn lẻ (Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử, Khái Hưng, Nguyễn Xuân Khánh), hoặc khái quát ở dạng bài báo, tiểu luận tản mạn. Luận án của Lê Sĩ Na là công trình đầu tiên khảo sát một cách chỉnh thể, có hệ thống khái niệm rõ ràng về cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ phương diện nội dung phản ánh đến phương thức nghệ thuật biểu hiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm và phạm trù tôn giáo học, triết học và thi pháp học:
Về khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng:
- Khái niệm tôn giáo: Điểm qua định nghĩa của Friedrich Schleiermacher ("cảm thức về sự phụ thuộc tuyệt đối"), Georg Wilhelm Friedrich Hegel ("Tinh thần Linh thiêng có ý thức về Bản Ngã thông qua cái tinh thần hữu hạn"), Edward Burnett Tylor ("niềm tin vào những thực thể tinh thần"), David Émile Durkheim ("hệ thống niềm tin và thực tiễn thống nhất liên quan đến các sự vật linh thiêng"), Trác Tân Bình (Lý giải tôn giáo), Đặng Nghiêm Vạn (Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, 2001) và Từ điển tiếng Việt.
- Mối quan hệ giữa tôn giáo và tín ngưỡng: Luận án tiếp thu quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn (tín ngưỡng là lĩnh vực tôn giáo ở mức độ niềm tin tôn giáo khi tham gia vào trường tôn giáo - champ religieux), Ngô Đức Thịnh (Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, 2001: nền tảng chung là niềm tin vào "cái thiêng" đối lập với cái "trần tục"), Frederick Streng (khái niệm cái thiêng - the sacred). Tôn giáo được xem là hình thức thể chế hóa của tín ngưỡng phát triển ở trình độ cao.
- Khái niệm "cảm quan" và "cảm quan tôn giáo": Tác giả xác định cảm quan tôn giáo là cách thức cảm nhận, tri giác, định giá hiện thực và con người của nhà văn thông qua lăng kính, biểu tượng, ý niệm và xúc cảm tôn giáo, chi phối đến thi pháp tác phẩm.
Về tư tưởng Phật giáo và Thiên Chúa giáo:
- Tư tưởng Phật giáo:
- Thế giới quan: Thuyết danh - sắc; ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức); tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới); thuyết tính không; duyên khởi; thập nhị nhân duyên; bản chất vô thường, vô ngã của vạn vật.
- Nhân sinh quan: Nhân vô ngã; thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi; tứ diệu đế (khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế).
- Tư tưởng Thiên Chúa giáo (Công giáo):
- Thế giới quan: Thiên Chúa Ba Ngôi (Tam vị nhất thể: Cha, Con, Thánh Thần); sáng tạo thế giới từ hư vô bằng Lời quyền năng; trật tự vũ trụ có khởi đầu (sáng thế) và tận cùng (tận thế); đời này ngắn ngủi hữu hạn, đời sau vô hạn ở hai cõi Thiên đàng hoặc Địa ngục.
- Nhân sinh quan: Con người được nặn từ đất và thổi sinh khí, mang hình ảnh Thiên Chúa, có phẩm giá cao quý nhưng sa ngã, mang tội tổ tông và cần được cứu chuộc qua Đức Kitô.
- Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam: Quy mô hơn 30 triệu tín đồ (khoảng 1/3 dân số cả nước); tính dung hợp (Tam giáo đồng nguyên, đan xen thánh, thần, tiên, phật); Việt Nam hóa các tôn giáo ngoại nhập; tính trội của yếu tố nữ (văn hóa nông nghiệp lúa nước, thờ Mẫu); truyền thống thần thánh hóa những người có công với gia đình, làng, nước (thờ cúng tổ tiên, Thành hoàng, Vua Hùng).
- Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học nghệ thuật: Gặp gỡ ở tư duy hướng nội, trực giác tâm linh; chức năng nhận thức và tái hiện đời sống (văn học cụ thể, cảm tính; tôn giáo trừu tượng, siêu hình); cùng hướng đến chủ nghĩa nhân văn. Luận án dẫn chứng dấu ấn tôn giáo trong sử thi (Mahabharata, Ramayana) và thơ ca qua các thời kỳ lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phương pháp nghiên cứu chính, vận dụng để khám phá đặc sắc của cảm quan tôn giáo trên các bình diện thi pháp: nội dung và phương thức thể hiện.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức triết học, văn hóa học, tôn giáo học để soi tỏ các hiện tượng văn học.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Sắp xếp tác giả, tác phẩm theo tiến trình thời gian, loại hình tôn giáo, hệ thống hóa các bình diện thành một chỉnh thể khoa học.
- Phương pháp so sánh: So sánh, đối chiếu cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết đương đại với văn học truyền thống và tiểu thuyết trước Đổi mới; đối chiếu tiểu thuyết với các thể loại khác.
- Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: Thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:
- Văn bản tiểu thuyết xuất bản sau năm 1986 của các tác giả: Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa), Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Vũ Huy Anh.
- Nguồn kinh điển, giáo lý: Kinh điển Phật giáo (Tam tạng: kinh, luật, luận), Kinh Thánh (Cựu ước, Tân ước), các thư tịch tôn giáo và văn bản nghi lễ.
- Tài liệu lý luận phê bình văn học, văn hóa học và tôn giáo học trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Dưới đây là bảng tổng hợp cấu trúc các chương và nội dung triển khai chính trong luận án:
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Trọng tâm nội dung và bình diện phân tích |
| Chương 1 |
Tổng quan vấn đề nghiên cứu |
Khảo cứu lịch sử nghiên cứu quan hệ tôn giáo - văn học tại phương Tây và Việt Nam; xác lập khoảng trống khoa học. |
| Chương 2 |
Cơ sở lý luận và sự xuất hiện của cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại |
Xác lập hệ thống khái niệm công cụ; phân tích cơ sở lịch sử, văn hóa, chính sách Đổi mới; phân tích hệ tư tưởng Phật giáo, Thiên Chúa giáo và tôn giáo bản địa. |
| Chương 3 |
Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ sự phản ánh về con người và thế giới hiện thực |
Khảo sát hình tượng con người (6 kiểu thức) và thế giới hiện thực (3 chiều kích) qua lăng kính tôn giáo. |
| Chương 4 |
Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ nghệ thuật biểu hiện |
Phân tích ba phương diện thi pháp nghệ thuật: hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ tôn giáo và tổ chức không gian nghệ thuật. |
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học ở nước ngoài (châu Âu, Bắc Mỹ) từ cuối thế kỷ XIX đến nay và ở Việt Nam qua hai giai đoạn: trước năm 1975 ở miền Nam và sau năm 1986 ở miền Bắc. Tác giả phân tích các khuynh hướng phê bình văn học dưới góc nhìn thần học, đạo đức học tôn giáo và văn hóa học; đồng thời chỉ ra tính tản mạn, đơn lẻ của các công trình trước đó tại Việt Nam, từ đó khẳng định tính xác đáng của việc thực hiện đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận và sự xuất hiện của cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ, bao gồm định nghĩa tôn giáo, sự hợp nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng, khái niệm "cảm quan" và "cảm quan tôn giáo". Tác giả phân tích cơ sở lịch sử - xã hội, văn hóa - văn học của thời kỳ Đổi mới (sau 1986), sự chuyển dịch chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, sự giải phóng tư duy nghệ thuật và dân chủ hóa văn học. Chương này cũng phân tích sâu mối tương thông giữa bản chất tư duy hướng nội của tôn giáo với sáng tạo nghệ thuật; khái quát các phạm trù cốt lõi của thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo (tính không, ngũ uẩn, duyên khởi, vô thường, vô ngã, nhân quả, nghiệp báo) và Thiên Chúa giáo (sáng thế, tam vị nhất thể, nguyên tội, cứu chuộc qua Đức Kitô), cùng năm đặc điểm lớn của tôn giáo Việt Nam (đa tôn giáo, dung hợp, Việt Nam hóa, tính trội của yếu tố nữ và truyền thống thờ người có công).
Chương 3: Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ sự phản ánh về con người và thế giới hiện thực
Chương này đi sâu giải mã nội dung phản ánh của tiểu thuyết đương đại trên hai trục:
- Cảm quan về con người, được chia tách thành sáu luận điểm cụ thể:
- Con người được huyền thoại hóa: Nhân vật được gắn với các tích truyện tôn giáo, huyền tích dân gian.
- Con người mang niềm tin tôn giáo: Sự nương tựa tâm linh để vượt qua thử thách thế tục.
- Con người trong mối quan hệ thiện ác: Sự giằng co nội tâm dưới tác động của nghiệp báo Phật giáo hoặc luật công bằng Thiên Chúa giáo.
- Con người mất chúa - đổ vỡ niềm tin: Trạng thái hoang mang, lạc lõng, khủng hoảng tinh thần khi đứt gãy điểm tựa đức tin.
- Con người khát vọng: Nỗ lực vươn tới cái thiện, sự thanh lọc tâm hồn và an lạc tinh thần.
- Con người mang tinh thần giải thiêng tôn giáo: Nhìn nhận tôn giáo từ góc độ trần thế, đời thường hóa các chuẩn mực thần quyền.
- Cảm quan về thế giới hiện thực, được xem xét qua ba phương diện:
- Thế giới nhiều bất trắc, vô thường: Hiện thực biến động không ngừng theo triết lý duyên sinh và sinh diệt.
- Thế giới thiêng liêng: Không gian huyền bí, sự hiển linh của cõi thiêng bao bọc con người.
- Thế giới mang giáo lý và lễ nghi: Sự đan xen của các thực hành tôn giáo, nghi lễ thực tế trong sinh hoạt đời thường.
Chương 4: Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ nghệ thuật biểu hiện
Chương này khảo sát các phương thức nghệ thuật truyền tải cảm quan tôn giáo, tập trung vào ba thành tố thi pháp:
- Hệ thống biểu tượng:
- Biểu tượng Mẫu: Biểu tượng tôn giáo bản địa, cội nguồn tính nữ và sự che chở tâm linh.
- Biểu tượng của Phật giáo: Hoa sen, tượng Phật, tiếng chuông chùa, bóng áo nâu, vòng luân hồi.
- Biểu tượng của Thiên Chúa giáo: Cây thánh giá, Đức Mẹ Maria, máu và bánh thánh, tiếng chuông nhà thờ, sự phục sinh.
- Ngôn ngữ mang màu sắc tôn giáo:
- Ngôn ngữ Phật giáo: Hệ thống từ ngữ Phật học (nghiệp, duyên, sắc không, quả báo, giải thoát) và giọng điệu chiêm nghiệm, trầm tư.
- Ngôn ngữ Thiên Chúa giáo: Thuật ngữ giáo lý (bí tích, ân sủng, chuộc tội, cầu nguyện) và sắc thái trang nghiêm, sám hối.
- Không gian tôn giáo:
- Không gian Phật giáo: Ngôi chùa, cõi thiền, chốn am thanh cảnh vắng, gắn liền với sự tĩnh lặng nội tâm.
- Không gian Thiên Chúa giáo: Nhà thờ, thánh đường, xóm đạo, tháp chuông, gắn với không gian cộng đồng tín hữu và các nghi lễ thiêng.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo nội dung công bố trong luận án, công trình đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các tác giả, tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam đương đại tiêu biểu có dấu ấn cảm quan tôn giáo.
- Trên cơ sở các khái niệm nền tảng, luận án đề xuất định nghĩa và làm sáng tỏ nội hàm khái niệm cảm quan tôn giáo trong văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng.
- Khẳng định sự xuất hiện của cảm quan tôn giáo như một nhân tố làm thay đổi tư duy tiểu thuyết trên các bình diện cơ bản: quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người và phương thức biểu hiện nghệ thuật.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích cụ thể các bình diện biểu hiện và phương thức biểu đạt, cho thấy bước chuyển mạnh mẽ của thể loại tiểu thuyết trong quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về văn học Việt Nam nói chung và thể loại tiểu thuyết đương đại nói riêng.
Kiến nghị và đề xuất:
- Luận án đề xuất việc vận dụng hướng tiếp cận liên ngành (kết hợp thi pháp học với văn hóa học, tôn giáo học và triết học) trong nghiên cứu văn xuôi đương đại; khuyến nghị đưa các phát hiện của luận án vào việc biên soạn giáo trình, bài giảng chuyên đề văn học Việt Nam sau 1975 ở bậc đại học và sau đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Căn cứ theo phạm vi xác định trong văn bản, luận án giới hạn việc khảo sát tập trung vào hai nguồn tôn giáo chính là Phật giáo và Ki tô giáo, cùng tín ngưỡng bản địa (Đạo Mẫu). Do đó, luận án chưa thể bao quát sâu sắc các hệ tôn giáo nội sinh phong phú khác ở Việt Nam (đặc biệt là các tôn giáo xuất hiện ở Nam Bộ như Cao Đài, Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa) dù văn bản có điểm tên những tôn giáo này trong phần bối cảnh.
- Ngữ liệu khảo sát chủ yếu tập trung ở thể loại tiểu thuyết của một nhóm tác giả tiêu biểu (Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Vũ Huy Anh), chưa mở rộng sang toàn bộ các thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, ký hay tản văn.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát cảm quan tôn giáo sang các hệ phái tôn giáo nội sinh và tín ngưỡng dân gian của các dân tộc thiểu số trong văn học.
- Mở rộng đối tượng nghiên cứu sang các thể loại văn học khác như truyện ngắn, thơ ca và kịch bản đương đại.
- Tiếp tục cập nhật và khảo sát các tác phẩm tiểu thuyết mới xuất bản sau thời điểm bảo vệ luận án (sau năm 2023) để đánh giá sự vận động liên tục của cảm quan tôn giáo.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lí luận văn học, Văn học Việt Nam: Cung cấp khung lý thuyết thi pháp học liên ngành và hệ thống khái niệm công cụ về "cảm quan tôn giáo" để ứng dụng phân tích văn bản nghệ thuật.
- Sinh viên và nhà nghiên cứu văn hóa học, tôn giáo học: Phần tổng quan tài liệu (đặc biệt là tư liệu phê bình văn học ở miền Nam trước năm 1975 và các nghiên cứu tôn giáo học phương Tây) cùng các phân tích về sự dung hợp tôn giáo ở Việt Nam là nguồn tài liệu hữu ích cho việc tìm hiểu đời sống tâm linh người Việt qua lăng kính nghệ thuật.
- Người làm công tác quản lý và hoạch định chính sách văn hóa - tôn giáo: Cung cấp bức tranh thực tế về sự tác động của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đến tư tưởng, tâm lý xã hội và sự phản ánh của các hiện tượng tâm linh trong văn học thời kỳ Đổi mới.
Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm:
- Mục tổng quan tình hình nghiên cứu văn học dưới góc nhìn tôn giáo tại miền Nam trước năm 1975 (Chương 1).
- Khung phân tích sáu kiểu thức con người và ba chiều kích thế giới hiện thực mang cảm quan tôn giáo (Chương 3).
- Sự phân loại và khảo sát hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ và không gian Phật giáo - Thiên Chúa giáo (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án định nghĩa "cảm quan tôn giáo" xuất phát từ những cơ sở khái niệm nào?
Tác giả xuất phát từ các định nghĩa về tôn giáo của Friedrich Schleiermacher, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Edward Burnett Tylor, David Émile Durkheim, Đặng Nghiêm Vạn, kết hợp khái niệm tín ngưỡng của Ngô Đức Thịnh và "cái thiêng" của Frederick Streng. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất khái niệm cảm quan tôn giáo trong văn học là phương thức cảm thụ, tri giác, cắt nghĩa đời sống và con người của nhà văn thông qua các giá trị, ý niệm, biểu tượng và xúc cảm tôn giáo.
2. Luận án phân chia sự phản ánh hình tượng con người trong tiểu thuyết đương đại thành những luận điểm nào?
Trong Chương 3, luận án phân tích hình tượng con người qua sáu luận điểm cụ thể: con người được huyền thoại hóa, con người mang niềm tin tôn giáo, con người trong mối quan hệ thiện ác, con người mất chúa - đổ vỡ niềm tin, con người khát vọng, và con người mang tinh thần giải thiêng tôn giáo.
3. Nghệ thuật biểu hiện của cảm quan tôn giáo được luận án khảo sát qua những thành tố thi pháp nào?
Trong Chương 4, luận án khảo sát ba thành tố thi pháp chính: hệ thống biểu tượng (biểu tượng Mẫu bản địa, biểu tượng Phật giáo, biểu tượng Thiên Chúa giáo), ngôn ngữ mang màu sắc tôn giáo (ngôn ngữ Phật giáo, ngôn ngữ Thiên Chúa giáo) và tổ chức không gian tôn giáo (không gian Phật giáo, không gian Thiên Chúa giáo).
4. Vì sao luận án chọn Phật giáo và Thiên Chúa giáo làm hai đối tượng khảo sát trọng tâm?
Theo lý giải của tác giả, trong lịch sử văn hóa Việt Nam, Phật giáo và Ki tô giáo là hai tôn giáo có diện ảnh hưởng và "mức độ phủ sóng" rộng lớn nhất. Tinh thần của hai tôn giáo này đã tác động sâu sắc đến đời sống tâm linh dân tộc, trở thành hai nguồn cảm hứng tôn giáo nổi bật xuyên suốt quá trình vận động của văn học Việt Nam, đặc biệt là trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới.
5. Luận án tổng thuật những khuynh hướng phê bình văn học mang góc nhìn tôn giáo nào ở đô thị miền Nam trước năm 1975?
Luận án chỉ ra hai khuynh hướng chính: khuynh hướng phê bình các tác phẩm văn học ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo (với các tác giả như Phạm Xuân Sanh, Nguyễn Đăng Thục, Thích Thiên Ân, Thạch Trung Giả, Cao Hữu Đính, Minh Huy, Chơn Hạnh, Thích Minh Châu) và khuynh hướng phê bình các tác phẩm văn học ảnh hưởng tư tưởng Thiên Chúa giáo (với các tác giả như Trần Điền, Võ Long Tê, Lê Hữu Mục, Đặng Tiến, Nguyễn Đình Tuyến, Tạ Tỵ, tập trung nhiều vào hiện tượng thơ Hàn Mặc Tử).
Kết luận
Luận án tiến sĩ Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại của Lê Sĩ Na là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lí luận văn học, tiếp cận văn xuôi sau năm 1986 dưới góc nhìn thi pháp học liên ngành văn học, tôn giáo học và văn hóa học. Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu quan hệ văn học - tôn giáo, xác lập khung lý thuyết về cảm quan tôn giáo, đồng thời làm sáng tỏ sự đổi mới trong quan niệm về con người, hiện thực và các phương thức biểu hiện nghệ thuật (biểu tượng, ngôn ngữ, không gian) của tiểu thuyết đương đại. Công trình góp phần khẳng định bước chuyển của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới và cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành.