phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương1: Về cái tôi trữ ti ¡ cảnh xuất hiện cái tôi trữ tỉnh trong thơ Việt Nam giai đoạn 1955-1965. Chương 2: Những đặc điểm của cái đổi wrt tinh trong thơ Việt Nam giai đoạn 1955-1965 Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái đói wri tinh trong tho Việt Nam giai đoạn 1955-1965. 'CHƯƠNG L VE CAI TOL TRU TINH VA BOI CANH XUAT HIEN TOI TRU TINH TRONG THO VIET NAM GIẢI ĐOẠN 1985-1965 1. LOẠI HÌNH TRỮ TÌNH VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ.
1 Loại hình trữ tình Trữ tình theo nghĩa từ Hán Việt có nghĩa như sau: tri c6 nghĩa là thổ 16 (bộc lộ), tĩnh là tình cảm, cảm xúc. Khái niệm trữ tình được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, trữ tình là một trong ba phương thức miều tả trong văn học; thứ hai, trữ tỉnh là một loại hình văn học bên cạnh các loại hình tự sự, kịch. Ở nghĩa thứ nhất chỉ phương thức miêu tả của. văn học, đó là phương thức thiên về diễn tả, bộc lộ cảm xúc.
'Õ nghĩa thứ hai để chỉ một loại tác phẩm văn học mà ở những tác phẩm này chủ yếu dùng phương thức trữ tình để miêu tả, các tác phẩm loại này được gọi là tác phẩm trữ tỉnh. Phạm vi các tác phẩm trữ tình rất phong phú. Có tác phẩm trữ tỉnh viết bằng văn xuôi, có tác phẩm trữ tình viết bằng văn vần, có tác phẩm thuộc. kí, có tác phẩm thuộc loại thơ.
Tuy vậy, có thể chia thành ba nhóm chính. là thơ trữ tình, kí trữ tình, các thể văn chính luận nghệ thuật Do tác phẩm trữ tình trình bảy trực tiếp cảm xác, tâm trang, ÿ nghĩ của con người, nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời điểm hiện tai. Ngay cá khi tác phẩm trữ tình nói về quá khứ, về những chuyện đã qua, xúc động trữ tình vẫn xuất hiện như một trạng thái sống động, một quá trình đang diễn ra. Nhờ những đặc điểm này mà những rưng động thằm kín mang tính chất chủ quan, cá nhân, thậm chí cá biệt của tác giả dễ dàng được người đọc tiếp nhận nhe những rung động của chính bản than họ.
Đây là cơ sở tạo nên sức mạnh truyền cảm lớn lao của tác phẩm trữ tình. việc tập trung thể kiện những nỗi niềm thằm kín, chú quan, đã cho phép tác phẩm trữ tình thâm. nhập vào những chân lí phổ biển nhất của tằn tại con người như sống, chết, tình yêu, lòng chung thủy, ước mơ, tương lai, hỉ vọng. Đây là nhân tổ tạo.
tên sức khái quát và ý nghĩa xã hội to lớn của tác phẩm trữ tình.255] Nếu chia tác phẩm văn học ra các loại trữ tỉnh, tự sự, kịch thì thơ trừ tình chiếm một vị trí quan trọng trong loại trữ tình. Còn nếu chia tác phẩm văn học ra các loại thơ văn, văn xuôi, kịch, kí thì thơ trữ tình cũng giữ một vị trí quan trọng trong loại thơ. *Thơ trữ tình - thuật ngữ chỉ chung các thé thơ thuộc loại trữ tình. Trong đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng của đời sống được thẻ hiện một cách trực tiếp” [13, tr216] “Thực ra để xác lập khái niệm thơ, chủ yếu người ta vẫn dựa trên đặc điểm của thơ trữ tình là chính, Thơ tự sự (như truyện thơ) hay kịch thơ mang đặc điểm của tự sự và kịch nhiều hơn.
Vậy thơ trữ tình hay thơ nói chung là gi? “Tho la hinh thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giảu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”. Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tỉnh vi. Người làm thơ phải có tỉnh cảm mãnh liệt thể hiện sự nông cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần.
nhuyễn và có nghệ thuật. tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình. tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường” [13, tr. Nhà thơ Xuân Diệu từng cho rằng “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự vật được phản ánh vào tâm tình”.
Thơ trữ tình cũng như thơ nói chung bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt, không có cảm xúc thì không có thơ. Cảm xúc tạo nên chất thơ của thơ. “Theo giáo sư Hà Minh Đức thì “Yếu tố cảm xúc, nhất là cảm xúc ở dạng trực. tiếp của chủ thể, là một nhân tố rất cơ bản để tạo nên chất thơ.
mắt dần trong cảm hứng sáng tạo thi ca, tư duy của nhà thơ nặng nề về mặt phán đoán suy tưởng thì chất thơ cũng bị hạn chế, hình tượng thơ yếu hẳn về mặt gợi cảm” [10, tr47] Nối tới cảm xúc là nói tới những gì riêng tư của cá nhân. Cảm xúc trong tác phẩm trữ tình trước khi trở thành nỗi niềm chung của nhiều người thì trước ết phải là sự rung động thật sự từ trái tìm của người nghệ sĩ - “Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng”. Tiếng vọng tha thiết từ tâm hồn người sáng tác sẽ truyền nguồn cảm hứng, cảm xúc đến người đọc để cùng đồng cảm, sẻ chia. Thơ do vậy là tiếng nói của trí âm như Hoài Thanh đã từng nói "thích một bài thơ là thích một con người đồng điệu”.
trữ tình trong thơ Cái tôi trữ tình là hình tượng trung tâm bộc lộ tâm hồn, tình cảm của tác giả trong thơ trữ tình. Hơn bắt kỳ thể loại văn học nào khác, thơ tồn tại tính chủ quan của người nghệ sĩ nhiều nhất. Dù dưới dạng nào, thông qua ngôn ngữ, người dọc cũng nhận ra cái tôi chủ thể của nhà thơ. Nhà thơ bằng, nhiều kiểu - hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thể hiện rõ mình qua từng yếu tố.
tham gia cấu thành tác phẩm như: cảm xúc, tư tưởng, hình ảnh, quan niệm nghệ thuật. thông qua chat liệu ngôn ngữ. Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tỉnh, tạo ra một thể giới tinh thần độc đáo mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt tinh thần đến người đọc. Bản chất của thơ chính là sự hiện diện của cái rồi ar tinh.
Bản chat ther trừ tình là việc thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ, ước muốn của con người. “Thơ trữ tình là phương tiện để con người tự khẳng định bản chất tỉnh thần so. với tồn tại vật chất; là phương tiện để tự đồng nhất nội tại, kiến tạo hình tượng. về bản thân.
Cái tôi có vai trở quan trong trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc lộ tắt cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ bằng giọng điệu riêng; nhờ vậy làm nên cái độc đáo không lẫn giữa thế giới nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ” 20, tr.21] Cái tôi trữ tình bộc lộ trong thơ với nhiều dạng thức. Có khi cái tôi trữ tình thể hiện trực tiếp trong thơ bằng chữ rồi hoặc /z. Khi ấy nhà thơ trực tiếp bộc lộ một tỉnh cảm, cảm xúc, suy nghĩ. trước một câu chuyện, một sự việc, một cảnh ngô riêng.
Như lời bộc bạch, tâm sự của Tế Hanh về nỗi nhớ quê. hương và khát vọng đoàn tụ: Töi sẽ trở lại nơi tôi hằng mơ ước/ Tôi sẽ vẻ sống nước của quê hương/ Tôi sẽ vẻ sông nước của tình thương (Nhớ con sông quê hương). Hoặc là niễm vui sướng, say mê mãnh liệt của nhà thơ Tố Hữu khi được giác ngộ lí tưởng cộng sản: Tir dy trong t6i bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lí chỏi qua tim (Từ ấy). Với dạng thức này cái tôi trữ tình thường là cái tôi của tác giả; nhân vật trữ tình, hình tượng trung tâm trong tác phẩm cũng chính là nhà thơ, Một dạng thức khác đó là trường hợp cái tôi trữ tình bộc lộ gián tiếp cqua cảnh ngộ, sự việc trong thơ mà sự việc cảnh ngộ ấy không phải là của riêng tác giả.
Khi ấy nhà thơ chỉ nói lên cảm nghĩ của mình về những sự kiện, cảnh ngộ đó. Đắt nước của Nguyễn Đình Thi, Bài ca vở đất của Hoàng Trung Thông, Bền kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Ta đi tới của Tố Hữu thể hiện rõ dạng thức này. Cụ thể trong bài thơ Ta đi rới của Tổ Hữu: Ta di đới không thể gì chia cẩt/ Mục Nam quan đến bãi Cà Maw/ Trời ta chí một trên đâu/ Bắc Nam liên một biển/ Lòng ta không giới tuyến/ Lòng ta chung một cụ Hỏ/ Lòng. ta chung một Thủ đô Lòng ta chung một cơ đô Việt Nam.
Ta ở đây là dan toe, là nhân dân, là mỗi con người Việt Nam, là bản thân nhà thơ. Trong những, vần thơ sau Chế Lan Viên cũng có cách thể hiện cái tôi trữ tình gián tiếp như. vậy: Chúng muốn xế bản đỗ ta ra làm hai tổ quốc/ Xé thân thé ta thành máu thịt đôi mién/ Xé nhdn dan ta thành hai dòng trong, đực/ Để tâm hồn ta thành khi nhớ khi quên (Đừng quên). không còn là cảm xúc căm hờn của Chế Lan Viên trước kẻ thù khi chỉ ra dã tâm chia cắt đất nước mà nó đã trở thành nỗi niềm đau xót, căm phẫn chung của mọi người dân Việt Nam.
Trong các tác phẩm của mình, nhà thơ trữ tình nói bằng những tiếng. nói khác nhau dường như nhân danh những con người khác nhau. Đó là lúc tác giả phân thân để nhập vai vào từng số phận, đối tượng để triết luận, bình. luận hoặc ngợi ca, nhằm sẻ chia.
bộc lộ cảm xúc, tâm trang. Trường hợp nay là trong thơ xuất hiện nhân vật trữ tỉnh cụ thể nào đó như: Mẹ Tơm, Mẹ Suốt, Bà mẹ Việt Bắc trong thơ Tố Hữ , Anh chủ nhiệm của Hoàng Trung Thông. Những nhân vật này có khi là những điển hình có thật ngoài đời như chị Trần Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi, người cha anh dũng Nô-man-Mô-ri- xơn. Lúc này nhân vật trữ tình của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ.
Cái tôi của nhà thơ không bộc lộ trực tiếp, nhưng qua sáng tác vẫn nỗi rõ cái tôi trữ tình, cái tồi trữ tình của tác giả được nghệ thuật hóa. Cái tôi trữ tình luôn biển hóa da dạng, phong phú nhiều lúc khó nắm bắt. Và chính điều này làm cho cái tôi trong thơ trữ tình trở nên lung. linh, huyền ảo và quyến rũ.
Đây chính là tài năng sáng tạo của mỗi nhà thơ khi hòa nhập vào đối tượng, là bí quyết đẻ làm độc đáo từng phong cách thơ, làm nên nét riêng của từng nhà thơ.