mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta". Những phóng sự tiếp theo như “Cơm thầy cơm cô”, “Lục sì” đã góp phần tạo nên danh hiệu "ông vua phóng sự của đất Bắc" cho Vũ Trọng Phụng. - Những tiểu thuyết và phóng sự của ông cũng nhận được nhiều ý kiến phản bác. Từ năm 1936 đến khi Vũ Trọng Phụng qua đời năm 1939, đã nổ ra cuộc tranh luận xung quanh vấn đề "Dâm hay không Dâm" trong các tiểu thuyết, phóng sự của ông.
→ Tóm lại, Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực xuất sắc. Vũ Trọng Phụng đã để lại những tác phẩm văn học như một di sản văn hóa. Tác phẩm của ông là một kho tàng phong phú. - Tên của nhà văn là Trần Hữu Tri.
Nam Cao là bút danh. Bút danh đó được ghép giữa chữ đầu của tên huyện và tên tổng. - Quê quán: Làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao sinh ra ở vùng đồng chiêm trũng Bắc Bộ.
Vùng quê đó đi vào sáng tác của Nam Cao với tên làng Vũ Đại. - Gia đình: Nam Cao xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, đông con. Cuộc sống túng thiếu của gia đình được diễn tả nhiều lần trong tác phẩm của ông. - Cuộc đời: Làm nhiều nghề để mưu sinh, nên giàu vốn sống.
Trang viết của Nam Cao chân thực. Ông tham gia cách mạng, anh dũng hi sinh năm 1951. Nam Cao đã sống cuộc đời của một nhà văn, nhà giáo, nhà báo, cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng. Con người : Con người nhà văn Nam Cao có ba đặc điểm chi phối đến sáng tác của ông.
- Nhà văn Nam Cao mang tâm trạng bất hoà sâu sắc đối với xã hội đương thời. - Giàu ân tình đối với những người nghèo khổ. - Nhà văn Nam Cao luôn suy tư về bản thân, tự đấu tranh để tự vượt lên chính mình. 14 Bề ngoài tỏ ra lạnh lùng nhưng bên trong đời sống nội tâm phong phú.
Quan điểm nghệ thuật. Trước cách mạng Nam Cao gián tiếp trình bày quan điểm sáng tác thông qua hai tác phẩm “Đời thừa” và “Giăng sáng”. Thông qua hai tác phẩm này, Nam Cao quan niệm: - Văn học phải chân thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Quan điểm này được trình bày qua lời của Điền trong truyện “Giăng sáng”.
Trong truyện “Giăng sáng”, nhà văn Điền phát biểu: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than”. - Nghề văn cần sáng tạo. Nhà văn Hộ trong truyện “Đời thừa” phát biểu: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho.
Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”. Hộ quan niệm: Văn chương phản ánh cuộc sống nhưng không nên sao chép y nguyên hiện thực cuộc sống. Nhà văn cần phải sáng tạo. - Nhà văn cần có trách nhiệm với cuộc sống.
Văn sĩ Hộ trong “Đời thừa” coi trọng trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc sống “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Quan điểm của nhân vật Hộ, của nhân vật Điền cũng chính là quan điểm sáng tác của Nam Cao. Sau cách mạng, quan điểm sáng tác của Nam Cao có sự thay đổi.
Nam cao cho rằng: - Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người. - Văn chương là vũ khí đấu tranh cách mạng. Sự nghiệp văn học. Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại 60 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết.
Các đề tài chính. Trước cách mạng, nhà văn Nam Cao sáng tác tập trung ở hai mảng đề tài: Đề tài người trí thức nghèo và đề tài người nông dân nghèo. - Đề tài người trí thức nghèo. Các tác phẩm tiêu biểu: Đời thừa, giăng sáng, sống mòn.
Viết về người trí thức, Nam Cao diễn tả tấn bi kịch tinh thần của họ. Nhân vật về người trí thức của Nam Cao là nhà văn, nhà giáo. Họ sống có mơ ước cao đẹp, có lí tưởng lớn lao nhưng hiện thực cuộc sống không cho phép họ thực hiện niềm mơ ước đó. Nhân vật người trí thức trong truyện của Nam Cao phải sống cuộc sống vô ích, trở thành những con người thừa.
Thầy giáo Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn đã ý thức được bi kịch của cuộc đời mình: “Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!”, “Chết là thường.
Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã”. Tập trung diễn tả bi kịch của người trí thức, Nam Cao lên án hiện thực xã hội đã giết chết niềm mơ ước của con người. - Đề tài người nông dân nghèo. Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, một bữa no, tư cách mõ.
Viết về người nông dân, Nam Cao diễn tả sự tha hóa, biến chất của họ. Sự áp bức, bóc lột, cái đói đã đẩy người nông dân vào tình cảnh túng quẩn, bần cùng. Họ đánh mất cả tính người lẫn hình người. Viết về bi kịch của người nông dân, Nam Cao kết tội chính sự tàn bạo của giai cấp thống trị đã hủy diệt bản tính tốt đẹp của người dân lao động.
Nhà văn sâu sắc khám phá, khẳng định vẻ đẹp của con người ngay cả khi họ bị vùi dập, bị cướp đi nhân tính lẫn nhân hình. Viết về người trí thức hay viết về người nông dân, Nam Cao đều đề cao quyền sống của con người 15 Sau cách mạng, Nam Cao dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến. Các tác phẩm chính: “Nhật kí ở rừng”, “Đôi mắt”, “Chuyện biên giới”. Phong cách nghệ thuật.
- Nam Cao có sở trường trong việc miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật. - Ngôn ngữ truyện của Nam Cao tự nhiên, sinh động. - Nam Cao thành công trong việc xây dựng những đoạn đối thoại, những dòng độc thoại nội tâm. - Văn Nam Cao lạnh lùng, giàu tính triết lí.
PHONG TRÀO THƠ MỚI 1932 -1945 1. Những tiền đề của thơ mới trong lịch sử văn học dân tộc - Trong quá khứ, dấu hiệu của một cuộc cách mạng thơ ca đi ra ngoài khuôn khổ của thơ ca Trung đại bằng chữ Hán. Những dấu hiệu đổi mới được thể hiện trên cả hai bình diện : nội dung và hình thức. - Về nội dung, trong suốt hành trình thơ ca Trung đại, ở những nhà thơ xuất sắc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến.) hay những hiện tượng thơ ca khác thường (Hồ Xuân Hương) bắt đầu xuất hiện những khuynh hướng đi ra ngoài văn chương đạo lý và duy lý của Nho giáo : biểu đạt những tình cảm, tâm sự chân thật (một thứ “khát vọng được thành thật”), những nỗi đau và những khát vọng chân chính của con người (đặc biệt là khát vọng hưởng lạc, tận hưởng cuộc sống trần thế - điều đậm đặc trong văn chương về nội dung nhân đạo chủ nghĩa từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX) - Gắn liền không thể tách rời với nội dung tâm trạng, hình thức thơ cũng đã có những vận động tương ứng : thơ thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trải, sử dụng ngôn ngữ dân tộc (thơ Nôm), những lối nói ẩn dụ, tượng trưng, đa nghĩa trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
và đặc biệt là sự ra đời của các thể thơ thuần túy dân tộc. - Tuy vậy, do sự duy trì bền vững của thể chế tuyển chọn quan lại bằng thi cử và đặc biệt, do sự bảo thủ của cơ chế xã hội, văn hóa, do sự thống trị dai dẳng của Nho giáo và mỹ học Nho giáo nên một cuộc cách mạng trong thi ca chưa thực sự diễn ra. Những dấu hiệu báo trước Thơ mới trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX - ở những đại diện xuất sắc của Thơ cũ (Tản Đà) khi sáng tác thơ ca đã bắt đầu có những đổi mới cả về thể loại, ngôn ngữ lẫn về nội dung cảm xúc. - Một số dịch giả bắt đầu dùng thơ tự do để dịch thơ phương Tây (Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine) - Một số trí thức (Phạm Quỳnh, Phan Khôi) lên án thơ ca truyền thống vì quá nghiêm ngặt về niêm luật mà giết chết sự tự nhiên của cảm xúc.
Cuộc tranh luận Thơ mới – Thơ cũ : - Năm 1932, ngày 10/3/1932, Phan Khôi đăng bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn, bài thơ mới đầu tiên, tiên phong cho một cuộc cách mạng. Bài thơ đã gây nên một cơn bão trong dư luận. - Tiếng nói kêu gọi đổi mới của Phan Khôi được sự hưởng ứng rất mạnh mẽ của thanh niên trí thức đương thời: Thứ 1. Phụ nữ tân văn tiếp theo Tình già còn đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm) và Hồ Văn Hảo.
ở ngoài Bắc, báo Phong hóa mới được lập cũng hưởng ứng Thơ mới bằng cách công kích các đại diện của Thơ cũ mà điển hình là Tản Đà. Số Tết năm 1933, Phong hóa đăng một loạt sáng tác của các cây bút trẻ (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nhất Linh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông). Tiếp theo Phong hóa, nhiều báo, nhà xuất bản khắp trong Nam ngoài Bắc đều đua nhau đăng thơ mới. Cùng với hoạt động sáng tác và xuất bản là các cuộc diễn thuyết của những người ủng hộ thơ mới (Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm tranh luận với Nguyễn Văn Hanh, Vũ Đình Liên, Trương Tửu).
Đáng lưu ý là hai bức thư gửi lên Khê Thượng của LTL. Đến năm 1936, có thể nói thơ mới toàn thắng. - Đối lập với những người ủng hộ Thơ mới, cũng có những tiếng nói ủng hộ Thơ cũ (Nguyễn Văn Hanh, Thái PHỉ, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là Tản Đà) tuy nhiên, điều quan trọng là chỉ trong vài năm, trong khi thơ mới kịp xuất hiện một thế hệ tác giả tài năng (Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp) thì ngay cả những đại diện xuất sắc nhất của thơ cũ (Tản Đà) cũng bị rơi vào khủng hoảng sáng tạo. Đôi nét lịch sử và một số khuynh hướng sáng tạo thơ mới - Có thể tạm chia Thơ mới thành hai thời kỳ trước và sau năm 1939.
Thời kỳ thứ nhất bao gồm các tác giả tiền phong của thơ mới : Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Thái Can.