phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận án được triển khai thành 4 chương: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 Chƣơng 3. Nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 Chƣơng 4.
Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 8 NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học 1. Khái lƣợc diễn trình và thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới Tự sự học (TSH) đã xuất hiện từ lâu ở phương Tây. Nó vốn thực chất là một nhánh của thi pháp học cấu trúc.
Đặt nền móng cho cơ sở ban đầu của lí thuyết này là trường phái hình thức Nga với một số tên tuổi tiêu biểu như V.Tomachevski (1890 - 1957)… Trong công trình của các nhà hình thức chủ nghĩa, mặc dù không có chủ đích tìm hiểu riêng về nghệ thuật tự sự với hệ thống thuật ngữ công cụ như sau này, song trong khi chú ý đến các “thủ pháp”, họ đã bước đầu đề cập đến nhiều phương diện cơ bản của lí thuyết TSH như kết cấu văn bản tự sự, truyện kể và cốt truyện, thời gian của truyện kể và thời gian của kể chuyện, thời gian “giả”. Nếu chủ nghĩa hình thức Nga đặt những viên gạch đầu tiên cho lí thuyết TSH thì chủ nghĩa cấu trúc đã góp phần hình thành bộ môn TSH với nhiều nhà TSH xuất sắc (vốn xuất thân từ chủ nghĩa cấu trúc). TSH ra đời khi chủ nghĩa cấu trúc phát triển ở đỉnh cao. Nhà nghiên cứu gọi đấy là thời kì giải cấu trúc hay hậu cấu trúc.
Các nhà cấu trúc thuộc trường phái Cấu trúc - kí hiệu học Paris tiêu biểu như R.Bremond… còn được gọi là những nhà cấu trúc mới, bởi họ nghiên cứu cấu trúc tự sự của văn bản. Các tác giả lập nên một chuyên ngành riêng gọi là TSH cấu trúc. Hệ hình lí thuyết này đã thừa kế những thành tựu lí luận của chủ nghĩa cấu trúc và phát triển lên thành hệ thống lí thuyết nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Đến khi chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời, TSH bắt đầu có những chuyển động trong hệ hình lí thuyết, đối tượng, phương pháp nghiên cứu.
Từ đó, ngành học này không chỉ quan tâm đến yếu tố nội tại của văn bản, mà còn mở rộng đến các thể loại “phi văn học”, “phi ngôn ngữ” khác. Đó thực sự là cuộc phiêu lưu dấn thân, một thử nghiệm mới của các nhà cấu trúc/giải cấu trúc - kí hiệu học tiêu biểu mang khát vọng vượt thoát mọi giới hạn của khoa học để truy tìm những miền đất mới. 9 Xuất phát từ công trình Grammaire du Décaméron (Ngữ pháp “Truyện mười ngày”) (1969) của Tz.Todorov, từ đó đến nay lí thuyết TSH không ngừng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Những thay đổi phương pháp nghiên cứu, đối tượng tiếp cận cùng với sự ra đời của các hệ hình lí thuyết đã cho thấy quá trình vận động mạnh mẽ cũng như sự triển nở vô hạn của ngành học.
Hệ hình TSH kinh điển (đại diện tiêu biểu như R.Stanzel…, các công trình chính: Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể, Ngữ pháp “Truyện mười ngày”, Diễn ngôn truyện kể, Diễn ngôn mới về truyện kể…) tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên truyện, nghiên cứu diễn ngôn tự sự và yếu tố tạo nên nó: người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể, hành động kể, giọng điệu… Lí thuyết TSH đã cung cấp một hệ thống khái niệm công cụ hiệu quả để phân tích diễn ngôn tự sự. Tuy nhiên, hệ hình lí thuyết này mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả các yếu tố hình thức cấu trúc tự sự trong thế tĩnh tại, khép kín, mà chưa đi sâu tìm hiểu cơ chế vận hành của tự sự trong ngữ cảnh tiếp nhận và văn hóa. TSH hậu kinh điển (đại diện chủ chốt như Tz.Barthes vào những năm 70 của thế kỉ XX, G.Revaz…, các công trình chính: Đọc tựa như xây dựng, Sự khoái lạc của văn bản, Dẫn luận tự sự học…) là một hướng nghiên cứu “mở”. Hệ hình này đã thoát khỏi mô hình TSH kinh điển khi chỉ tập trung phân tích cấu trúc văn bản truyện kể bằng việc mở rộng đối tượng tiếp cận ra với người đọc, ngữ cảnh và các lĩnh vực tự sự ngoài văn học.
Đến hôm nay, TSH tiếp tục mở ra với mô hình “tự sự học + X”, trong đó nhân tố “X” có thể là chủ nghĩa nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa hay nghiên cứu hậu thực dân, nghiên cứu TSH tâm lí, TSH pháp luật, TSH lịch sử (như H.White), TSH hậu hiện đại (như M.Coli), TSH tu từ (Phelan, Karl Kao)… [132, tr. Nếu trước đây, TSH cấu trúc chỉ chú ý đến chức năng, ngữ pháp truyện, ngữ nghĩa truyện ở tầng sâu cấu trúc văn bản, thì nay các học giả đang chú ý đến tu từ học TSH như là phương diện biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tự sự. Ngoài những vấn đề cơ bản như điểm nhìn, người kể chuyện, thì kí hiệu tượng trưng, khoảng cách trần thuật được đặc biệt quan tâm. TSH là một khuynh hướng nghiên cứu “mở”, giàu tiềm năng.
Ngành khoa học này vận động không ngừng suốt hơn nửa thập kỉ vừa qua. Mặc dù còn tồn tại một số bất đồng (và bất cập) ở các thế hệ nghiên cứu F2, F3, F4…, song cùng với các hệ 10 hình lí thuyết khác, TSH đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần quan trọng làm phong phú diện mạo nghiên cứu văn chương nói riêng và các ngành khoa học xã hội nói chung. Quá trình vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt Nam Hệ thống lí luận về TSH xuất hiện trên thế giới vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX nhưng ở Việt Nam mãi đến những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XXI mới được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức. Một trong những người đầu tiên đưa TSH vào giới thiệu ở Việt Nam là Trần Đình Sử.
Trong hai tiểu luận có tính chất nghiên cứu dẫn nhập “Tự sự học - một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng” (2001) và “Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển” (2008) được trình bày ở Hội thảo về tự sự học, tác giả đã hệ thống, khái lược nhiều vấn đề liên quan đến lí thuyết tự sự. Đặc biệt ở đó, nhà nghiên cứu nhấn mạnh cơ sở hình thành hệ thống lí thuyết từ nền tảng của chủ nghĩa hình thức Nga cùng những thành tựu đột phá trong ngôn ngữ học của F.de Saussure và lịch sử hình thành từ Platon, Aristote đến Tz. Cùng với đó, một vài công trình lí thuyết TSH ở nước ngoài đã được dịch thuật và giới thiệu ở Việt Nam, chẳng hạn: “Cấu trúc truyện kể” của A.Greimas (Nguyễn Đức Dân giới thiệu và lược dịch), “Tự sự học” của M.Bal (Nguyễn Thị Ngọc Minh giới thiệu và lược dịch), “Tự sự học” của S.Landa (Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga giới thiệu và lược dịch), “Lí thuyết tự sự” của H.White (Trần Ngọc Hiếu giới thiệu và lược dịch), “Điểm nhìn nghệ thuật” của R.Kellogg (Cao Kim Lan giới thiệu), “Lí thuyết về người nghe chuyện trong tác phẩm tự sự” của G.Prince (Nguyễn Thị Hải Phương giới thiệu và lược dịch), Trần thuật học nhập môn lí thuyết trần thuật của M.Jahn (Nguyễn Thị Như Trang dịch), “Proust và lời gián tiếp” của G.Genette (Phùng Kiên dịch),… Bên cạnh đó, các tiểu luận quan trọng của Tz.Lotman (“Kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ”) cũng được giới thiệu và dịch thuật bởi hai nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh và Lã Nguyên. Ngoài ra phải kể đến những công trình dịch thuật và nghiên cứu diễn ngôn của Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Lê Thời Tân, Nguyễn Thị Ngọc Minh… như là nỗ lực kiến giải một trong những thuật ngữ gây tranh luận bậc nhất trong lí thuyết TSH hiện nay.
Trong công trình hai tập Lý luận phê bình văn học thế giới (Lộc Phương Thủy chủ biên và nhiều tác giả tham gia dịch thuật) đã tuyển dịch một số công trình quan 11 trọng liên quan đến TSH của Tz. Ngoài ra, công trình Thi pháp văn xuôi của Tz.Todorov (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch) cũng đã tập hợp những bài nghiên cứu liên quan đến truyện kể, đặc biệt trong đó có công trình Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” (Grammaire du Décameron) mà chúng tôi đã có dịp nhắc tới trên đây. Gần đây, Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học đã phối hợp cho ra mắt công trình Những vấn đề văn học phương Tây hiện đại - Tự sự học kinh điển. Đây là công trình dịch thuật những tiểu luận của một số nhà TSH (nhóm dịch giả Duy Châu và Xuân Lộc), trong đó đáng chú ý là R.Booth (Khoảng cách và điểm nhìn)… Cũng nằm trong sự quan tâm ấy, Ban Văn học nước ngoài của Viện Văn học đang thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng, tập trung nghiên cứu TSH từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dụng ở một số nền văn học như Trung Quốc, Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và chủ yếu là Việt Nam.
Những kết quả nghiên cứu đầu tiên đã được chọn lựa, giới thiệu trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2010 với chuyên đề Tự sự học. Nghiên cứu chuyên sâu về các phương diện trần thuật học, Lê Phong Tuyết đã giới thiệu G.Genette cùng lí thuyết của ông một cách hệ thống. Với hai bài viết “Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật”, “Người kể chuyện trong văn xuôi”, tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề liên quan đến lí thuyết TSH vốn còn khá mới mẻ với giới nghiên cứu Việt Nam: những tình huống trần thuật, người nghe chuyện, người kể chuyện, điểm nhìn tự sự. Cũng quan tâm đến phương diện người kể chuyện, Cao Kim Lan với tiểu luận “Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả” đã chỉ ra sự thống nhất chứ không đồng nhất của hai phạm trù quan trọng trong hệ thống lí thuyết TSH cùng với nhiều vấn đề cốt yếu liên quan.
Tiếp tục hướng nghiên cứu đó, trong tiểu luận “Tu từ học tiểu thuyết - một phương pháp tiếp cận giàu tiềm năng”, tác giả đã giới thiệu một khuynh hướng tiếp cận mới, khả dụng của TSH vào thực tiễn nghiên cứu tiểu thuyết ở Việt Nam. 12 Trần Huyền Sâm là một trong những người có nhiều tâm huyết trong việc đưa bộ môn TSH vào giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam.