phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề chung - Chƣơng 2: Minh quyên thi tập nhìn từ phƣơng diện nội dung - Chƣơng 3: Minh quyên thi tập nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật 4 NỘI DUNG Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.Tác giả Nguyễn Hành 1.Thời đại Về mặt lý luận văn học cho thấy, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của một tác giả luôn có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau. Có thể nói, cuộc đời chính là nền tảng cho sự nghiệp sáng tác. Không chỉ vậy, ta thấy lịch sử khoa học không những nghiên cứu ngôn ngữ trong từng giai đoạn, mà còn cung cấp cho ngƣời đọc những đóng góp quan trọng về phƣơng diện cuộc đời cũng nhƣ sự nghiệp sáng tác của một tác gia trong thời đại.
Đi cùng lịc sử, tác phẩm văn chƣơng luôn chịu sự chọn lọc, thử thách khắc nghiệt của thời gian; vì thế nhiều tác phẩm rơi vào quên lãng. Dƣờng nhƣ ngƣợc với quy luật ấy, đã có những tác giả và tác phẩm lại không ngừng đƣợc bàn luận qua các thời kì lịch sử. Chính bởi cuộc đời, tác phẩm của họ mang nhiều tâm tƣ sâu sắc, đồng thời quy tụ đƣợc nhiều vấn đề xã hội. Có thể khẳng định rằng, tác giả Nguyễn Hành cùng các tác phẩm của ông là một minh chứng điển hình cho việc tái hiện chân thực bức tranh hiện thực xã hội đƣơng thời.
Thời đại theo nghĩa rộng, thời đại là một khái niệm chính trị – kinh tế – xã hội khái quát tiến trình phát triển của lịch sử loài ngƣời, là thời gian rất dài để chỉ sự phân kỳ lịch sử xã hội và để phân biệt những nấc thang phát triển của hình thái kinh tế xã hội mà theo đó nấc thang cao hơn, tiến bộ hơn sẽ phủ định nấc thang cũ, lạc hậu để mở đƣờng cho sự phát triển một thời đại mới. Theo nghĩa hẹp thì thời đại đƣợc hiểu là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội dung phát triển trên các phƣơng diện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ… Có thể nói, thời đại chính là cơ sở, là nền tảng bồi đắp nên những tâm hồn lớn, những nhà văn, nhà thơ lớn. Mặt khác, nhà văn, nhà thơ phải biết đời sống xã hội của thời đại, phải cảm nhận đƣợc những nỗi đau đớn 5 của con ngƣời trong thời đại, phải sống, thấu hiểu nhân tình thế thái, hiểu những thăng trầm lịch sử, những cuộc bể dâu…để thấu cảm và biến nó thành nguồn cảm hứng trong những đứa con tinh thần của mình. Nguyễn Hành sinh năm 1771, mất năm 1824.
Ông sống vào khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Đây là một giai đoạn đầy những sự biến động đến kinh thiên động địa, có thể nói là bi thƣơng nhất thời trung đại. Trong cuộc đời mình, Nguyễn Hành lần lƣợt chứng kiến sự khủng hoảng, sụp đổ và thay thế nhau của ba triều đại: nhà Lê, Tây Sơn, Nguyễn, và cùng với đó là sự đấu tranh, phân hóa phức tạp của nhiều phe phái, nhiều xu thế chính trị khác nhau. Có thể nói, thời đại của Nguyễn Hành là thời đại chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thống trị tranh giành quyền lực gây ra chiến tranh triền miên, kinh tế đình đốn, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ… Không chỉ vậy, thời đại của Nguyễn Hành còn là thời đại các cuộc khởi nghĩa của nông dân nở rộ mạnh mẽ nhất.
Trƣớc năm 1771, có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phƣơng, Nguyễn Tuyển, Lê Duy Mật, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Cừ, Hoàng Công Chất. Nhƣng đỉnh cao của phong trào khởi nghĩa của nông dân là phong trào Tây Sơn. Đến năm 1771, Nguyễn Nhạc khởi binh ở đất Quy Nhơn, Bình Định, sau đó mở rộng thế lực ra các tỉnh Quảng Ngãi. Một năm sau, năm 1776, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh chiếm Gia Định, chúa Nguyễn phải bỏ chạy.
Sau đó năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long, phù Lê, diệt Trịnh. Năm 1787, nhà Tây Sơn lại cho quân ra Bắc Hà, diệt Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, đồng thời thống lĩnh đại binh đánh tan quân Thanh. Năm 1792, Nguyễn Huệ mất, phong trào Tây Sơn cũng từ đấy tan rã… 6 Thời đại của Nguyễn Hành còn là thời đại mà ngƣời dân bị rơi vào cảnh khốn khổ đến cùng cực bị dồn vào đƣờng cùng, những gia đình ly tán, phiêu bạt khắp trốn, hạn hán mất mùa, bệnh dịch tràn lan, nạn đói, ngƣời chết khắp nơi.
Những biến động vừa phức tạp ấy là chất liệu quý giá cho những sáng tác hiện thực của Nguyễn Hành sau này. Những biến cố thời đại đã gây cho ông sự khủng hoảng và đổ vỡ lớn lao. Nói chung, Nguyễn Hành là nhân chứng của cuộc biến thiên lịch sử, cho nên ông đã phơi bày tất cả hiện trạng ấy rất phong phú, với muôn mặt của nó. Đọc thơ Nguyễn Hành chúng ta sẽ thấy ông ghi lại chân thực cảnh đời biến loạn thời bấy giờ.
Hơn nữa, ở thời bấy giờ, bên cạnh tình hình xã hội rối ren còn có sự đan xen nhiều luồng tƣ tƣởng lớn, nó đã có ảnh hƣởng không nhỏ tới thế giới quan cũng nhƣ tƣ tƣởng của nhà thơ. Đạo Nho lúc ấy đã khủng hoảng nghiêm trọng, bộc lộ những mặt hạn chế trƣớc lịch sử. Cùng với đó, đạo Phật và đạo Lão hồi sinh, hòa đồng cùng đạo Nho trong một màu sắc mới, cũng phần nào tìm đƣợc tiếng nói xoa dịu nỗi đau trong lòng con ngƣời. Đây cũng chính là lý do nhiều bài thơ của Nguyễn Hành có nhắc đến các điển tích, hình ảnh đặc trƣng của Đạo giáo, Phật giáo.
Đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ của tƣ tƣởng nhân văn, nhân đạo chủ nghĩa, mà gắn liền với nó là thể hiện sự quan tâm đến thân phận con ngƣời; đặc biệt là ngƣời phụ nữ, với yêu cầu khẳng định quyền đƣợc sống, quyền đƣợc hạnh phúc thật chính đáng. Bấy nhiêu luồng tƣ tƣởng ảnh hƣởng, chuyển hóa lẫn nhau và tạo nên những xáo trộn, cùng những biểu hiện vừa tích cực, vừa tiêu cực đối với thế giới quan cũng nhƣ cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Hành. Cũng bởi sống trong thời đại đầy biến loạn nhƣ thế đã ảnh hƣởng rất lớn đến sáng tác của Nguyễn Hành. Điều này đƣợc thể hiện qua những bài thơ hiện thực đầy ám ảnh của ông.
Đồng thời đây cũng là điều kiện để Nguyễn 7 Hành hiểu, thấm thía đời sống của những ngƣời dân cùng khổ khác, mà hơn nữa bản thân ông cũng là một trong những ngƣời dân cùng đƣờng, khốn khổ ấy. Cuộc đời và con người 1. Cuộc đời Nguyễn Hành (1771 - 1824) vốn tên là Viêm, Đạm, tự Tử Kính, hiệu Nam Thúc, biệt hiệu Ngọ Nam, Nam Song và Tâm Trai. Ông là ngƣời làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay là tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Hành thuộc dòng dõi quý tộc phong kiến. Ông là con vợ thứ của Điền Nhạc hầu Nguyễn Điều (1745-1824), là cháu nội Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, gọi Nguyễn Du là chú ruột. Nguyễn Nghiễm (1708-1776) thuộc đời thứ 6 trong dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền, đời thứ 15 của họ Nguyễn; là con thứ hai của Lãnh Nam công Nguyễn Quỳnh - đỗ Hoàng giáp, làm Thị lang bộ Hình, Tham tụng rồi Thƣợng thƣ bộ Công, Thƣợng thƣ bộ Hộ. Các đời trƣớc Nguyễn Nghiễm, trong họ Nguyễn đều có rất nhiều ngƣời giỏi văn chƣơng, đỗ đạt cao và làm quan to dƣới triều Lê Trung Hƣng và trong phủ Chúa Trịnh.
Thân phụ Nguyễn Hành cũng đỗ tam trƣờng, làm Thị nội văn chức rồi Trấn thủ Hƣng Hóa, Trấn thủ Tuyên Quang, Trấn thủ Sơn Tây. Mẹ của Nguyễn Hành là vợ kế của Nguyễn Điều, họ Nguyễn, con thứ tƣ của Thiếu Bảo Đạt Vũ Hầu, quê ở xứ Kinh Bắc. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền trong mục ghi về Nguyễn Nghiễm có viết, Nguyễn Hành “được tập ấm chức Hiển cung đại phu, Phó Trung úy, tước Hành nhặc bá. Ông là người thông minh, nhớ lâu, hiểu rộng, đọc nhiều sách.
Ông được xếp thứ hai cùng với chú là Thanh Hiên công trong An Nam ngũ tuyệt…” [10,tr79]. Cũng trong Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, khi nói về Nguyễn Du, có đoạn viết: “Nguyễn Du là người học rộng, nhớ lâu, có tài làm thơ. Trong năm nhà thơ giỏi nhất An Nam “An Nam ngũ tuyệt” thì ông và người cháu ruột là Nam Thúc (tức Nguyễn Hành) chiếm hai tên. 8 Năm 1780, Nguyễn Khản - con trai trƣởng của Nguyễn Nghiễm bị buộc tội liên quan đến “vụ án Canh Tý”.
Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền còn ghi lại, Tuyên phi Đặng Thị Huệ và A Bảo Huy quận công kết bè lập con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán làm thế tử. Cũng trong năm đó, Nguyễn Nghiễm bị vu tham gia lập mƣu phế Trịnh Cán, giúp Trịnh Khải (Trịnh Tông) làm thế tử, Trịnh Vƣơng xuống chỉ cho gọi Nguyễn Khản về kinh đô, bắt giam. Những ngƣời phạm vào âm mƣu này đều bị xử tội chết, riêng Nguyễn Khản do niệm tình có công giảng dạy mình nên Trịnh Vƣơng cho đƣợc miễn tội chết, và ông chỉ bị cách chức. Nguyễn Điều (thân phụ của Nguyễn Hành), là con thứ hai của Nguyễn Nghiễm.
Trong “vụ án Canh Tý”, Nguyễn Điều bị giáng chức làm Thắng trung trong đội thuyền. Đến năm 1784, Nguyễn Điều làm Trấn Thủ Sơn Tây, gặp loạn kiêu binh đốt phá dinh thự quan lại Bộ Thƣợng thƣ Nguyễn Khản. Nguyễn Khản trốn lên Sơn Tây toan cùng em hợp binh các trấn về giết kiêu binh, nhƣng kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh nên không làm gì đƣợc, kiêu binh làm áp lực bãi chức Thƣợng thƣ bộ Lại Nguyễn Khản, Nguyễn Điều bị giáng chức về huyện Thanh Chƣơng, Hà Tĩnh. Ông sống cùng con cháu tại đây.
Năm 1786, nhà Trịnh sụp đổ Nguyễn Điều ôm chí uất ức mà mất, lúc đó Nguyễn Hành chỉ mới 15 tuổi. Thuở nhỏ, Nguyễn Hành học ở Thăng Long, là ngƣời thông minh, hiểu biết rộng, có tài thơ văn hay. Nguyễn Hành có tham vọng nối dõi truyền thống thế gia nhƣng khi đến tuổi trƣởng thành, do nhiều biến thiên dữ dội của thời Lê mạt - Nguyễn sơ nên ông không có dịp thi thố sở học và tài năng của mình. Hơn nữa, họ Nguyễn Tiên Điền đến thời thân phụ ông bắt đầu sa sút, thất thế, và bị phân tán trƣớc cơn lốc của lịch sử.
Nhà nho tài hoa Nguyễn Hành cũng từng bị dèm pha nguy hiểm đến tính mạng, phải rời vợ con, nhà cửa, lƣu lạc nơi đất khách, sống cuộc đời cực khổ.