Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Kim Hồng mang tiêu đề "Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX", chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9220121), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lưu Khánh Thơ và TS. Biện Thị Quỳnh Nga tại Trường Đại học Vinh vào năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tôn giáo và văn học đều là những hình thái ý thức xã hội có mối quan hệ gắn bó, giao thoa mật thiết. Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và Ki tô giáo, đã cung cấp nguồn chất liệu và cảm hứng sáng tạo cho nhiều thế hệ tác giả. Việc tiếp nhận ảnh hưởng tôn giáo đã mở rộng chiều kích biểu hiện của thơ ca, thúc đẩy thơ đào sâu vào cõi vô thức, tâm linh, đồng thời gia tăng hàm lượng tư tưởng, trí tuệ và triết lý.

Thực tế lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại ghi nhận sự xuất hiện của nhiều tác giả sáng tác gắn liền với cảm quan tôn giáo như Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Thích Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Mai Văn Phấn. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa văn học và tôn giáo thế kỷ XX còn mang tính tản mát, chủ yếu tập trung vào các trường hợp tác giả riêng lẻ hoặc bình diện cục bộ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là sự cần thiết của một công trình khảo cứu hệ thống, toàn diện và xuyên suốt cả thế kỷ để đánh giá khách quan, khoa học về diện mạo, đặc trưng thi pháp và giá trị của bộ phận thơ ca mang cảm hứng tôn giáo đối với nền văn học dân tộc.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những nét đặc sắc của cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX trên cả hai bình diện: nội dung tư tưởng và phương thức thể hiện nghệ thuật; xác định sự tiếp nối, bổ sung và phát triển của nguồn mạch cảm hứng này từ thơ ca truyền thống đến hiện đại; qua đó đánh giá thành tựu của bộ phận thơ mang cảm hứng tôn giáo và xác lập hướng tiếp cận từ góc nhìn tâm linh - tôn giáo trong nghiên cứu văn học.

Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, luận giải các tiền đề xã hội - thẩm mỹ của cảm hứng tôn giáo, nhận diện quá trình vận động và vị trí của nguồn cảm hứng này trong lịch sử thơ ca dân tộc nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói riêng.
  2. Khảo sát, phân tích, luận giải những đặc điểm của cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX trên các bình diện nội dung: quan niệm về các cõi và đức tin; quan niệm về đạo và đời cùng mối quan hệ giữa đạo và đời; vấn đề ngã và bản ngã.
  3. Khảo sát, phân tích, luận giải các phương thức thể hiện cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX, bao gồm: sự lựa chọn thể thơ, cách thức tổ chức và kết cấu bài thơ, hệ thống biểu tượng nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung bao quát hai nguồn cảm hứng tôn giáo chủ đạo là cảm hứng Phật giáo và cảm hứng Ki tô giáo. Khảo sát các sáng tác thơ của hai nhóm chủ thể: nhóm tác giả là tín đồ tôn giáo và nhóm tác giả không phải tín đồ tôn giáo.
  • Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát sâu 8 hiện tượng thơ tiêu biểu gồm: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng, Thích Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Mai Văn Phấn; đồng thời quan sát mở rộng tới các tác giả khác trong thế kỷ XX và một số cây bút trẻ đầu thế kỷ XXI như Pháp Hoan, Phápxa Chan nhằm theo dõi tính vận động liên tục của cảm hứng thơ tôn giáo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được luận án điểm lại

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước theo tiến trình ba giai đoạn lịch sử văn học:

  1. Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đến năm 1945: Các nghiên cứu tập trung nhận diện ảnh hưởng tôn giáo trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945. Tiêu biểu là công trình Nhà văn Việt Nam hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh và Hoài Chân, cùng ấn phẩm Hoài Thanh - bình thơ và nói chuyện thơ (Từ Sơn tuyển chọn, 2008). Các tác giả này đã ghi nhận hiện tượng thơ tôn giáo xuất hiện gắn liền với Hàn Mặc Tử và nhấn mạnh việc đạo Thiên Chúa tạo ra bầu không khí kết tinh thành thi ca. Ngoài ra, Trần Thanh Mại trong chuyên luận Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) (1941) đã bước đầu khảo sát ngôn ngữ thơ tôn giáo.

  2. Giai đoạn 1945 - 1975: Các công trình chủ yếu xuất hiện ở đô thị miền Nam.

    • Về cảm hứng Phật giáo: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ), Việt Nam văn học giảng bình (Phạm Văn Diêu), Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (1932 - 1962) (Minh Huy), Ảnh hưởng của Phật giáo trong thi ca Việt Nam (Phạm Xuân Sanh), Đạo Phật với văn học và nghệ thuật (Thích Minh Châu), Tinh thần Phật giáo trong văn học Việt Nam (Thạch Trung Giả), Sự thích ứng giữa tinh thần Phật giáo với tinh thần dân tộc qua một số tư liệu văn học (Khiếu Đức Long).
    • Về cảm hứng Ki tô giáo: Chuyên luận Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (1965) của Võ Long Tê xác nhận sự hiện diện của dòng văn học Công giáo; công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng dành riêng một chương nghiên cứu về văn chương tôn giáo đầu thế kỷ XX.
  3. Giai đoạn sau năm 1975 đến nay:

    • Các công trình nghiên cứu toàn cảnh về thơ hiện đại có đề cập đến cảm hứng tôn giáo: Vũ Anh Tuấn, Phạm Quốc Ca, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Lê Ngọc Thúy, Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Hữu Sơn, Hà Minh Đức, Lê Lưu Oanh, Vũ Văn Sỹ (1999), Mã Giang Lân (2000), Bùi Công Hùng (2000), Nguyễn Việt Chiến (2007), Nguyễn Đăng Điệp (2014), Hồ Thế Hà (2018).
    • Các hội thảo khoa học chuyên đề: Phật giáo trong thời đại mới - Cơ hội và thách thức (2006), Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế (2006), Văn học Phật giáo với 1000 năm Thăng Long (2010), Phật giáo nguyên thủy trong kỷ nguyên toàn cầu hóa (2014), Văn học và Văn hoá tâm linh (2014), Văn học Phật giáo Việt Nam - Thành tựu và những định hướng nghiên cứu mới (2016), Phật giáo và Văn học Bình Định (2018), Văn học Công giáo từ 1620 đến nay (2019).
    • Các bài viết và luận án chuyên biệt: Tham luận của Nguyễn Phạm Hùng, Võ Phước Lộc, Thái Tú Hạp; luận án tiến sĩ của Đặng Thị Đông về Ảnh hưởng của triết lí Phật giáo trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay; các công trình về văn học Công giáo của Thành Tâm, Lê Đình Bảng (Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam, Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường), Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Hồng Dương, Trần Hoài Anh; nghiên cứu Loại hình Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 (2015) của Nguyễn Thanh Tâm.
    • Các công trình về từng tác giả: Nghiên cứu của Quách Tấn, Vũ Ngọc Phan về Hàn Mặc Tử; Nguyễn Thị Trúc Đào về Phạm Thiên Thư; Nguyễn Hiệp, Đỗ Minh Tuấn, Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm (2015), Uyên Nguyên, Mai Thị Thảo, Nguyễn Thị Hương Giang, Lê Thị Hương về Mai Văn Phấn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở các tác giả cụ thể hoặc nghiên cứu riêng rẽ từng tôn giáo (chủ yếu là Phật giáo, ít chú trọng Ki tô giáo). Luận án của Nguyễn Thị Kim Hồng giải quyết khoảng trống về một công trình mang tính bao quát toàn diện, liên kết hệ thống cả hai dòng cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo trong suốt tiến trình một thế kỷ thơ hiện đại, làm rõ sự tương đồng và khác biệt về thi pháp giữa hai dòng cảm hứng này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các hệ thống lý luận văn học và tôn giáo học:

  • Khái niệm tôn giáo và các hệ tư tưởng cốt lõi:

    • Phật giáo: Là tôn giáo vô thần hướng tới trí tuệ nhận thức và đời sống thiện. Khung thế giới quan dựa trên thuyết Ngũ uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức), cấu trúc Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), học thuyết Bản thể tính không (Nhân pháp nhị không), quy luật Thập nhị nhân duyên, các phạm trù Vô thường và Vô ngã. Khung nhân sinh quan tập trung vào Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), thuyết nhân quả, nghiệp báo và luân hồi.
    • Ki tô giáo (Công giáo Roma): Là tôn giáo độc thần, đặt nền tảng trên Kinh thánh (Cựu ước và Tân ước). Khung thế giới quan khẳng định niềm tin vào Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từ hư vô, bản thể Tam vị nhất thể (Cha, Con, Thánh thần), thời điểm sáng thế và ngày tận thế, sự phân định các cõi Thiên đàng và Địa ngục. Khung nhân sinh quan xác định con người tạo thành từ vật chất (đất) và linh hồn (sinh khí), mang phẩm giá cao quý, đứng ở vị trí kết nối giữa vũ trụ và Thiên Chúa; con người chịu sự sa ngã, tội lỗi và hướng tới sự cứu chuộc, sống vì tình yêu tha nhân.
  • Mối liên hệ giữa tôn giáo và thơ ca: Sự tương thích về hình thức tư duy hướng nội, sự bổ trợ giữa tính cụ thể cảm tính của thi ca và tính trừu tượng siêu hình của tôn giáo, cùng mục tiêu hướng tới giá trị nhân văn.

  • Cảm hứng sáng tạo và cảm hứng tôn giáo trong thơ: Vận dụng lý thuyết về cảm hứng (pathos) của mỹ học phương Tây (Platon, G. Pospelov, Baudelaire, Paustovsky) và phương Đông; lý giải của Phương Lựu về trạng thái cảm xúc. Định nghĩa cảm hứng tôn giáo trong thơ: Là trạng thái rung động mãnh liệt của nhà thơ về tôn giáo, hình thành từ những cảm nghiệm sâu sắc về giáo lý và đức tin, chuyển hóa từ ý thức tôn giáo sang ý thức trữ tình nhằm xây dựng thế giới nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy thuộc chuyên ngành văn học, sử dụng phối hợp các phương pháp:

  1. Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phương pháp chủ đạo dùng để giải mã cấu trúc nghệ thuật, hình tượng, ngôn ngữ và giọng điệu thơ.
  2. Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức từ tôn giáo học, triết học, văn hóa học, tâm lý học, lịch sử và mỹ học làm hệ quy chiếu.
  3. Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Sắp xếp tác giả, tác phẩm theo tiến trình thời gian và hệ thống hóa các bình diện nội dung, nghệ thuật thành chỉnh thể.
  4. Phương pháp loại hình học: Khảo sát các tập hợp thơ mang cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo, so sánh thơ truyền thống và thơ hiện đại.
  5. Phương pháp tiểu sử: Khai thác dữ kiện đời tư, hoàn cảnh sống và quá trình tiếp nhận tôn giáo của các tác giả.
  6. Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các giai đoạn văn học, giữa cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo, giữa thơ ca và các thể loại khác.
  7. Các thao tác bổ trợ: Thống kê - phân loại văn bản, phân tích - tổng hợp tư liệu.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Ngữ liệu nghiên cứu gồm các tập thơ, thi phẩm xuất bản trong thế kỷ XX và một số tác phẩm đầu thế kỷ XXI của các nhà thơ Việt Nam. Tư liệu được phân loại theo hai tiêu chí:

Tiêu chí phân loại Nhóm cảm hứng Phật giáo Nhóm cảm hứng Ki tô giáo
Nhóm tác giả là tín đồ Phạm Công Thiện, Thích Nhất Hạnh, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Pháp Hoan, Phápxa Chan Hàn Mặc Tử, Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng, Võ Long Tê, Trăng Thập Tự, Lê Quốc Hán, Mai Văn Phấn
Nhóm tác giả ngoại đạo Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bích Khê, Huy Cận, Bùi Giáng Đinh Hùng, Bàng Bá Lân, Vũ Hoàng Chương, Hồ Dzếnh

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này xác lập nền tảng lý luận và điểm duyệt lịch sử nghiên cứu. Tác giả trình bày các khái niệm cơ bản về tôn giáo, phân tích bản chất triết học của thế giới quan và nhân sinh quan trong Phật giáo và Ki tô giáo. Chương 1 làm rõ cơ chế chuyển hóa từ ý thức tôn giáo sang ý thức trữ tình, xác định cảm hứng tôn giáo không dừng lại ở đề tài hay lớp từ ngữ bề mặt mà là nền tảng chi phối thế giới nghệ thuật và cơ chế trữ tình của bài thơ. Đồng thời, chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu từ trước 1945, giai đoạn 1945 - 1975 và từ 1975 đến nay, xác lập vị trí khoa học và khoảng trống mà luận án đảm nhận giải quyết.

Chương 2: Cơ sở tiếp nối và các chặng đường vận động của cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX

Chương 2 phân tích các tiền đề văn hóa, lịch sử và quy luật vận động của thơ tôn giáo qua hai nội dung lớn:

  • Cơ sở văn hóa - văn học và nhận thức tôn giáo của người Việt: Văn hóa nông nghiệp lúa nước hình thành tâm lý coi trọng tâm linh, nương tựa vào tự nhiên. Bản tính cởi mở, khoan dung và lối tư duy tổng hợp biện chứng giúp người Việt tiếp biến, dung hòa nhiều tôn giáo mà không xảy ra xung đột. Dòng chảy cảm hứng tôn giáo có sự kế thừa liên tục từ văn học dân gian (truyện cổ tích với ông Bụt, tục ngữ và ca dao thấm đượm triết lý nhân quả, từ bi hỷ xả, tam độc, vô thường) đến văn học trung đại (đỉnh cao thơ Thiền Lý - Trần với tinh thần nhập thế, thơ mang cảm quan Phật giáo từ thế kỷ XV đến XIX của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, và các tác phẩm thơ ca Công giáo sơ khai từ thế kỷ XVI).
  • Tiền đề lịch sử - xã hội thế kỷ XX và các chặng đường vận động: Phân tích sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ gắn với các trí thức Công giáo (Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Ngọc Cẩn); phong trào Chấn hưng Phật giáo từ những năm 1930 với sự ra đời của các hội Phật học và báo chí Phật giáo; sự phân hóa qua các thời kỳ lịch sử từ 1932 - 1945 (Thơ mới), 1945 - 1975 (đặc biệt ở đô thị miền Nam) và sau 1975, nhất là giai đoạn Đổi mới từ năm 1986.

Chương 3: Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX, nhìn từ nội dung biểu hiện

Chương 3 đi sâu giải mã các bình diện nội dung tư tưởng của thơ ca tôn giáo thế kỷ XX:

  • Về các cõi và đức tin:
    • Thơ mang cảm hứng Phật giáo thể hiện cái nhìn về thế giới vô thường, cõi Ta bà đầy biến động, cõi sắc - không hư ảo, cùng niềm tin hướng về bến giác bằng nhận thức trí tuệ và sự giác ngộ tự tâm.
    • Thơ mang cảm hứng Ki tô giáo tái hiện sự phân chia giữa cõi trần gian hữu hạn, lầm than và cõi Thiên đàng vĩnh cửu; thể hiện niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa mầu nhiệm và sự cứu chuộc linh hồn.
  • Về đạo và đời cùng mối quan hệ giữa đạo và đời:
    • Cảm hứng Phật giáo thể hiện sự dung hợp giữa đạo và đời, tinh thần từ bi, nhập thế giúp đời, triết lý buông bỏ ái dục để đạt tới sự an lạc nội tâm.
    • Cảm hứng Ki tô giáo nhấn mạnh tinh thần bác ái, tình yêu thương tha nhân, đức hy sinh và việc thực hành đức tin giữa đời sống trần thế.
  • Về ngã và bản ngã:
    • Cảm hứng Phật giáo thể hiện ý thức phá vỡ chấp ngã, hướng tới trạng thái "vô ngã", giải thoát khỏi sự ràng buộc của nghiệp báo luân hồi.
    • Cảm hứng Ki tô giáo khắc họa ý thức của một cái tôi thụ tạo đầy tội lỗi trước Đấng Sáng Tạo, nỗi dằn vặt sám hối, ước vọng được ân sủng che chở và khẳng định phẩm giá con người.

Chương 4: Cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX, nhìn từ các phương thức, phương tiện nghệ thuật

Chương 4 khảo sát các phương diện thi pháp hình thức thể hiện:

  • Thể thơ và kết cấu bài thơ:
    • Cảm hứng Phật giáo ưa chuộng các thể thơ truyền thống (lục bát, Đường luật) kết hợp thể tự do tối giản, cấu trúc bài thơ vận động theo mạch trực cảm tâm linh, sự bừng ngộ tĩnh tại.
    • Cảm hứng Ki tô giáo thường sử dụng thể thơ tự do, thơ văn xuôi, trường ca, cấu trúc bài thơ tổ chức theo thể thức cầu nguyện, thánh ca, xưng tội hoặc đối thoại tâm linh.
  • Hệ thống biểu tượng mang tính thiêng:
    • Biểu tượng Phật giáo: Hoa sen, ánh trăng, tiếng chuông chùa, mây trắng, bến giác, thuyền bát nhã.
    • Biểu tượng Ki tô giáo: Thập giá, Máu và Nước thánh, Rượu nho, Vết thương, Trinh nữ Maria, Ánh sáng thiên đàng.
  • Giọng điệu và ngôn ngữ:
    • Sắc thái Phật giáo: Giọng điệu thanh tịnh, trầm lắng, chiêm nghiệm, hư tĩnh; ngôn ngữ mang tính "vô ngôn", tối giản, sử dụng thuật ngữ Phật học tự nhiên.
    • Sắc thái Ki tô giáo: Giọng điệu tha thiết khẩn cầu, trang nghiêm tụng ca, sầu bi sám hối hoặc mang âm hưởng mặc khải, sấm truyền; ngôn ngữ sử dụng hệ thống từ vựng phụng vụ và kinh thánh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

Căn cứ vào phần tự công bố trong luận án, công trình đạt được những kết quả cụ thể sau:

  1. Xác định rõ các nhân tố văn hóa, lịch sử và tâm lý tạo nên cảm hứng tôn giáo trong thơ ca; nhận diện và hệ thống hóa các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thơ Việt Nam thế kỷ XX chịu ảnh hưởng của tôn giáo.
  2. Làm sáng tỏ một cách toàn diện các đặc trưng thi pháp của cảm hứng tôn giáo trên cả phương diện nội dung (các cõi, đức tin, đạo - đời, bản ngã) và phương thức biểu hiện nghệ thuật (thể thơ, kết cấu, hệ biểu tượng, giọng điệu, ngôn ngữ).
  3. Đặt cảm hứng tôn giáo trên tiến trình vận động lịch sử liên tục từ văn học dân gian, văn học trung đại đến văn học hiện đại, khẳng định tính kế thừa và quy luật phát triển của mạch nguồn này.
  4. Xác lập và khẳng định tính thỏa đáng của góc nhìn tâm linh - tôn giáo như một phương pháp tiếp cận trong việc nghiên cứu, giảng dạy và tiếp nhận thơ Việt Nam hiện đại.

Kiến nghị và giải pháp

Luận án khẳng định giá trị tích cực của bộ phận thơ mang cảm hứng tôn giáo trong việc góp phần cân bằng đời sống tinh thần của con người trong xã hội hiện đại, hướng con người tới các giá trị nhân văn và hoàn thiện nhân cách. Tác giả đề xuất sử dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, cao đẳng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên giới hạn phạm vi nghiên cứu do luận án tự xác định:

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát sâu vào hai hệ thống tôn giáo lớn là Phật giáo và Ki tô giáo, chưa đi sâu khảo cứu độc lập các tôn giáo nội sinh (như Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương) hoặc Đạo giáo trong thế kỷ XX. Mặt khác, dung lượng khảo sát tập trung chủ yếu vào 8 tác giả tiêu biểu, một số tác giả khác chỉ được khảo sát ở mức độ liên hệ mở rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo nội sinh đối với thơ ca hiện đại; tiếp tục theo dõi và giải mã sự vận động của cảm hứng tôn giáo trong thế hệ các nhà thơ đương đại thế kỷ XXI.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung lý thuyết về mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo, cơ sở dữ liệu có hệ thống về các tác giả thơ tiêu biểu của thế kỷ XX dưới góc nhìn thi pháp học tôn giáo.
  • Giảng viên đại học và giáo viên môn Ngữ văn: Cung cấp nguồn tư liệu phân tích chuyên sâu phục vụ giảng dạy các tác gia văn học hiện đại (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận, Mai Văn Phấn...) và các chuyên đề văn học theo hướng liên ngành văn hóa - tôn giáo.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo học: Tham khảo dữ liệu về quá trình tiếp biến văn hóa tôn giáo vào đời sống tinh thần và nghệ thuật ngôn từ của người Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt hai trường hợp hình thành cảm hứng tôn giáo ở tác giả thơ như thế nào?

Luận án xác định hai trường hợp: thứ nhất là nhà thơ là tín đồ tôn giáo trước khi sáng tác (như Hàn Mặc Tử, Thích Nhất Hạnh, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Mai Văn Phấn); thứ hai là nhà thơ không phải tín đồ nhưng tin và thấm nhuần các giáo lý căn bản (như Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng). Ở cả hai trường hợp, điều kiện tiên quyết là giáo lý phải chuyển hóa từ ý thức tôn giáo thành ý thức trữ tình chi phối cơ chế sáng tạo.

2. Hai nguồn cảm hứng tôn giáo chủ đạo được luận án khảo sát là gì và gồm những tác giả trọng tâm nào?

Hai nguồn cảm hứng chủ đạo là cảm hứng Phật giáo và cảm hứng Ki tô giáo. Tám tác giả được luận án chọn khảo cứu chuyên sâu gồm: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bùi Giáng, Thích Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh và Mai Văn Phấn.

3. Vấn đề "ngã/bản ngã" được thể hiện khác nhau ra sao giữa thơ mang cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo?

Trong cảm hứng Phật giáo, bản ngã được nhìn nhận là giả hợp của ngũ uẩn (nhân vô ngã), nhà thơ hướng tới việc triệt tiêu chấp ngã, hòa nhập vào chân như. Trong cảm hứng Ki tô giáo, bản ngã là cái tôi thụ tạo có linh hồn riêng biệt trước Thiên Chúa, luôn mang ý thức về tội lỗi nguyên tổ, nỗi day dứt sám hối và khát vọng đón nhận hồng ân cứu độ.

4. Hệ thống biểu tượng nghệ thuật đặc trưng của từng nguồn cảm hứng trong luận án gồm những hình ảnh nào?

Hệ biểu tượng mang cảm hứng Phật giáo tập trung vào các hình tượng: hoa sen, ánh trăng, tiếng chuông chùa, mây trắng, bến giác, thuyền bát nhã. Hệ biểu tượng mang cảm hứng Ki tô giáo gồm: Thập giá, Máu, Nước thánh, Rượu nho, Vết thương, Đức Mẹ Maria và Ánh sáng cứu rỗi.

5. Cơ sở văn hóa nào giúp người Việt tiếp nhận dung hòa nhiều tôn giáo vào thơ ca?

Đó là nền văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước với lối tư duy tổng hợp - biện chứng, bản tính khoan dung, cởi mở và truyền thống cố kết cộng đồng. Đặc điểm này cho phép người Việt tiếp biến các luồng tư tưởng tôn giáo ngoại sinh, hòa đồng với tín ngưỡng bản địa, tạo nên hiện tượng một nhà thơ có thể đồng thời tiếp nhận nhiều nguồn cảm hứng tôn giáo khác nhau.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Hồng là công trình nghiên cứu định tính có tính hệ thống về cảm hứng tôn giáo trong thơ Việt Nam thế kỷ XX. Bằng việc vận dụng phương pháp thi pháp học liên ngành, luận án đã làm rõ các tiền đề lịch sử - văn hóa, diện mạo vận động, cùng các đặc trưng nội dung tư tưởng và phương thức biểu hiện nghệ thuật của hai dòng cảm hứng Phật giáo và Ki tô giáo. Công trình khẳng định vị trí của bộ phận thơ ca tâm linh - tôn giáo trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc, đồng thời đóng góp một tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học.