Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "So sánh đặc trưng từ vựng của Thơ Mới với thơ truyền thống Việt Nam" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Ân thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Bùi Khánh Thế, hoàn thành năm 2004 thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh (Mã số: 5.27).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trước Thơ Mới, thơ truyền thống (chủ yếu là mảng thơ Nôm) giữ vai trò cốt yếu trong dòng văn chương bác học và lưu giữ diện mạo ngôn từ tiếng Việt qua nhiều thế kỷ. Sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới (1932–1945) đánh dấu bước phát triển của ngôn ngữ thơ ca và tiếng Việt hiện đại. Tuy nhiên, các công trình trước đó chủ yếu tập trung phê bình văn học hoặc phân tích nội dung, thi pháp, niêm luật mà chưa có nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống khảo sát định lượng diện mạo từ vựng giữa hai giai đoạn thi ca này. Nghiên cứu so sánh đặc trưng từ vựng giữa Thơ Mới và thơ Nôm nhằm dựng lại bức tranh từ ngữ của hai giai đoạn và phác thảo lược đồ tiến trình vận động của từ ngữ thơ ca tiếng Việt.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  1. Xác lập bảng từ vựng ưu tiên và khảo sát đặc trưng từ vựng của Thơ Mới và thơ Nôm trên các bình diện cấu tạo, nguồn gốc, phạm vi sử dụng và ngữ nghĩa.
  2. So sánh đối chiếu từ vựng giữa hai giai đoạn thi ca trên bình diện tổng quát, bình diện thể loại và bình diện tác giả tiêu biểu.
  3. Làm rõ mạch vận động, sự kế thừa và cách tân ngôn từ tiếng Việt từ thơ truyền thống đến Thơ Mới, khẳng định vai trò của phương pháp định lượng trong nghiên cứu ngôn ngữ văn chương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Thơ truyền thống: Giới hạn ở mảng thơ Nôm trữ tình từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, khảo sát các tác giả đại diện cho các mốc lịch sử thi ca gồm Nguyễn Trãi (Quốc âm thi tập), Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (Tú Xương). Tác giả Tản Đà được chọn khảo sát với tư cách đối tượng kiểm chứng, giữ vai trò "dấu gạch nối" chuyển tiếp giữa hai thời đại thi ca.
  • Thơ Mới: Khảo sát hệ thống tác phẩm giai đoạn 1932–1945 dựa trên danh mục tác gia, tác phẩm được kế thừa từ hai công trình Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài Chân) và Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), đi sâu khảo sát các gương mặt tiêu biểu như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan lịch sử vấn đề, luận án phân tích hai mảng nghiên cứu trước đó:

  1. Lịch sử nghiên cứu, phê bình về từ ngữ trong thơ Nôm: Tác giả nhận định việc nghiên cứu thơ Nôm có bề dày đáng kể nhưng phần lớn chỉ tập trung nhận xét, đánh giá nội dung tư tưởng; nếu có đề cập đến hình thức nghệ thuật thì chủ yếu bàn về niêm luật Đường luật hay cách gieo vần mà chưa chú ý đúng mức đến từ ngữ. Ngôn từ thơ Nôm trước đó chỉ xuất hiện tản mạn trong một số công trình nghiên cứu tác gia riêng lẻ hoặc nhận định có tính giáo khoa trong tài liệu giảng dạy văn học trung đại.
  2. Lịch sử nghiên cứu, phê bình về từ ngữ trong Thơ Mới: Trước năm 1945, các ý kiến bàn về hình thức nghệ thuật Thơ Mới còn ở mức độ chung chung, chưa có công trình nghiên cứu riêng về ngôn từ. Từ giữa thập niên 1980 trở đi, nhiều công trình đi sâu vào thế giới nghệ thuật và thi pháp Thơ Mới ra đời, song vẫn thiếu vắng một công trình quy mô, phân tích toàn diện hệ thống từ vựng dựa trên cứ liệu thống kê định lượng.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là kết hợp phương pháp thống kê định lượng với phân tích ngôn ngữ học đối chiếu (lịch đại và đồng đại) để mô tả toàn diện hệ thống từ vựng của Thơ Mới trong thế so sánh với thơ Nôm, từ bình diện vĩ mô (toàn bộ khối ngữ liệu) đến vi mô (thể loại và phong cách cá nhân).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên các lý thuyết ngôn ngữ học và thi pháp học:

  • Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và biến đổi từ vựng: Sự chuyển biến của tiếng Việt đầu thế kỷ XX dưới tác động của chữ Quốc ngữ, sự suy giảm vị thế độc tôn của chữ Hán và sự tiếp xúc với ngôn ngữ, văn hóa Pháp.
  • Lý thuyết cấu tạo từ, nguồn gốc từ và ngữ nghĩa học tiếng Việt: Phân loại từ vựng theo cấu tạo (từ đơn, từ ghép, từ láy, thành ngữ); theo nguồn gốc (từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ gốc Ấn – Âu/khác); theo ngữ nghĩa (nghĩa gốc từ vựng, nghĩa phái sinh, nghĩa tu từ, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, trường từ vựng).
  • Mối quan hệ giữa mỹ học và ngôn ngữ: Sự chuyển dịch từ mỹ học trung đại (chuẩn mực, ước lệ, phi ngã, cái "Ta") sang mỹ học hiện đại (cá thể hóa, biểu hiện trực tiếp cảm xúc, giải phóng cái "Tôi").

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  1. Phương pháp thống kê, miêu tả: Thống kê định lượng toàn bộ các đơn vị từ vựng xuất hiện trong văn bản theo công thức: $$f_x = \frac{n_x}{n}$$ Trong đó: $f_x$ là tỷ lệ phân bố của từ ngữ trên độ dài văn bản; $n_x$ là số lượt xuất hiện (tần số) của từ ngữ được xem xét; $n$ là tổng số lượt từ của văn bản khảo sát.
  2. Phương pháp so sánh lịch đại: Đối chiếu hệ thống từ vựng thơ Nôm từ thế kỷ XV (Nguyễn Trãi) qua thế kỷ XIX (Nguyễn Khuyến, Tú Xương), đầu thế kỷ XX (Tản Đà) đến Thơ Mới (1932–1945) nhằm xác lập tiến trình vận động của ngôn từ thi ca.
  3. Phương pháp so sánh đồng đại: So sánh hệ thống từ vựng giữa các thể loại (thể Đường luật, thể lục bát, thể phi truyền thống/tự do) và giữa các phong cách tác giả trong cùng phong trào Thơ Mới.
  4. Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng mẫu phiếu điều tra xin ý kiến chuyên gia để phục vụ việc xác lập và thẩm định danh mục văn bản, bài thơ chọn khảo sát.

Nguồn tư liệu khảo sát gồm 196 trang chính văn và 88 trang phụ lục (chứa 5 bảng thống kê phân loại từ ngữ chi tiết, danh sách điển cố trong Quốc âm thi tập, danh mục bài thơ khảo sát), 10 công trình đã công bố của tác giả và danh mục 206 tài liệu tham khảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: So sánh đặc trưng từ vựng của Thơ Mới với thơ Nôm (xét trên bình diện tổng quát)

Chương 1 phân tích bức tranh tổng thể về từ vựng giữa hai khối ngữ liệu văn bản thơ Nôm và Thơ Mới trên 5 phương diện chính: cấu tạo, nguồn gốc, điển tích điển cố, tên riêng và ngữ nghĩa; đồng thời dựng lại mạch chảy phát triển của từ ngữ qua các tác giả đại diện.

Về cấu tạo từ: Khảo sát định lượng cho thấy từ đơn chiếm vị trí thống soái trong cả hai giai đoạn do đặc trưng loại hình đơn lập của tiếng Việt, nhưng tỷ lệ có sự dịch chuyển rõ rệt.

Khối văn bản Tổng số lượt từ Từ đơn (%) Từ ghép (%) Từ láy (%) Thành ngữ (%)
Thơ Nôm 24.815 90,25% 7,21% 2,27% 0,27%
Thơ Mới 73.409 86,80% 9,82% 3,33% 0,05%

Nguyên nhân thơ Nôm có tỷ lệ từ đơn cao hơn là do sự hiện diện của nhiều yếu tố Hán Việt và thuần Việt đơn tiết độc lập làm thành phần câu (như nguyệt, thủy, khem, nhèm). Đến Thơ Mới, từ ghép tăng lên 9,82% và từ láy tăng lên 3,33%, phản ánh xu hướng phức hợp hóa của từ vựng tiếng Việt hiện đại. Thành ngữ trong Thơ Mới giảm xuống mức tối thiểu (0,05%) và thường bị đan tách, chêm xen thay vì dùng nguyên khối do sự ràng buộc của nhịp điệu thơ.

Về nguồn gốc:

Khối văn bản Tổng số lượt từ Từ thuần Việt (%) Từ Hán Việt (%) Từ gốc khác (%)
Thơ Nôm 24.815 80,05% 19,92% 0,02%
Thơ Mới 73.409 87,02% 12,94% 0,05%

Từ Hán Việt giảm từ 19,92% ở thơ Nôm xuống 12,94% ở Thơ Mới. Các từ Hán Việt mang tính mòn sáo, ước lệ (phong trần, phong sương, trần ai, lệ châu) thưa vắng dần. Lớp từ mượn gốc Pháp bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ từ cuối thế kỷ XIX ở thơ Tú Xương (méc-xì, đầm, cu-li, giôn, bớp bơ) và tăng nhẹ trong Thơ Mới (xi nê, ô tô, ban công, bê rê), song không làm mất đi tính dân tộc của tiếng Việt.

Về điển tích, điển cố và tên riêng:

  • Điển tích, điển cố: Thơ Nôm xuất hiện 537 lượt (tỷ lệ phân bố 0,0222), riêng Nguyễn Trãi chiếm 461 lượt với hệ thống điển tích thánh hiền dày đặc (âu lộ, Văn Chính, Viên Hạc, Sào Hứa, Tử Khanh, Trang Tử, Y Doãn, Đào Tiềm). Thơ Mới giảm hẳn xuống còn 142 lượt (tỷ lệ phân bố 0,0019) và chuyển sang dùng các tích truyện dân gian, quen thuộc (chúa Chổm, Ngưu Lang Chức Nữ, cầu Ô Thước).
  • Tên riêng: Thơ Nôm có 694 lượt tên riêng (chiếm 0,945% tổng lượt từ; trong đó 30,115% chỉ đất đai, sông núi và 69,885% chỉ người), chủ yếu là nhân vật lịch sử và tên chữ cụ thể. Thơ Mới sử dụng ít tên riêng hơn nhưng tăng tỷ lệ tên thuần Việt và chuyển dần sang mang ý nghĩa tượng trưng.

Về ngữ nghĩa và mạch chảy lịch sử:

  • Thơ Mới gia tăng đột biến nghĩa phái sinh, mở rộng phạm vi kết hợp từ độc đáo chịu ảnh hưởng cú pháp phương Tây và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (hơn một loài hoa, niềm run rẩy, hòn trăng, chiều bị thương). Lớp từ ngữ xã hội chuyển dịch từ thiết chế phong kiến (giang sơn, xã tắc) sang xã hội đô thị và xuất hiện từ ngữ tôn giáo mới (Thiên Chúa giáo).
  • Khảo sát mạch chảy từ Nguyễn Trãi (11.185 lượt từ: 90,44% đơn, 7,97% ghép, 1,59% láy), Bà Huyện Thanh Quan (405 từ: 83,95% đơn, 10,62% ghép, 4,20% láy), Hồ Xuân Hương (1.855 từ: 86,16% đơn, 7,71% ghép, 5,77% láy), Nguyễn Khuyến (4.809 từ: 90,02% đơn, 7,05% ghép, 2,79% láy) đến Tú Xương (6.173 từ: 91,62% đơn, 5,72% ghép, 1,93% láy, 0,73% thành ngữ). Các từ cổ thế kỷ XV (bẹn, bợ, bui, chẳn, mựa, thon) hoàn toàn lùi vào lịch sử ở thế kỷ XIX.
  • Tác giả Tản Đà giữ vị trí "dấu gạch nối" chuyển tiếp với 24.129 lượt từ khảo sát cấu tạo (89,40% đơn, 8,53% ghép, 1,88% láy, 0,19% thành ngữ) và nguồn gốc (87,05% thuần Việt, 12,94% Hán Việt, 0,01% từ khác).
  • Sự chuyển nghĩa tu từ của từ ngữ được minh chứng qua từ "xuân":
Tác giả Nghĩa gốc chỉ mùa Nghĩa phái sinh: năm/tuổi Nghĩa phái sinh: trẻ, đẹp Nghĩa tu từ
Nguyễn Trãi 42 (71,20%) 5 (8,50%) 12 (20,30%) 0 (0,00%)
Hồ Xuân Hương 2 (40,00%) 0 (0,00%) 3 (60,00%) 0 (0,00%)
Tản Đà 20 (33,89%) 3 (5,08%) 18 (30,51%) 18 (30,51%)
Thế Lữ 15 (28,30%) 0 (0,00%) 17 (32,10%) 21 (39,60%)
Xuân Diệu 18 (29,51%) 1 (1,64%) 29 (47,54%) 13 (21,31%)

Chương 2: So sánh đặc trưng từ vựng của một số thể thơ trong Thơ Mới và thơ Nôm

Chương 2 xem xét tác động của hình thức thể loại đến sự lựa chọn và tổ chức từ vựng qua ba cặp đối sánh:

1. Thể Đường luật của Thơ Mới so với Đường luật thơ Nôm:

  • Cấu tạo: Thơ Nôm Đường luật gồm 89,38% từ đơn, 7,64% từ ghép, 2,98% từ láy; không có sự cách biệt lớn với Thơ Mới do quy định nghiêm ngặt về niêm luật và số tiếng.
  • Nguồn gốc: Đường luật Thơ Mới đạt 85,08% từ thuần Việt và 14,92% từ Hán Việt. Tên riêng chỉ người trong Đường luật Nôm có 279 tên chữ (95,22%) và 14 tên Nôm (4,78%); Đường luật Thơ Mới có 21 tên chữ (95,45%) và 1 tên Nôm (4,55%).
  • Ngữ nghĩa và từ tình thái: Đường luật Nôm thiên về miêu tả tĩnh và tượng trưng (xuân, thu, tùng, cúc, tang điền); Đường luật Thơ Mới miêu tả cảnh thực động (phố xá, chợ tỉnh, nương dâu, bến đò, gạo đỏ). Khảo sát từ tình thái bộc lộ cảm xúc ghi nhận Đường luật Thơ Mới tập trung vào nhóm than thở trực tiếp như ôi, oái, than ôi chiếm 46,67% (so với 4,44% ở Nôm), trong khi Nôm tập trung nhóm nhỉ, nhé (53,33%). Khảo sát từ cầu khiến cho thấy Đường luật Thơ Mới thiên về thúc giục (62,50%), còn Đường luật Nôm thiên về ngăn cản (87,50%).

2. Thể thơ phi truyền thống so với thể thơ truyền thống trong nội bộ Thơ Mới:

  • Cấu tạo và nguồn gốc: Thể truyền thống Thơ Mới (13.409 lượt từ: 86,54% đơn, 10,04% ghép, 3,38% láy, 0,04% thành ngữ; 86,33% thuần Việt, 13,67% Hán Việt, 0% từ khác). Thể phi truyền thống (60.804 lượt từ: 87,02% thuần Việt, 12,97% Hán Việt, 0,01% từ khác gồm 6 lượt). Thể phi truyền thống giải phóng câu thơ khỏi niêm luật, tạo điều kiện gia tăng từ phức, các từ chêm xen và mở rộng trường nghĩa biểu cảm.

3. So sánh thể phi truyền thống với thể Đường luật và thể lục bát:

  • Thể lục bát duy trì tỷ lệ từ đơn cao, mang âm hưởng ca dao, từ ngữ giản dị, trong trẻo, diễn tả tâm trạng bâng khuâng man mác.
  • Thể phi truyền thống chiếm vị thế áp đảo trong việc diễn tả các trạng thái nội tâm giằng xé, đau xót, tê tái và tình yêu lứa đôi với các kết hợp ẩn dụ táo bạo.

Chương 3: Đặc trưng từ vựng trong thơ của một số tác giả

Chương 3 đi sâu khảo sát định lượng phong cách cá nhân của các nhà thơ tiêu biểu:

1. Huy Cận so với Tú Xương:

  • Huy Cận sử dụng tỷ lệ từ láy 3,52% và từ ghép 13,11% (trong nhóm cao của Thơ Mới), chủ yếu là từ láy diễn tả tâm trạng ảo não, cô đơn (buồn, sầu), kết hợp lớp từ Hán Việt chỉ không gian vũ trụ vô biên (vạn lý, thiên thu, không gian, vũ trụ).
  • Tú Xương sử dụng ít từ láy chỉ nỗi buồn trực tiếp mà tập trung từ láy mang sắc thái trào lộng, mỉa mai, châm biếm, che giấu nỗi u hoài sau tiếng cười thế sự.

2. Nguyễn Bính so với Nguyễn Khuyến:

  • Nguyễn Bính sử dụng các biến thể ngữ âm đồng bằng Bắc Bộ (tr/gi, ch/gi như trăng/giăng, trầu/giầu, trồng/giồng, chăng/giăng), tạo nên phong cách "chân quê". Lượng từ Hán Việt của Nguyễn Bính rất thấp (8,86%), so với Nguyễn Khuyến là 11,978%.
  • Nguyễn Khuyến là nhà thơ của "cảnh quê" (nghiêng về trời mây, sông nước thanh đạm); Nguyễn Bính là nhà thơ của "tình quê" với hệ thống nhân vật thôn dã, cây cỏ bình dân và gam màu sáng tươi rực rỡ.

3. Xuân Diệu trước 1945 so với sau 1945:

  • Trước 1945, Xuân Diệu sử dụng nhiều đoạn thơ toàn từ đơn để tạo sự chân thành, từ láy chiếm 2,99%, từ ghép chiếm 8,46%, tạo ra các kết hợp từ mới lạ (điệu lòng, bóng héo, màu yêu, nhặt nụ cười, con gió xinh, gió rớt, nghèo vạc mặt, đi suông). Từ trung tâm là "yêu" xuất hiện 110 lần với tần số phân bố $f_x = 0,776$.
  • Sau 1945, lượng từ ghép tăng mạnh để biểu đạt các chủ đề chính trị - xã hội (Tổ quốc, nhân dân, Đảng, Cách mạng), tên riêng cụ thể xuất hiện dày đặc thay thế cho tên riêng tượng trưng thời kỳ trước.

4. Đặc điểm từ vựng Thế Lữ:

  • Thơ Thế Lữ có tỷ lệ từ láy cao nhất trong các tác giả Thơ Mới được khảo sát (4,65%), từ ghép chiếm 13,11%. Từ "tình" xuất hiện 63 lần ($f_x = 0,572$).
  • Ngôn từ mang đậm tính hội họa và âm thanh với các trung tâm kết hợp: cảnh, màu, nét, ánh, tươi, thắm, trong trẻo (ánh lòng, màu cay đắng, màu thi cảm); kiến tạo thế giới thoát ly thần tiên với các từ ngữ bạn tiên, bồng lai, cung tiên, thi tiên.

5. Hàn Mặc Tử qua ba chặng đường sáng tác:

  • Gái quê: Lớp từ vựng thanh bình, trong trẻo, biểu thị thiên nhiên thôn dã và thời khắc trong ngày.
  • Thơ điên: Lớp từ vựng mang dấu ấn đau thương, ma quái, kinh dị của thể xác và tâm hồn (máu, hồn, sọ, điên, tử địa).
  • Xuân như ý: Lớp từ vựng chuyển hướng về cõi thánh thiện, thanh khiết và tôn giáo tâm linh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Đóng góp về phương pháp luận: Khẳng định tính hiệu quả và giá trị của phương pháp khảo sát định lượng kết hợp miêu tả và so sánh đối chiếu trong nghiên cứu ngôn từ văn chương. Việc lượng hóa các hiện tượng từ vựng giúp tránh các nhận định chủ quan, cảm tính trong phê bình thi pháp.
  2. Đóng góp về mặt lý luận ngôn ngữ và văn học sử:
    • Dựng lại bức tranh tiến trình vận động liên tục của từ vựng tiếng Việt từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XX.
    • Khẳng định Thơ Mới không phải là một "đột biến nghệ thuật" cắt rời truyền thống, mà là kết quả của quá trình tích hợp, kế thừa và cách tân từ thơ Nôm trên nền tảng chuyển biến mỹ học từ cái "Ta" sang cái "Tôi".
    • Chứng minh sự gia tăng tính "thuần Việt" và sự Việt hóa các yếu tố Hán Việt trong Thơ Mới, khẳng định bản sắc dân tộc của tiếng Việt hiện đại.
  3. Đóng góp về thực tiễn: Cung cấp hệ thống ngữ liệu, danh mục thống kê phân loại từ vựng phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập mảng văn học trung đại và Thơ Mới trong nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế và các vấn đề mở rộng, luận án nêu rõ:

  • Do giới hạn phạm vi đề tài, nghiên cứu mới tập trung vào mảng từ vựng của một số tác giả và thể loại tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ các mối quan hệ ngữ nghĩa phức tạp, các kiểu nghĩa chuyên biệt hay quy luật chuyển nghĩa chi tiết của toàn bộ phong trào Thơ Mới.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:
    1. Mở rộng khảo sát các lớp từ theo quan hệ ngữ nghĩa, cấu trúc trường nghĩa và các quy luật chuyển nghĩa sâu hơn trong Thơ Mới.
    2. Mở rộng phạm vi so sánh lịch đại giữa từ vựng Thơ Mới với thơ ca giai đoạn sau 1945 và thơ ca đương đại nhằm hoàn thiện lược đồ tiến trình phát triển của từ ngữ tiếng Việt.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học và Văn học: Cung cấp phương pháp luận mẫu mực về ứng dụng ngôn ngữ học thống kê vào phân tích phong cách học thi ca.
  • Nhà nghiên cứu văn học sử và thi pháp học: Cung cấp các cứ liệu định lượng xác thực để thẩm định phong cách tác giả (Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tú Xương).
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống 5 phụ lục thống kê chi tiết với 88 trang ngữ liệu, danh mục điển cố trong Quốc âm thi tập và bảng tần số phân bố từ vựng theo cấu tạo, nguồn gốc và ngữ nghĩa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ từ đơn và từ ghép có sự chuyển dịch như thế nào từ thơ Nôm sang Thơ Mới?
Trong thơ Nôm, từ đơn chiếm 90,25%, từ ghép chiếm 7,21%. Sang Thơ Mới, tỷ lệ từ đơn giảm xuống còn 86,80% và từ ghép tăng lên 9,82%. Sự thay đổi này phản ánh xu hướng phức hợp hóa của từ vựng tiếng Việt hiện đại và việc giảm bớt cách dùng các yếu tố Hán Việt/thuần Việt đơn tiết độc lập làm thành phần câu.

2. Tỷ lệ từ Hán Việt và điển tích, điển cố thay đổi ra sao giữa hai thời kỳ?
Từ Hán Việt giảm từ 19,92% trong thơ Nôm xuống còn 12,94% trong Thơ Mới. Tần số xuất hiện của điển tích, điển cố giảm mạnh từ 537 lượt (tỷ lệ phân bố 0,0222) trong thơ Nôm xuống còn 142 lượt (tỷ lệ phân bố 0,0019) trong Thơ Mới, đồng thời chuyển từ các tích truyện chữ Hán sang các tích dân gian quen thuộc.

3. Tại sao Tản Đà được luận án xác định là "dấu gạch nối" giữa hai thời đại thi ca?
Số liệu thống kê từ vựng của Tản Đà (từ đơn 89,40%, từ ghép 8,53%, từ láy 1,88%; từ thuần Việt 87,05%, từ Hán Việt 12,94%) nằm ở vị trí trung gian chuyển tiếp giữa thơ Nôm và Thơ Mới. Đồng thời, từ "xuân" trong thơ Tản Đà bắt đầu xuất hiện 30,51% nghĩa tu từ, đánh dấu bước chuyển sang tư duy nghệ thuật hiện đại.

4. Tác giả Thơ Mới nào có tỷ lệ từ láy cao nhất và tác giả nào có mật độ từ "yêu" dày đặc nhất?
Thế Lữ là tác giả có tỷ lệ sử dụng từ láy cao nhất trong các nhà Thơ Mới được khảo sát (4,65%). Xuân Diệu là tác giả có mật độ từ "yêu" cao nhất với 110 lần xuất hiện trước năm 1945, đạt tần số phân bố $f_x = 0,776$.

Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Thị Ân là công trình ngôn ngữ học so sánh khảo sát định lượng toàn diện hệ thống từ vựng Thơ Mới trong thế đối sánh với thơ Nôm truyền thống. Thông qua việc phân tích cấu tạo, nguồn gốc, điển cố, tên riêng và ngữ nghĩa trên khối dữ liệu hơn 98.000 lượt từ, tác giả đã minh chứng quy luật vận động liên tục, kế thừa có cách tân của tiếng Việt từ mỹ học cái "Ta" sang cái "Tôi". Công trình xác lập hệ thống cứ liệu khoa học tin cậy, đóng góp thiết thực cho phương pháp nghiên cứu định lượng trong thi pháp học và lịch sử ngôn ngữ văn học Việt Nam.