Luận án tiến sĩ về lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt

Phân tích toàn diện về lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ..., đề xuất mô hình mới, nâng cao hiệu quả ứng dụng trong chuyên ngành

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

192
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ở nước ngoài

1.3. Tình hình nghiên cứu lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ở trong nước

1.4. Cơ sở lí thuyết

2. CHƯƠNG 2: LỜI CHỈNH SỬA DO NGƯỜI NÓI KHỞI XƯỚNG

2.1. Lời chỉnh sửa do người nói khởi xướng - người nói chỉnh sửa

2.2. Nguồn sự cố

2.3. Khởi xướng chỉnh sửa

2.4. Hành động chỉnh sửa

2.5. Lời chỉnh sửa do người nói khởi xướng - người nghe chỉnh sửa

2.6. Khẳng định chỉnh sửa

2.7. Chức năng của lời chỉnh sửa do người nói khởi xướng

3. CHƯƠNG 3: LỜI CHỈNH SỬA DO NGƯỜI NGHE KHỞI XƯỚNG

3.1. Lời chỉnh sửa do người nghe khởi xướng - người nói chỉnh sửa

3.2. Nguồn sự cố

3.3. Khởi xướng chỉnh sửa

3.4. Hành động chỉnh sửa

3.5. Lời chỉnh sửa do người nghe khởi xướng - người nghe chỉnh sửa

3.6. Chức năng của lời chỉnh sửa do người nghe khởi xướng

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại

Lời chỉnh sửa (lời chỉnh sửa) trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt là một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ. Nó không chỉ giúp người tham gia hội thoại hiểu nhau hơn mà còn là một cơ chế để xử lý các sự cố trong quá trình giao tiếp. Theo các nhà nghiên cứu, lời chỉnh sửa có thể xuất hiện khi có sự cố liên quan đến việc nói, nghe và hiểu. Những sự cố này có thể là lỗi từ ngữ, ngữ pháp hoặc sự hiểu nhầm giữa người nói và người nghe. Việc phân tích lời chỉnh sửa giúp làm rõ cấu trúc và chức năng của nó trong ngữ cảnh hội thoại. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam, nơi mà các hình thức giao tiếp rất phong phú và đa dạng.

1.1. Định nghĩa và vai trò của lời chỉnh sửa

Lời chỉnh sửa được định nghĩa là những hành động mà người nói hoặc người nghe thực hiện để điều chỉnh hoặc làm rõ thông tin trong quá trình giao tiếp. Vai trò của lời chỉnh sửa rất quan trọng, vì nó giúp duy trì sự liên tục và mạch lạc trong hội thoại. Khi một người nói gặp phải sự cố, họ có thể sử dụng lời chỉnh sửa để khôi phục lại sự hiểu biết giữa các bên tham gia. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng giao tiếp mà còn tạo ra một môi trường tương tác tích cực hơn.

II. Phân tích cấu trúc lời chỉnh sửa

Cấu trúc của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt có thể được phân chia thành nhiều thành phần khác nhau. Theo nghiên cứu, lời chỉnh sửa thường bao gồm ba bộ phận chính: nguồn sự cố, khởi xướng chỉnh sửa và hành động chỉnh sửa. Nguồn sự cố là điểm khởi đầu của một sự cố trong giao tiếp, có thể là một từ sai, một câu không rõ nghĩa hoặc một sự hiểu nhầm. Khởi xướng chỉnh sửa là hành động mà người nói hoặc người nghe thực hiện để bắt đầu quá trình chỉnh sửa. Cuối cùng, hành động chỉnh sửa là cách thức mà người nói hoặc người nghe thực hiện để khắc phục sự cố. Việc phân tích cấu trúc này giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà lời chỉnh sửa hoạt động trong thực tế giao tiếp.

2.1. Các loại lời chỉnh sửa

Có hai loại lời chỉnh sửa chính: lời chỉnh sửa do người nói khởi xướng và lời chỉnh sửa do người nghe khởi xướng. Lời chỉnh sửa do người nói khởi xướng thường xảy ra khi người nói nhận ra sự cố trong lời nói của mình và tự điều chỉnh. Ngược lại, lời chỉnh sửa do người nghe khởi xướng xảy ra khi người nghe phát hiện ra sự cố và yêu cầu người nói làm rõ. Cả hai loại lời chỉnh sửa này đều có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự hiểu biết và liên kết giữa các bên tham gia hội thoại.

III. Chức năng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp

Chức năng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt rất đa dạng. Một trong những chức năng chính là điều chỉnh thông tin, giúp người tham gia hiểu rõ hơn về nội dung cuộc hội thoại. Ngoài ra, lời chỉnh sửa còn có chức năng giải thích, làm rõ các ý kiến hoặc quan điểm mà người nói muốn truyền đạt. Chức năng ngữ dụng khác của lời chỉnh sửa cũng rất quan trọng, vì nó giúp tạo ra một không gian giao tiếp thân thiện và cởi mở hơn. Việc phân tích chức năng của lời chỉnh sửa không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn cung cấp những chiến lược giao tiếp hiệu quả cho người tham gia.

3.1. Tác động của lời chỉnh sửa đến hành vi giao tiếp

Lời chỉnh sửa có tác động lớn đến hành vi giao tiếp của người tham gia. Khi một người sử dụng lời chỉnh sửa, họ không chỉ khôi phục lại sự hiểu biết mà còn thể hiện sự quan tâm đến người nghe. Điều này tạo ra một môi trường giao tiếp tích cực, nơi mà mọi người cảm thấy thoải mái để chia sẻ ý kiến và quan điểm của mình. Hơn nữa, lời chỉnh sửa còn giúp giảm thiểu sự căng thẳng và xung đột trong giao tiếp, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tương tác.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYÉT 1. Dẫn nhập Chương này bao gồm hai nội dung chính: tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết. Tổng quan tình hình nghiên cứu về lời chỉnh sửa (ở nước ngoài và trong nước) nhằm phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan mật thiết đến luận án, nêu lên những van dé còn tổn tại và chỉ ra những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết. Phần cơ sở lí thuyết nhằm hệ thống lại một số vấn đề lí thuyết, từ đó xác lập cơ sở lí luận cho việc triển khai các nội dung nghiên cứu của luận án.

Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ở nước ngoài Lời chỉnh sửa hội thoại lần đầu tiên được nghiên cứu một cách hệ thong trong công trình “The preference for self-correction in the organization of repair in conversation” (Sự ưa thích của hành động tự chỉnh sửa trong tô chức của lời chỉnh sửa hội thoại) của Schegloff và cộng sự (1977). Từ công trình có tính chất tiên phong này, hàng loạt nghiên cứu về lời chỉnh sửa đã ra đời tập trung vào một số vấn đề như khái niệm lời chỉnh sửa, cấu trúc và các chiến lược chỉnh sửa trong các bối cảnh tương tác khác nhau và trong các ngôn ngữ khác nhau. Đáng chú ý là có những bài viết bước đầu chỉ ra sự tác động của các nhân tố văn hoá - xã hội lên việc thực hiện lời chỉnh sửa.

Nghiên cứu lời chỉnh sửa trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau Kể từ nghiên cứu kinh điển của Schegloff và cộng sự (1977) về lời chỉnh sửa trong tiếng Anh, lời chỉnh sửa đã được mở rộng phạm vi nghiên cứu trong nhiều bối cảnh và góc độ khác nhau. Từ những nghiên cứu về lời chỉnh sửa trong các cuộc hội thoại tự nhiên như là một cách sửa chữa 16 những hiểu lầm trong hội thoại [Hirst, McRoy, Heeman, Edmonds, Horton, 1994] hay với những phân tích chỉnh sửa ngôn ngữ trong hội thoại của trẻ em [Konefal & Fokes, 1984]., loi chỉnh sửa được tim hiểu ở các bối cảnh mang tính đặc thù như lời chỉnh sửa trong tương tác trên lớp học; lời chỉnh sửa trong các buổi khám bệnh giữa bác sĩ và bệnh nhân; lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ở góc độ bệnh học. Nghiên cứu về chỉnh sửa trong tương tác trên lớp học với các nghiên cứu của nhiều tác giả như McHoul (1990); Egbert (1998); Liebsher & Dailey- O’cain (2003); Macbeth (2004); Seedhouse (2004), Seong (2004), Seo (2008), Cho (2008), Cho & Larke (2010); Fotovatnia và các cộng sự (2013). Trong bối cảnh lớp học, Seedhouse (2004) định nghĩa lời chỉnh sửa là việc xử lí những sự cố xảy ra trong diễn ngôn lớp học.

Sự cô ở đây có thé là bất cứ điều gi mà cả giáo viên và hoc sinh đều nhìn nhận là ảnh hưởng đến giao tiếp. Chỉnh sửa trong diễn ngôn sư phạm là một cơ chế hội thoại quan trọng cho phép giáo viên và học sinh hiểu được những "sự cố" trong giao tiếp ngôn ngữ có thê được sửa chữa như thế nào. Về nguyên tắc cả giáo viên và học sinh đều có thể là người khởi xướng chỉnh sửa hoặc là người thực hiện hành động chỉnh sửa. Ngoài 5 chiến lược khởi xướng chỉnh sửa được gợi ý trong công trình nghiên cứu hội thoại đời thường của Schegloff và cộng sự (1977, tr 367- 368) (bao gồm: 1.

chiến lược khởi xướng không chỉ rõ nguồn van dé; 2. chiến lược khởi xướng bằng câu hỏi có từ để hỏi; 3. chiến lược khởi xướng bằng cách nhắc lại một phần lượt nói chứa nguồn sự cố trong một câu hỏi; 4. chiến lược khởi xướng bằng cách nhắc lại một phần lượt nói chứa nguồn sự cố; và 5.

chiến lược khởi xướng băng gợi y một cách hiểu lượt nói chứa nguồn sự có), khi mở rộng phạm vi nghiên cứu trong bối cảnh lớp học, một số chiến lược khởi xướng khác đã được nhiều tác giả bổ sung. Chang hạn, khi nghiên cứu các chiến lược chỉnh sửa do người học khởi xướng Egbert (1998) bổ sung 17 vào danh sách 5 chiến lược của Schegloff và cộng sự chiến lược gol ý nhắc lại; Liebscher & Daley-O’Cain (2003) phát hiện thêm chiến lược yêu cầu định nghĩa, giải thích, dịch. Xem xét lớp học ngoại ngữ của học sinh tiểu học ở Hàn Quốc, Cho & Larke (2010) nhận thấy học sinh sử dụng 9 chiến lược khởi xướng chỉnh sửa, trong đó ngoài 7 chiến lược đã nhắc ở trên còn thêm hai chiến lược nữa là sia Idi và sử dụng hành động phi ngôn từ. Nghiên cứu này đã hướng sự chú ý của giáo viên đến các loại sự cố thường xảy ra trên lớp học ở cấp tiêu học và cách xử lí những sự cố này để có tương tác thành công.

Trong lớp học ngoại ngữ, Drew (2005) nhận thấy rằng các chiến lược chỉnh sửa do giáo viên khởi xướng thường xuất hiện nhiều ở các tiết học tập trung vào sự chính xác, còn các chiến lược chỉnh sửa do học sinh khởi xướng lại xuất hiện nhiều hơn ở các tiết học tập trung vào các hoạt động thực hành. Nghiên cứu của Yue Jian-Ying (2015) ở một lớp học ngoại ngữ ở Trung Quốc cho thấy giáo viên sử dụng chiến lược tự khởi xướng và tự chỉnh sửa nhiều hơn các chiến lược chỉnh sửa khác đã được thông báo trong các công trình nghiên cứu trước đây, và ba chiến lược tự chỉnh sửa được giáo viên sử dụng là lặp lại, mở rộng và thay thé. Seo (2008) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa lời chỉnh sửa trong hội thoại và những hành động phi ngôn từ trong việc thực hiện lời chỉnh sửa nhăm hỗ trợ việc dạy và học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Không chỉ được mở rộng nghiên cứu trong bối cảnh lớp học, lời chỉnh sửa còn được tìm hiểu trong các buồi khám bệnh giữa bác sĩ và bệnh nhân với công trình "Conversation Repair: Case Studies in Doctor-Patlent Communication" cua Frederic (1995).

Trên co sở tư liệu là các cuộc hội thoại thực tế, công trình đầu tiên đã đi vào mô ta chi tiết hội thoại giữa bác sĩ và bệnh nhân. Sau đó tìm hiểu cách đặt câu hỏi phù hợp với từng tình huống cụ thê. Cuôi cùng đưa ra đê xuât vê các chiên lược và kĩ thuật chỉnh sửa nhăm 18 nâng cao kĩ năng giao tiếp của bác sĩ với bệnh nhân theo hướng lấy bệnh nhân làm trung tâm. Ngoài ra, lời chỉnh sửa còn được nghiên cứu trong giao tiếp hội thoại dưới góc độ bệnh học với các công trình của nhiều tác giả.

Brady, Steeples, Fleming (2005) nghiên cứu về tác động của các mức độ biểu đạt và tiếp thu ngôn ngữ đối với các hành vi giao tiếp được khởi xướng và chỉnh sửa ở trẻ chậm phat trién ngôn ngữ. Đối tượng nghiên cứu là 45 trẻ em ở độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi bị chậm phát triển ngôn ngữ nghiêm trọng (bao gồm cả khả năng biểu đạt cũng như khả năng tiếp thu ngôn ngữ), trong đó có 41/ 45 trẻ có IQ dưới mức trung bình. Nghiên cứu sử dụng tư liệu là những tương tác theo kịch bản của trẻ với giám khảo được ghi hình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ giao tiếp biểu cảm đã góp phần tạo nên sự khác biệt trong việc sửa chữa của trẻ em sau những sự cố giao tiếp; tuy nhiên, đóng góp nay không đáng kể.

Caplan, Guthrie Komo (1996) tìm hiểu về chỉnh sửa hội thoại ở trẻ em bị tâm thần phân liệt với trẻ em bình thường. Nghiên cứu này đã so sánh các chiến lược tự chỉnh sửa mà trẻ tâm thần phân liệt và trẻ bình thường sử dụng cũng như mối quan hệ của chúng với chứng rối loạn tư duy hình thức, khiếm khuyết diễn ngôn và khả năng phân tâm. Kết quả cho thấy, một số chiến lược chỉnh sửa (bắt dau sai, bổ sung, sửa đổi tham chiếu) được trẻ bi tam than phân liệt sử dụng ít hơn so với những đứa trẻ bình thường. Bên cạnh rối loạn tư duy hình thức và khiếm khuyết trong diễn ngôn, trẻ em tâm thần phân liệt sử dụng không đúng mức các chiến lược tự chỉnh sửa khi trình bày suy nghĩ của mình với người nghe, đặc biệt nếu chúng đang được điều trị bằng thuốc an thần.

Từ đó, nhóm tac giả cho rằng, kỹ năng giao tiếp kém có thé phản ánh các dấu hiệu tiêu cực trong bệnh tâm thần phân liệt khởi phát ở trẻ em. 19 Orange, Lubinski, Higginbotham (1996) nghiên cứu về chỉnh sửa trong hội thoại của những người mắc chứng mất trí nhớ của bệnh Alzheimer. Chỉnh sửa hội thoại đã được tìm hiểu trêm cơ sở tư liệu là băng ghi hình các cuộc nói chuyện tự phát trong giờ ăn của 6 người lớn tuổi bình thường, 5 đối tượng mac chứng mất trí nhớ giai đoạn đầu (EDAT) và 5 đối tượng mắc chứng mat trí nhớ giai đoạn giữa của bệnh Alzheimer (MDAT) với một thành viên gia đình đóng vai trò là đối tác trò chuyện. Kết quả đã chỉ ra những khác biệt về sự cô cần chỉnh sửa, tín hiệu xác định sự cô và cách thức chỉnh sửa giữa các hai nhóm EDAT và MDAT.

Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các chiến lược nâng cao giao tiếp của người chăm sóc gia đình dành riêng cho giai đoạn lâm sàng của DAT. Tiếp cận lời chỉnh sửa từ góc độ bệnh học, trình tự chỉnh sửa trong hội thoại của các cặp vợ chồng mất ngôn ngữ với các nhà trị liệu ngôn ngữ cũng được quan tâm tìm hiểu [Lindsay & Wilkinson, 1990]. Ở góc độ bệnh học, lời chỉnh sửa còn được nghiên cứu trong giao tiếp của người tự kỉ với nghiên cứu của Volden (2004); Philip (2008). Bài viết vi thế đã đi vào tìm hiểu và đánh giá khả năng chỉnh sửa của trẻ mặc ASD khi liên tục đối mặt với sự có được biểu thị thông qua một loạt phản hồi băng các yêu cầu làm rõ (RQCL) xếp chồng lên nhau (như "Cái gì?", "Tôi không hiểu", "Hãy nói với tôi bằng cách khác").

Kết quả về khả năng chỉnh sửa thành công các sự cố trong giao tiếp đã đặt ra câu hỏi về một số lý thuyết hiện có về nguồn gốc và bản chất của những khiếm khuyết trong giao tiếp xã hội ở bệnh tự kỷ. Đối tượng trong nghiên cứu của Philip (2008) là lời chỉnh sửa trong giao tiếp tự nhiên của 3 thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn phổ tự ki (ASD) khi giao tiếp với nhà nghiên cứu và 20 khi giao tiếp với thanh thiếu niên tự ki khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt" khám phá vai trò và tầm quan trọng của việc chỉnh sửa trong giao tiếp hàng ngày. Tác giả phân tích các phương thức mà người nói sử dụng để điều chỉnh lời nói của mình nhằm đạt được sự rõ ràng và hiệu quả trong giao tiếp. Những điểm chính bao gồm cách thức mà lời chỉnh sửa có thể cải thiện sự hiểu biết giữa các bên tham gia cuộc hội thoại, cũng như ảnh hưởng của ngữ cảnh đến việc sử dụng các hình thức chỉnh sửa khác nhau. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ giao tiếp, từ đó giúp họ nâng cao kỹ năng giao tiếp của mình.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của ngôn ngữ và giao tiếp, hãy tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ và cách chuyển dịch sang tiếng việt tiêu đề bài báo trung quốc từ đầu thế kỷ 21 đến nay dựa trên ngữ liệu nhân dân nhật báo, nơi bạn có thể tìm hiểu về sự chuyển dịch ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa khác nhau. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hành vi ngôn ngữ chê trong tiếng hán hiện đại dưới góc độ thể diện có đối chiếu với tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức thể hiện ý kiến và cảm xúc trong giao tiếp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ngôn ngữ xét hỏi của các cơ quan hành pháp trong tiếng hán hiện đại đối chiếu với tiếng việt sẽ mở rộng kiến thức của bạn về ngôn ngữ trong các tình huống chính thức và pháp lý. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ và giao tiếp trong các bối cảnh khác nhau.