mở đầu bằng việc pháp điển hóa các nội dung tư tưởng Nho giáo bằng bộ luật Gia Long. Tiếp liền định hướng đổ khuôn hệ tư tưởng Nho giáo “Minh Mệnh chính yếu” của Minh Mệnh khẳng định đường lối đức trị kết hợp với pháp trị theo Nho giáo. Tư tưởng của việc trị nước, dù vẫn lấy Nho giáo làm chính yếu thì cùng với đó Minh Mệnh đã tiếp thu giá trị tư tưởng tiền nhân, ông đề cao Lê Thánh Tông (1442-1497) và đã đề cập đến nhiều vấn đề mới như nhấn mạnh tính độc lập của Nhà nước, quân sự, quốc phòng mạnh để bảo vệ lãnh thổ. Nguyễn Văn Siêu cũng cố gắng đưa ra những khuynh hướng xây dựng một nền tư tưởng, học thuật riêng 16 z của dân tộc, cho dù nó vẫn nằm trong khuôn khổ của Nho giáo.
Tiếp thu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng đương thời, Nguyễn Đức Đạt – với tác phẩm “Nam Sơn tùng thoại” cũng đã thể hiện khát vọng xây dựng một tư tưởng riêng nhưng vẫn lấy Nho giáo làm nền tảng. Khái quát về thân thế, sự nghiệp và các trƣớc tác của Nguyễn Đức Đạt 1. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt Nguyễn Đức Đạt (1824-1887), tự là Khoát Như, hiệu là Khả Am chủ nhân, Nam Sơn chủ nhân, Nam Sơn dưỡng tẩu, người làng Ngang (chữ Hán là Hoành Sơn), xã Khánh Lộc, nay là xóm 5, xã Khánh Sơn 1, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nam Đàn – nơi Nguyễn Đức Đạt và gia đình sinh sống là một vùng đất nổi tiếng của Nghệ An.Trải qua chiều dài lịch sử hàng nghìn năm, nơi đây đã sinh ra những người con ưu tú cho đất nước, quê hương.
Những nhân vật lịch sử kiệt xuất, những danh nhân lỗi lạc, chính họ đã góp phần quan trọng tô điểm truyền thống văn hóa đẹp đẽ của quê hương Nam Đàn xứ Nghệ. Tác giả Ninh Viết Giao và Trần Thanh Tâm trong sách “Nam Đàn – quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh” đãtự hào khẳng định: “Ở Nam Đàn, kỳ tích lồng trong thắng cảnh. Kỳ tích làm cho thắng cảnh lung linh, sinh động, thêm gắn bó lòng người. Thắng cảnh làm cho kỳ tích sống mãi với thế gian, với đất trời vạn thuở dù xã hội có đổi thay.
Và tất cả các kỳ tích thắng cảnh đều đưa chúng ta nghĩ đến những người con ưu tú, vĩ đại của đất nước, quê hương. Đó là niềm tự hào chính đáng mà không phải đâu cũng có, thời gian nào cũng có” [19,tr. Trong lịch sử truyền thống của quê hương Nam Đàn, gia đình Thám hoa Nguyễn Đức Đạt là một điểm sáng. Cha của ông là Nguyễn Đức Hiển đỗ cử nhân vào năm 1824.Truyền thống gia đình khoa bảng và quê hương hiếu học có sự tác động rất lớn đến sự hình thành nhân cách của Nguyễn Đức Đạt.
17 z Tiếp bước truyền thống đó, nămThiệu Trị thứ 7 (1847), Nguyễn Đức Đạt đỗ cử nhân khoa Đinh Mùi trường Nghệ. Năm Quý Sửu (1853), đời Tự Đức thứ 6, ông đỗ Thám hoa. Nguyễn Đức Đạt được bổ nhiệm chức Thị giảng ở Viện Hiền tập tại kinh đô Huế. Được ít lâu thấy thế sự đổ nát, sức khỏe yếu kém, ông xin cáo quan về quê và mở trường dạy học, hy vọng vào thế hệ sau.
Đến đầu năm 1860, ông trở lại làm việc ở kinh đô, được thăng hàm Cấp sự trung giữ chức Khởi cư trú ở Điện Kinh Diên. Năm Quý Hợi (1863), ông được bổ nhiệm làm Đốc học Hà Nội. Trước khi nhậm chức, ông ghé thăm nhà, Tổng đốc Nghệ An là Vũ Trọng Bình (1808-1898) mến tài đức của ông đã xin với triều đình để ông được bổ nhiệm làm Đốc học Nghệ An. Tới năm Ất Sửu (1865), ông được triệu về kinh thăng chức Chưởng ấn Ngự sử ở Đô Sát viện.
Tháng Bảy cùng năm, thân phụ ông mất. Ít lâu sau mẹ ông cũng qua đời. Do đó, ông xin ở lại quê nhà để lo tang sự. Đầu năm Bính Dần (1866), trong thời gian cư tang, ông nhận lời dạy học ở làng Hương Vân (Nam Đàn).
Sau vì học trò nghe tiếng tới xin học rất đông, dân làng Lãng Đông (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An) dựng một ngôi trường đón ông về dạy. Ông dạy ở đâycho tới năm Kỷ Tị (1869). Đó là giai đoạn trường Thông Lãng, giai đoạnmở đầu trong sự nghiệp giáo dục của ông. Mùa đông năm Kỷ Tị (1869), theo thỉnh cầu của Tổng đốc Nghệ An, triều đình lại cử ông làm Đốc học tỉnh nhà lần thứ hai.
Cuối năm Tân Mùi (1871), ông được bổ nhiệm làm Quyền Án sát tỉnh Thanh Hoá. Tháng Bảy năm Nhâm Thân (tháng Tám năm 1872), ông lại được triệu trở lại chức vụ cũ, làm Đốc học Nghệ An (lần thứ ba). Về Nghệ An được vài hôm, ông lại được thăng chức Bố chính sứ, kiêm giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Yên. Trong thời điểm ấy, đất nước đang đứng trước sự khiêu khích, lăm le xâm lược của thực dân Pháp.
Tại Hưng Yên, Nguyễn Đức Đạt phải lo chống nạn thủy tai do hệ thống đê điều hư hỏng, vừa lo việc thuế má triều đình mới đặt ra làm tổn sức 18 z dân, lại phải giữ cho Hưng Yên được yên ổn trước sự nhòm ngó của giặc Pháp. Tháng Hai năm Bính Tý (tháng Ba năm 1876), sau khi tờ sớ xin hoãn thi hành thuế mới cho dân Hưng Yên bị vua Tự Đức bác đi, lấy cớ ốm đau, Nguyễn Đức Đạt xin cáo quan về làng. Giữa năm Đinh Sửu (1877), học trò cùng dân làng Hoành Sơn góp công của dựng cho ôngmột gian nhà và một ngôi trường để ông sinh sống và dạy học. Trong suốt 7 năm (1877-1883), ông chuyên chú vào dạy học và viết sách.
Đây là giai đoạn trường Đông Sơn (gọi theo tên trường), hay còn gọi là trường Nam Sơn (gọi theo hiệu của ông), trường Hoành Sơn (gọi theo tên làng, địa điểm đặt trường học). Sau sự kiện tấn công đồn Mang Cá không thành (rạng sáng ngày 7 tháng Bảy năm 1885), Tôn Thất Thuyết (1839-1913) phò vua Hàm Nghi (1872-1943) chạy ra Quảng Trị. Tại căn cứ Tân Sở trên cao nguyên miền Trung, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, kêu gọi cả nước ra sức chống giặc Pháp. Nguyễn Đức Đạt được vua Hàm Nghi bổ làm Lại bộ Thượng Thư kiêm An Tĩnh Tổng đốc lỵ sở tạm đóng ở làng Hoành Sơn và giao nhiệm vụ hiểu dụ thân hào các nơi cần vương.
Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương, Nguyễn Đức Đạt cùng nhiều cộng sự đã tập hợp được mấy trăm nghĩa quân ứng nghĩa. Nghĩa quân đã có một số trận đánh, nhưng sau bị thất bại, phải rút lui vào vùng Vạc Nở trong núi Bạch Sơn (nay là xã Tiến Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Nguyễn Đức Đạt vì già yếu không thể theo kịp được nghĩa quân, đành cải trang thành người mù loà ngây dại đến lánh tại chùa Đông Sơn. Gian nhà và ngôi trường của ông do dân làng dựng cho bị giặc đốt phá.
Cuối năm Ất Dậu (1886), những vụ lùng quét của giặc tạm lắng, ông mới trở về gian nhà còn sót lại trên đống tro tàn. Ngày 9 tháng Giêng năm Đinh Hợi (tức ngày mồng 1 tháng 2 năm 1887), ông qua đời tại cư gia, hưởng thọ 63 tuổi. 19 z Riêng về sự nghiệp trồng người, sự nghiệp mà ở đó tư tưởng của ông được hun đúc mạnh mẽ và truyền dạy, thì chưa kể khoảng gần 4 năm làm Đốc học Nghệ An, Nguyễn Đức Đạt đã có trên mười năm trực tiếp dạy học. Quá trình tham gia dạy học của ông có thể khái quát lại thành hai giai đoạn: Giai đoạn từ năm 1866 đến 1869 (4 năm):Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn trường Thông Lãng.
Đây là giai đoạn ông đang cư tang cha mẹ tại quê nhà, không bị vướng bận việc triều đình. Lúc đầu, ông dạy học ở làng Hương Vân (Nam Đàn), sau vì học trò đến xin học rất đông, ông đã dựng một ngôi trường bên bờ hồ sen làng Lãng Đông (sau hai làng Lãng Đông và Lãng Tây nhập làm một, lấy tên là Thông Lãng)[46]. Giai đoạn từ năm 1877 đến 1883 (7 năm): Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn trường Đông Sơn. Đây là giai đoạn ông cáo quan về quê.
Học trò của ông và dân làng Hoành Sơn đã xây dựng một gian nhà và một ngôi trường để ông dạy học cho con em họ. Trong thời gian này, học trò theo học rất đông, ông đã tranh thủ thời gian để biên khảo và viết khá nhiều sách làm tài liệu phục vụ cho công việc dạy học. Trong hơn mười năm dành tâm huyết cho sự nghiệp trồng người, ông đã đào tạo được hàng trăm học trò, trong đó có nhiều người đỗ đạt cao, giữ những trọng trách trong triều như Kinh lược Hoàng Cao Khải (1850-1933), Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục (1843-1923), Hồ Sĩ Tạo (1841-1907), Đặng Nguyên Cẩn (1867-1923), Đặng Văn Thụy (1858-1936), Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929), Phan Bội Châu (1867-1940), Nguyễn Thức Thự (1841- 1923), Đặng Văn Bá (1873-1931), Nguyễn Đức Công (1874-1916),… Rõ ràng, trình độ học vấn, tài năng sư phạm, tư cách người thầy của Nguyễn Đức Đạt đã giúp ông có được thành công ấy. Cảm động và kính phục trước những cống hiến của ông, học trò giành cho ông nhiều lời ngợi ca.
Ngày nay, trong nhà thờ của chi họ Nguyễn Đức có một tấm biển gỗ sơn đỏ đề 4 chữ “Sắc tứ vinh hồi”, một lá cờ hình chữ nhật khổ dọc màu đỏ rua tơ thêu 6 20 z chữ vàng “Sắc tứ Thám hoa cập đệ”. Trong ngôi từ đường tại làng Hoành Sơn do học trò lập để thờ ông có hai bức đại tự với 6 chữ “Vạn thế trạch, Đại khoa môn”, cùng rất nhiều câu đối, trong đó có câu: “Thọ khảo tác nhân, Nam Sơn thảo đường trạch vạn thế; Văn chương ninh quốc, Hồng Lĩnh ngô châu đệ nhất phong”. Nghĩa là: Suốt đời đào tạo nên bao người, ơn muôn đời ngôi nhà cỏ ở núi Nam Sơn; Văn chương nổi tiếng khắp cả nước, một ngọn núi cao ở châu ta Hồng Lĩnh[17]. Các trước tác của Nguyễn Đức Đạt Nguyễn Đức Đạt viết khá nhiều, bao quát nhiều lĩnh vực với nhiều nội dung phong phú.
Những trước tác ấy được lưu lại tới nay dưới nhiều hình thức: khắc in, chép tay, sưu tầm; có sách được in riêng, có phần lại được in hoặc chép lẫn với trước tác của những người khác.Các trước tác này hiện được bảo tồn ở nhiều nơi, trong đó nhiều nhất là tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, thư viện Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam: Bản điều trần về việc đê điều: 300 trang, nằm trong Điều trần đê chính sự nghi tập (Điều trần đê chính sự nghi thỉnh hưu vựng tập), 2 bản viết.