phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam từ góc độ lý thuyết tự sự học Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về lý thuyết tự sự học Trong cuốn Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử gồm tập hợp những bài viết, nghiên cứu liên quan đến tự sự học GS.TS Trần Đình Sử cho rằng tự sự học là một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng; là một ngành nghiên cứu còn non trẻ, đƣợc định hình từ những năm 60-70 của thế kỉ XX ở Pháp, nhƣng đã nhanh chóng vƣợt ra khỏi biên giới, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật đƣợc phổ biến quan tâm trên thế giới. Đến những năm 80-90 của thế kỉ XX tự sự học vẫn giữ đƣợc niềm hứng thú và theo nhận định của một số học giả Mĩ, nó không ngừng đƣợc phát triển và trung tâm nghiên cứu dƣờng nhƣ đã chuyển sang Mĩ. Năm 1993 tạp chí Tự sự ra đời và năm 1994 xuất hiện một loạt công trình mói về tự sự học của Mĩ.
David Herman trong sách Tự sự học mới (1999) cho biết: Mƣời năm trở lại đây, thi pháp tự sự đã có sự thay đổi đáng kinh ngạc, đến hôm nay có thể nói tự sự học đã phục hƣng, đến hôm nay có thể nói tự sự học đã từ giai đoạn kinh điển sang chủ nghĩa cấu trúc, một giai đoạn của Saussure vốn khá cách xa với văn học đƣơng đại để bƣớc sang giai đoạn hậu kinh điển. “Nếu nhƣ trƣớc đây, tự sự học cấu trúc chỉ chú ý đến chức năng ngữ pháp truyện, ngữ nghĩa truyện ở cấu trúc bề sâu, thì nay các học giả đang chú ý đến tu từ học, tự sự học nhƣ là phƣơng diện biểu hiện tƣ tƣởng, tình cảm của tự sự. Ngoài vấn đề điểm nhìn thì kí hiệu tƣợng trƣng khoảng cách trần thuật là những vấn đề đƣợc đặc biệt quan tâm”[38, tr. Tự sự học đang không ngừng mở rộng và phát triển.
Tự sự học (Narratology) là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lý luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tƣợng, phần nào đó tƣơng ứng với “thi học”, nghĩa hẹp là lĩnh vực lấy nghệ thuật thi ca làm đối tƣợng nghiên cứu. Việc nghiên cứu lý thuyết tự sự cũng đƣợc quan tâm nhiều ở Trung Quốc, trong đó: “Tìm về truyền thống tự sự dân tộc là một hƣớng nghiên cứu đáng chú ý của Trung Quốc. Dƣơng Nghĩa trong công trình Tự sự học Trung Quốc chủ trƣơng trở về cội nguồn, sử dụng khinh nghiệm Trung Quốc, dung hợp lý luận phƣơng Tây, tạo ra một lý luận mang màu sắc Trung Quốc. Ông khảo chứng từ tự (kể) tƣơng thông với các từ tự (thứ tự), tự (đầu mối); tự sự tƣơng thông với từ (lịch sử), từ đó 8 z ông hiểu tự sự Trung Quốc là cái học về thứ tự, đầu mối các sự kiện, tự sự học Trung Quốc lấy sử làm trọng điểm, từ sử mà mở ra tiểu thuyết, hí kịch”[ 38, tr.
Ngoài ra còn phải chú ý đến tự sự học so sánh, tự sự học văn hóa.cũng đang đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và nghiên cứu, ứng dụng. Trong hoàn cảnh lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam đang đứng trƣớc yêu cầu phải đổi mới để phát triển và xây dựng khả năng nghiên cứu các vấn đề văn học trong quá khứ, hiện tại và góp phần xác lập một hƣớng đi mới cho văn học tƣơng lai. Trên cơ sở đó vận dụng các lý thuyết mới, phù hợp để bổ sung vào dạy học Ngữ văn trong trƣờng Trung học phổ thông. Từ khi đƣợc giới thiệu vào Việt Nam, tự sự học đã đƣợc hƣởng ứng rộng rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt là ở các trƣờng đại học.
Đối tƣợng của tự sự học ngày nay không chỉ ngữ pháp tự sự nói chung mà còn là thi pháp tự sự của tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến ngƣời đọc của tự sự. Tìm hiểu rõ nội hàm, nguồn gốc và diễn biến của các khái niệm tự sự học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào phân tích các tài liệu cụ thể, chúng ta tin chắc rằng sẽ hiểu thêm về bản chất, phƣơng thức lịch sử và các bí ẩn nghệ thuật tự sự, một phƣơng tiện hùng mạnh để biểu đạt và lý giải thế giới, góp phần hữu ích vào việc phê bình và giảng dạy văn học. Con đƣờng đi tìm những bí mật truyện kể dƣờng nhƣ là công cuộc tìm kiếm vô cùng vô tận. Những nhà nghiên cứu văn học phải đƣơng đầu với những kỹ xảo, những trò diễn của ngôn từ của nhà văn để đi tìm tƣ tƣởng chủ đạo của những trang truyện kể.
Hành trình đầy khó khăn và cũng đầy lý thú ấy chúng ta có thể lý giải đƣợc đến đâu vẫn đang là vẫn đề mà mỗi nhà nghiên cứu và dạy học văn chúng ta quan tâm. Tự sự học có thể cung cấp một số công cụ hữu hiệu cho ngƣời nghiên cứu và ứng dụng trong việc tìm hiểu, giãi mã tác phẩm. Định nghĩa tự sự học (narratology) Trong bài dẫn luận về tự sự học của Susanna Onega và J. Tuy nhiên từ này đƣợc các nhà phê bình theo chủ nghĩa cấu trúc nhƣ Gérard Genette, Mieke Bal, Gerald Prince và một số khác dùng một cách phổ 9 z biến vào thập kỷ 70.
Kết quả là định nghĩa về narratology đã bị rút gọn lại trong sự phân tích có tính cấu trúc, hay đúng hơn, theo xu hƣớng cấu trúc chủ nghĩa về trần thuật” [38, tr. Chủ nghĩa cấu trúc dƣờng nhƣ chỉ bó hẹp trong ngôn ngữ văn bản, vì vậy chủ nghĩa hậu cấu trúc ra đời đã đáp ứng đƣợc các hƣớng tiếp cận, mở ra hƣớng nghiên cứu phù hợp và đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận. Tức là ý nghĩa của văn bản không chỉ bó hẹp trong cấu trúc ngôn ngữ mà nó có cả mối quan hệ với bối cảnh xã hội đã tạo nên nó. “Vào các thập kỷ 80 và 90 của narratology đã dẫn đến cách tiếp cận theo chủ nghĩa cấu trúc trƣớc đó.
Một tác dụng tích cực của điều này là mở ra nhiều con đƣờng phát triển cho narratology trong lĩnh vực nghiên cứu về giới tính, về phân tâm học, về chủ nghĩa phê phán độc giả - phản ứng và sự phê phán tƣ tƣởng. Do đó, narratology còn có ý nghĩa rộng hơn (tự sự học) chứ không phải theo ý nghĩa hình thức chủ nghĩa của từ ngữ này (trần thuật học)” [38, tr. Các định nghĩa rộng hơn và hẹp hơn Ngoài ra, còn một số quan niệm khác và trần thuật học nghiên cứu các phƣơng diện có tính chất trần thuật của nhiều thể loại và diễn ngôn văn học hay phi văn học mà không đƣợc xác định một cách chặt chẽ là trần thuật, nhƣ thơ trữ tình, phim ảnh, kịch, lịch sử, quảng cáo. “Một cách định nghĩa rộng rãi hơn theo kiểu Aristote về trần thuật là có thể xem trần thuật là một tác phẩm có cốt truyện (thí dụ sử thi, bi kịch, hài kịch)” [38, tr.
Trần thuật xem như hành động phát ngôn trung gian Trần thuật với nghĩa rộng nhƣ là một tác phẩm có cốt truyện và phân biệt với trần thuật có ngƣời kể chuyện cũng có một khoảng cách nhất định. “Trần thuật ngôn ngữ (lịch sử, truyện dài, truyện ngắn) có thể là trần thuật theo cách mà chúng ta đã gọi là ý nghĩa hẹp của từ này, nghĩa là, trong trƣờng hợp này, trần thuật có hoạt động diễn ngôn của ngƣời trần thuật làm trung gian. Ngoài ra, có nhiều hình thức trung gian khác: trong điện ảnh, máy quay phim là một thiết bị trung gian, phi ngôn từ” [ 38, tr. Tính loại biệt của mỗi phương tiện trần thuật “Mỗi phƣơng tiện và mỗi thể loại cho phép có một cách trình bày loại biệt về 10 z cốt truyện (sƣờn trần thuật), có những chiến lƣợc quan điểm khác nhau, có nhiều mức độ của sự xen lẫn trần thuật và nhiều cách sắp xếp thời gian.
Do vậy, mỗi phƣơng tiện trần thuật đòi hỏi một cách tiếp cận có tính phân tích loại biệt đối với các cấu trúc và cấp độ trần thuật ” [38, tr. “Truyền thống tiểu thuyết là một quá trình tái định nghĩa không ngừng về các hình thái trần thuật, từ các hồi ký và các loại truyện viết theo kiểu thƣ từ, đến những ngƣời trần thuật thông suốt mọi sự, đến những nhà kinh nghiệm hiện đại với cách trình bày khách quan hay một góc độ hạn chế ”[38, tr. Tiểu thuyết cổ điển thƣờng gợi lên đời sống bên trong của tính cách nhân vật và mối liên hệ giữa tính cách và hành động. Trong kịch nói chung và về sau này có quan tâm đến thời gian và tâm lý, tâm trạng của các nhân vật.
Nhìn chung trong kịch thƣờng tập trung vào các hành động và cốt truyện. Với truyện ngắn, không chỉ quan tâm đến cốt truyện mà còn có các yếu tố khác chi phối nhƣ bối cảnh không gian, thời gian, nhân vật với nhiều diễn biến tâm trạng, cốt truyện… 1. Định nghĩa tác phẩm trần thuật Tác phẩm trần thuật đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Một tác phẩm trần thuật là một biểu hiện ký hiệu học về một loạt các sự kiện gắn liền một cách có ý nghĩa theo thời gian và nhân quả. Phim ảnh, sân khấu, hài kịch, tiểu thuyết, phim thời sự, nhật ký, ký sự niên đại (biên niên sử) và nghiên cứu địa chất, lịch sử tất cả đều là tác phẩm trần thuật theo ý nghĩa rộng.
Theo đó, tác phẩm trần thuật có thể đƣợc xây dựng bằng cách sử dụng một số lƣợng rộng rãi các phƣơng tiện ký hiệu học: ngôn ngữ viết hoặc nói, hình ảnh trực quan, cử chỉ và động tác, cũng nhƣ bằng sự phối hợp của các phƣơng tiện này. Bất kỳ một sự kiến tạo nào bằng ký hiệu, bất kỳ một cấu trúc nào bằng dấu hiệu, đều có thể xem là một văn bản. Do vậy, chúng ta nói về nhiều loại văn bản trần thuật: ngôn ngữ học, sân khấu, tạo hình, phim ảnh ” [38, tr. Nhƣ vậy, chúng ta thấy, nó có ít nhất hai hàm nghĩa chính: nghĩa rộng, mà chúng ta vừa xác định, và nghĩa hẹp, theo ý nghĩa này trần thuật là một hiện tƣợng có tính ngôn ngữ đặc biệt, một hành động nói năng, đƣợc xác định bởi sự có mặt của ngƣời trần thuật.