mở đầu cuộc nội chiến tàn khốc. Trong văn học lúc bấy giờ, bên cạnh xu hướng khẳng định một cách trực tiếp nhà nước phong kiến, còn xuất hiện khuynh hướng khẳng định một cách gián tiếp thông qua phê phán. Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại diện tiêu biểu cho xu hướng này. Nguyễn Bỉnh Khiêm phê 18 z phán hiện thực phong kiến nhưng vẫn đứng trên lập trường đạo đức phong kiến để phê phán những yếu tố tiêu cực, làm sai lạc đạo đức ấy, làm suy yếu chế độ phong kiến.
Đến giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nước ta bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng, và không có lối thoát. Những mâu thuẫn như những ung nhọt chất chứa trong lòng xã hội từ lâu, đã đến lúc bộc lộ gay gắt thành những cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt. Văn học phát triển trong điều kiện như thế, không thể còn khẳng định nhà nước và đạo đức phong kiến như giai đoạn trước nữa. Văn học giai đoạn này đã khám phá con người và khẳng định những giá trị chân chính của con người.
Con người với tất cả sự phong phú của nó trở thành đối tượng chủ yếu, thành mối quan tâm hàng đầu của văn học, chứ không phải các vấn đề đạo đức phong kiến như trong văn học giai đoạn trước. Giai đoạn lịch sử này có thể xem là một “cuộc bể dâu” với những sự “thay đổi sơn hà”. Chính vì thế trào lưu nhân đạo chủ nghĩa thời này xoay quanh hai bình diện: phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con người; đề cao con người, đề cao cuộc sống trần tục của kiếp nhân sinh. Nó là sự kế thừa và nâng cao tinh thần nhân văn trong văn học cổ Việt Nam thời trước.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân văn, văn học cổ Việt Nam quan tâm sâu sắc đến những con người bình thường, phải chịu nhiều nhọc nhằn, bất hạnh, tai ương. Văn chương gần gũi, cận kề con người trong cơn hoạn nạn, vất vả. Không dừng lại suy nghĩ, triết lý về số phận, về đời người, bằng văn chương, các nhà tư tưởng tìm phương cách cứu giúp con người bớt khổ. Văn học luôn đề cao lối ứng xử tình nghĩa, thủy chung, phải đạo, trong quan hệ giữa người với người.
Ở đó, con người, theo tinh thần nhân văn, luôn chuộng lối sống khoan dung, chan hòa. Xã hội không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Con người, trong quan niệm của các nhà tư tưởng thiên về đạo lý, 19 z đạo đức, chứ không theo bình diện triết học thể hiện ở bản thể luận hay nhận thức luận. Có thể nói, nội dung chủ nghĩa nhân văn giai đoạn này chủ yếu biểu hiện trong quan hệ chống đối của quần chúng nhân dân đối với giai cấp thống trị và với hệ tư tưởng phong kiến.
Bên cạnh thái độ chính trị ấy là khuynh hướng yêu cầu phát triển cuộc sống cá nhân và khát vọng tự do về cuộc sống trần tục. Lúc này con người đã có ý thức chống đối những thế lực xã hội thống trị, chống đối tư tưởng phản động, những khát vọng, những nhu cầu, những đòi hỏi giải phóng tài năng, khát vọng đấu tranh để thực hiện nhu cầu tự do, hạnh phúc, nhu cầu tự nhiên bản năng của con người. Có thể nói, chỉ đến giai đoạn này, chủ nghĩa nhân văn mới phát triển mạnh mẽ đến thế. Bên cạnh những tác phẩm thơ chữ Hán là hàng loạt sáng tác chữ Nôm – những sáng tác này cùng nhau biểu đạt tư tưởng của thời đại.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, tư tưởng của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chính là những tiền đề giúp cho Nguyễn Du hình thành nên những tư tưởng nhân văn quan trọng của mình. Và trước khi tìm hiểu về chủ nghĩa nhân văn của Nguyễn Du, chúng ta sẽ tìm hiểu về chính bản thân tác giả và những tư tưởng chung nhất của ông. Nguyễn Du – cuộc đời và tư tưởng Nguyễn Du tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh năm 1765 tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh đúng lúc đất nước loạn lạc, chứng kiến nhiều cuộc đổi thay sơn hà mà tác giả gọi là “cuộc bể dâu” của đời người, của triều đại phong kiến và của chính mình.
Sinh ra và lớn lên trong một xã hội đầy rẫy những biến thiên cả về kinh tế, chính trị, tư tưởng, hệ tư tưởng nào chi phối Nguyễn Du? 20 z Sinh ra trong một gia đình đại quý tộc dưới triều Lê, Nguyễn Du mang niềm tự hào của cả dòng họ - dòng họ đã được nhân dân ngợi ca bằng những câu ca dao quen thuộc: “Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước, họ này hết quan” Dòng họ của Nguyễn Du không chỉ nổi tiếng về khoa cử, mà còn nổi tiếng về văn chương. Nguyễn Nghiễm để lại hai tập thơ chữ Hán Quân trung biên vịnh, Xuân đình tạp vịnh và một quyển Việt sử bị lãm. Ông cũng là người nổi tiếng hay nôm với bài phú Khổng tử mộng Chu công. Nguyễn Nễ, anh Nguyễn Du, cũng để lại hai tập thơ Quế hiên giáp ất tập, Hoa trình hậu tập và cũng sở trường về quốc văn.
Cháu Nguyễn Du là Nguyễn Thiện có tập thơ Đông Phủ và là người nhuận sắc Hoa Tiên, còn Nguyễn Đạm, một cháu khác, có tập Minh quyên. Theo Đào Duy Anh, nước Nam bấy giờ có "An Nam ngũ tuyệt" thì nhà họ Nguyễn Tiên Điền đã chiếm đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Đạm rồi. Tóm lại, chảy trong mạch máu Nguyễn Du là một huyết thống nho sĩ thư lại có tài văn chương. Huyết thống ấy đã ảnh hưởng nhiều đến sự hình thành cá tính của nhà thơ, đặc biệt khi nó suy tàn và thất thế vào thời mạt Lê.
Sinh trưởng trong một gia đình như vậy, tư tưởng chi phối Nguyễn Du trước hết vẫn là tư tưởng Nho giáo, trung quân mẫn thế; có một điều chắc chắn rằng, qua thực tiễn gia đình và dòng họ, Nguyễn Du đã nhận thức được nhiều điều về thế giới quan lại lúc bấy giờ. Chẳng nói đâu xa, cha Nguyễn Du là một quan văn lại thỉnh thoảng cầm quân đi đánh giặc, có công được khen thưởng cũng được hưởng vinh hoa phú quý trong khi đa số nhân dân đói khổ. Sống trong một gia đình như thế tư tưởng của Nguyễn Du không thể là cái gì khác ngoài tư tưởng trung quân. Nhưng trải qua những cuộc bể dâu của đời người, tư tưởng của Nguyễn Du cũng có những biến đổi.
Khảo sát các chặng trong cuộc đời của ông ta hiểu rõ về điều này. 21 z Yếu tố thứ hai tạo nên cá tính Nguyễn Du là quê quán. Nghệ Tĩnh là một vùng đất rừng rậm, núi cao, sông sâu, biển rộng. Một thiên nhiên hùng vĩ, khắc nghiệt thường kích thích ở con người một sức chống cự bền bỉ, một lòng kiên nhẫn phi thường trước hết để tồn tại và sau đó để tồn tại một cách xứng đáng.
Bởi thế, dân Nghệ là những người kiên cường, cứng cỏi, tuy ăn "cá gỗ" mà ý chí sắt thép. Hơn nữa, Nghệ Tĩnh từ xưa vốn là một vùng đất biên cương, phân chia giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Sự cọ xát miền biên viễn bao giờ cũng trau dồi con người thêm ý chí. Vả lại, nơi tiếp giáp của những miền cương thổ bao giờ cũng là một nơi tự do.
Bởi thế, Nghệ Tĩnh là đất đến của những người tị nạn chính trị (gia đình Nguyễn Du là một trường hợp) - những kẻ có thành tích bất hảo, những kẻ phiêu lưu, những người thích vượt biên. Sự nhập cư của những người này mang đến cho đất Nghệ những nguồn sinh lực mới, trong đó đáng kể hơn cả là lòng yêu tự do, chống lại những khuôn mẫu do một thổ ngơi văn hóa áp đặt Tuy nhiên, nói đến Nguyễn Du mà chỉ nói đến quê Nghệ là chưa đủ, cần phải nói thêm quê Bắc nữa. Bởi lẽ, mẹ nhà thơ là con gái Kinh Bắc. Đây là một vùng văn hóa cổ của người Việt.
Đặc biệt, đất Kinh Bắc có sinh hoạt quan họ trữ tình độc đáo, tao nhã, nhàn tản và thú vị. Nơi sản sinh ra các cô thôn nữ "khoẻ mạnh mà không thô kệch, quê mùa mà thanh lịch, yêu kiều mà đoan trang, áo nâu non, váy lưỡi trai bảy bức, yếm thắm hoa hiên, răng đen hạt huyền, mắt trong như dòng suối". Đây là hình ảnh tiêu biểu cho người đàn bà Bắc Bộ. Có thể, Bắc Ninh nói riêng và đồng bằng Bắc bộ nói chung tuy ít sản sinh ra anh hùng, nhưng là nơi làm cho họ trở thành anh hùng, hoặc thi nhân.
Như vậy, Nguyễn Du đã kết hợp được ở bản thân mình ưu thế của cả hai vùng đất, tuy đối lập nhau, nhưng lại bổ sung cho nhau đắc lực. Huyết thống và quê quán mặc dù góp phần quan trọng vào sự hình thành cá tính Nguyễn Du, nhưng vì là những yếu tố tĩnh, nên nó chỉ thực sự 22 z có tác động mạnh mẽ vào những thời điểm động. Thời đại Nguyễn Du chính là một thời điểm động đó. Là một cậu ấm con quan, song cuộc đời Nguyễn Du không phải lúc nào cũng sống trong nhung lụa gấm vóc.
Từ khi lên 10 tuổi, Nguyễn Du liên tiếp gặp bất hạnh. 10 tuổi mồ côi bố, 12 tuổi mồ côi mẹ, anh em Nguyễn Du phải ở cùng người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản, lúc bấy giờ đang làm Tả thị lang Bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây. Nguyễn Khản là người nổi tiếng phong lưu, thích nghe hát cô đầu “gặp khi con hát tang trở, cũng cứ cho tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ, tiếng trúc”. Sống với người anh như vậy, Nguyễn Du có điều kiện hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời của những người phụ nữ đặc biệt là số phận của những ca kỹ.
Có lẽ chính những người phụ nữ mà ông bắt gặp ở nhà anh mình đã ảnh hưởng đến tư tưởng của ông về thân phận con người đặc biệt là những người phụ nữ. Tuy nhiên, những yếu tố đó cũng chưa đủ tạo thành tính cách phức tạp và mâu thuẫn của ông, nếu ta không kể đến những tháng ngày loạn ly ông phải sống điền dã nơi hang cùng xóm vắng, trong sự thiếu thốn, lạnh rét như những người dân thời loạn bấy giờ, cũng như những tháng ngày bôn ba xứ người đảm đương trọng trách đại diện cho triều đình trên đường tuế cống tiếp cận một nền văn hóa, phong tục mới khi ông đi sứ ở Trung Quốc. Cuộc sống phong lưu của Nguyễn Khản cũng không kéo dài được bao lâu vì sự kiện “phế trưởng lập thứ” trong phủ chúa Trịnh.