mở đầu tập tham luận hội nghị khoa học (sau được đăng trong Tạp chí nghiên cứu văn học số 7, 2007) là công trình tổng kết lại quá trình nghiên cứu Văn học Quốc ngữ Nam bộ 15 năm gần đây về các mặt: sưu tầm, giới thiệu tác phẩm, nghiên cứu, phê bình văn học và công trình khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản Văn học Quốc ngữ Nam bộ. Bài viết đã công bố số tác giả, tác phẩm đã sưu tập được, đồng 19 thời mở ra khuynh hướng nghiên cứu mới: 1.Thế nào là nhà văn Nam Bộ? 2.Giá trị, phong cách, vị trí của từng nhà văn Nam Bộ đối với văn học vùng và văn học dân tộc như thế nào? 3.Đối với văn học Nam Bộ, với tư cách là một vùng văn học, cách chia giai đoạn như thế nào? Có thể dùng cái khung mà chúng ta vẫn chia lâu nay: Từ đầu đến 1930, hay 1932, từ 1930/1932 – 1945 được không? Lấy cái gì làm mốc đánh dấu sự thay đổi đó? Hay không cần phải phân kỳ như vậy? 4.Phương pháp sáng tác, các khuynh hướng trong văn học là gì? Có thể dùng mô hình: Khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực phê phán và khuynh hướng cách mạng như lâu nay được không? 5.Đặc điểm của văn học Nam Bộ là gì, nếu so với văn học toàn quốc? [63, tr. Những gợi ý trên rất hợp lý và xác đáng, rất cần thiết cho việc nghiên cứu văn học Nam Bộ trong cái nhìn đối sánh với văn học miền Bắc, trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam, và cuối cùng giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về văn học Nam Bộ cả về đội ngũ, khuynh hướng sáng tác, cách phân kỳ, tác phẩm cũng như giá trị của nó. Ngoài ra, những bài viết khác in trong tập tham luận cũng là những bài viết hay, có giá trị về văn học Nam Bộ.
Có thể thấy rất nhiều bài viết nghiên cứu về tác giả riêng lẻ: Lê Tiến Dũng với bài: Bửu Đình, nhà tiểu thuyết, viết chung với Hồ Khánh Vân; Đào Ngọc Chương nghiên cứu về Sơn Vương (Sơn Vương – Khảo luận tác phẩm), Nguyễn Công Lý với bài viết Vài nét về văn xuôi quốc ngữ của Lê Mai, Nguyễn Thị Thanh Xuân với Phú Đức, một mẫu hình nhà văn đặc biệt đầu thế kỷ, Cao Xuân Mỹ với Tiểu sử và tác phẩm của nhà văn Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Q.Thắng với bài Về Dương Minh Đạt, Sơn Vương, Phú Đức, Huỳnh Thị Lan Phương với bài Cuộc sống ở nông thôn Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh,… và các bài viết khác về Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Thới Xuyên, v. Ngoài ra, những bài viết về Văn học Nam bộ đăng trên tập san ĐH KHXH & NV TP.HCM (http://www.vn/Magazine) cũng là những bài viết rất đáng quan tâm: 20 Tiểu thuyết lịch sử ở Nam Bộ thời kỳ đầu thế kỷ XX; Con đường đến với tiểu thuyết hiện đại của hai nhà văn tiên phong; Truyện và tiểu thuyết trên báo Nam kỳ địa phận; Bước đầu khảo sát tư liệu và đánh giá tiểu thuyết Lê Hoằng Mưu,… của Võ Văn Nhơn. Các bài viết của Phan Mạnh Hùng: Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX; Sự xuất hiện của thế hệ nhà văn mới ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nguyễn Văn Hà với “Nguyễn Chánh Sắt trong hành trình văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX” Trên trang web: http://www.com có rất nhiều bài viết về văn học Nam Bộ.
Đáng chú ý là một số bài viết có liên quan đến tác giả Hồ Biểu Chánh, Phi Vân – hai tác giả có tiểu thuyết nghiên cứu trong phạm vi đề tài. Trong bài viết “Hồ Biểu Chánh”, Huỳnh Thị Lan Phương có chia ra hai mảng nội dung trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: khuynh hướng hiện thực, khuynh hướng đạo lý. Lan Phương cho rằng: “Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh phản ánh nhiều mảng hiện thực khác nhau trong xã hội Nam Bộ ở những năm đầu thế kỷ XIX,… Ông không chỉ viết về thành thị mà còn đi sâu vào cuộc sống ở nông thôn. Ông không chỉ đề cập đến những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội mà còn bao quát cả cuộc sống những con người nghèo khổ trong xã hội…”.
Lan Phương còn đi sâu vào tìm hiểu hình ảnh của người dân nông thôn Nam Bộ trong bài viết “Cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về người nông dân Nam Bộ”. Nhiều tác giả công nhận Hồ Biểu Chánh như là nhà sử học, nhà thư ký của thời đại, “ngòi bút hiện thực của ông rất sắc nhọn, bới lật từng ngõ ngách của cuộc đời bất công để phê phán, tố cáo. “Cái ác, cái xấu, cái phi luân luôn bị phê phán nghiêm khắc và nhịp đập của trái tim nhà văn dường như đã hòa nhịp với nhịp đập con tim của những người bị đọa đày, bất hạnh. Có thể coi ông là nhà văn của nông dân Nam Bộ, của lòng mong muốn 21 xác lập một mặt bằng nhân ái cho cuộc sống hằng ngày.
Cũng trên trang web này, Huỳnh Ái Tông - tác giả bài viết “Các công trình văn học Quốc ngữ miền Nam” đã dành cho văn học Nam Bộ tình cảm ưu ái. Bài viết như là một bài giảng gồm 5 tiết, từ khái quát chung đến báo chí, thơ, tiểu thuyết. Tiết 5, tác giả dành riêng cho tiểu thuyết, giới thiệu đại cương về tiểu thuyết, các tiểu thuyết gia đầu tiên (Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu) và các nhà văn tiếp nối (Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Phi Vân, Hồ Hữu Tường). Tác giả đưa ra nhiều nhận xét xác đáng về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh: “Tiểu thuyết của ông có hậu, quả báo nhãn tiền, mọi việc đều để răn dạy, phải chăng nó phản ánh cái xã hội ngang tàng thời đó ? của thứ anh hùng “thế thiên hành đạo”; nếu tiểu thuyết để giáo hóa con người thì nó cũng có khả năng làm cho người ta bắt chước, nghĩa là nó có ảnh hưởng tốt và xấu tuỳ theo trình độ và trường hợp của mỗi người.
Nhưng phải công nhận đây là sự táo bạo của nhà văn lớp trước.”; về tiểu thuyết của Phi Vân: “quyển Ðồng Quê của ông được nhiều người ưa chuộng vì tác giả đã tả lại xã hội thôn quê miền Nam vào tiền bán thế kỷ 20, nào là phong tục đám cưới, thầy pháp, thầy bùa, hò đối đáp, đi câu trộm.Mỗi một truyện của ông vẽ lại góc nhỏ của xã hội đồng quê, cho ta thấy vài khía cạnh của phong tục tập quán, những bọn cường hào ác bá, đầu trộm đuôi cướp làm cho đời sống dân quê chịu nhiều nổi áp bức”. Như vậy, tác giả đã thừa nhận và đánh giá cao mặt hiện thực được phản ánh trong tiểu thuyết của hai nhà văn này. Khai thác khía cạnh xã hội nông thôn Nam Bộ trong tiểu thuyết phóng sự của Phi Vân còn có Huỳnh Công Tín với “Đồng quê, dân quê, tình quê trong sáng của Phi Vân”, Nguyễn Văn Sâm với “Phi Vân và sự trở mình của người dân quê”. Trên đây là những bài viết, công trình có ít nhiều liên quan đến Văn học Nam Bộ và đề tài.
Một số bài viết, ý kiến, luận văn có chạm ngõ đến vấn đề hiện thực phê phán trong tiểu thuyết Nam Bộ nhưng chỉ mới dừng ở mức 22 độ nhận xét khái quát biểu hiện của khuynh hướng này ở một số tác giả, tác phẩm. Nhìn chung, nhiều vấn đề còn để ngỏ và chưa giải quyết rốt ráo, trọn vẹn. Tuy nhiên, những ý kiến trên đều thật sự quí giá, đặc biệt quan trọng, cần thiết và có tính chất gợi mở cho chúng tôi trên bước đường đầu tiên tìm hiểu khuynh hướng hiện thực phê phán trong tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1932- 1945. Giới hạn vấn đề 3.
Về đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là trào lưu mang tính khuynh hướng hiện thực phê phán trong các tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1932-1945. Theo đề tài, phạm vi nghiên cứu sẽ là những tiểu thuyết của các nhà văn Nam Bộ có nội dung phản ánh hiện thực xã hội, cuộc sống Nam Bộ và mang ý nghĩa phê phán. Tiểu thuyết được khoanh vùng khảo sát là những tiểu thuyết Nam Bộ ra đời trong giai đoạn 1932-1945 và một số tiểu thuyết Nam Bộ trước 1932. Cụ thể, chúng tôi tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng này như: Hồ Biểu Chánh ( Cư kỉnh, Ở theo thời, Bỏ chồng, Con nhà nghèo, Lời thề trước miễu, Một đời tài sắc, Lạc đường, Ông Cử,.), Nguyễn Bửu Mộc (Cô giáo Yến Hoa lụy vì tình, Mạng nhà nghèo) Sơn Vương (Chén cơm lạt của người thất nghiệp, Anh bạc tình,.), Trần Quang Nghiệp (Con của ai, Gặp người khách quí, Giả thiệt là ai, Ăn mày trúng số, Ai muốn làm giàu.), Phi Vân (Đồng quê)… Đồng thời chúng tôi cũng mở rộng ra những tiểu thuyết thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán ở miền Bắc cũng trong giai đoạn này để có tính chất so sánh về mặt số lượng, chất lượng nhằm làm rõ nét hơn đặc trưng hiện thực, cũng như sự khác biệt về văn hóa, phong cách, nét cảm, nét nghĩ của các nhà văn hai miền cùng thời.
Về khái niệm tiểu thuyết 23 Tiểu thuyết là một trong những thể loại chính của nền văn học hiện đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học phương Tây. Ra đời năm cuối 1887, Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản được xem là cuốn tiểu thuyết Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Hiểu thế nào là tiểu thuyết để có phạm vi nghiên cứu chính xác là vấn đề cần phải bàn, vì từ khi ra đời, văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ còn chưa rõ ràng với một số tên gọi: tiểu thuyết, truyện ngắn, đoản thiên tiểu thuyết,… “Tiểu thuyết” là danh từ mượn của Trung Quốc. Người Trung Quốc phân biệt ba loại tiểu thuyết: đoản thiên tiểu thuyết, trung thiên tiểu thuyết và trường thiên tiểu thuyết.
Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) – NXB Giáo dục, Hà Nội, trang 328) có định nghĩa: Tiểu thuyết: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện tính cách đa dạng”. Như vậy, định nghĩa trên đã phân biệt tiểu thuyết với truyện ngắn, truyện vừa. Đó là theo quan niệm hiện đại ngày nay.