phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 2 chƣơng, 4 tiết. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG NGUYỄN TRÃI 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIV ĐẦU THẾ KỶ XV - CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG NGUYỄN TRÃI Một trong những vấn đề cơ bản quan trọng khi nghiên cứu tính nhân văn trong tƣ tƣởng Nguyễn Trãi là phải tìm hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, cũng nhƣ những tiền đề lý luận hình thành tính nhân văn trong tƣ tƣởng của ông. Bởi vì, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, trong đó tồn tại xã hội quyết định đến nguồn gốc và mọi tính chất, nội dung, khuynh hƣớng của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội có tính độc lập tƣơng đối, tác động trở lại tồn tại xã hội. Tính nhân văn là một trong những phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, luôn luôn phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Do đó, sự hình thành và phát triển tính nhân văn trong tƣ tƣởng Nguyễn Trãi cũng không nằm ngoài tính tất yếu đó. Đúng nhƣ quan điểm của các nhà mácxit đã khẳng định: “Chính con ngƣời khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tƣ duy lẫn sản phẩm tƣ duy của mình.
Không phải ý thức quy định đời sống mà chính đời sống quy định ý thức” [43, tr. Cho nên, một mặt, tính nhân văn trong tƣ tƣởng Nguyễn Trãi bị chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV; mặt khác, nó là sự kế thừa những tiền đề tƣ tƣởng nhân văn trƣớc đó, cùng với sự phản ánh, chắt lọc những tinh hoa giá trị văn hóa của dân tộc. Công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt thế kỷ XIV – XV với việc hình thành tính nhân văn trong tƣ tƣởng Nguyễn Trãi Có thể nói xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là một giai đoạn lịch sử đầy biến động về nhiều mặt từ kinh tế - xã hội đến chính trị - tƣ tƣởng, văn hoá. Nguyễn Trãi sinh ra, lớn lên và chứng kiến những biến đổi thăng trầm của giai đoạn lịch sử này.
Và tất nhiên những giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng của ông cũng đã nảy sinh, hình thành và phát triển trong điều kiện ấy. Chúng ta đã biết rằng, nhà Trần lên ngôi thay thế nhà Lý vào thế kỷ XIII, mở ra một thời kỳ mới tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt. Dƣới thời nhà Trần, là một xã hội có một nền chính trị thống nhất, ổn định và một nền văn hóa độc lập, thoát dần khỏi sự ảnh hƣởng của văn hóa ngoại lai, và một hệ tƣ tƣởng độc lập làm chỗ dựa về mặt tinh thần vững chắc cho xã hội Đại Việt. Với ba lần đánh tan quân Nguyên, kẻ thù mạnh nhất thế giới thời kỳ phong kiến, đã khẳng định sự lãnh đạo tài tình của các vua nhà Trần và đặc biệt là biết phát huy, đề cao vai trò con ngƣời, biết tập hợp sức mạnh đoàn kết một lòng của quân dân Đại Việt trong chiến tranh.
Vua Trần Thái Tông, một ông vua đã từng xông pha nơi trận mạc, suốt đời nhớ mãi câu nói của quốc sƣ Phù Vân: “Phàm đã làm vua của thiên hạ, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” [89, tr. Chính từ việc các vua nhà Trần biết đề cao vai trò nhân dân trong chiến tranh cũng nhƣ trong củng cố, xây dựng đất nƣớc, đã làm nên những thành công về mọi mặt từ kinh tế - xã hội đến chính trị - tƣ tƣởng, văn hoá, quân sự… của quốc gia Đại Việt vào nửa đầu thế kỷ XIV. Tuy nhiên, vào nửa sau thế kỷ XIV, xã hội Đại Việt đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Đó là sự suy thoái về kinh tế, sự băng hoại về chính trị xã hội, sự sa đọa của tầng lớp quý tộc cầm quyền và cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động trong xã hội.
Một trong những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng trầm trọng đó là, càng về sau các vua nhà Trần nhƣ Trần Dụ Tông đã không biết phát huy, đề cao vai trò nhân dân, xa rời nhân dân, không coi việc lo cho dân cho nƣớc là việc chính mà lao vào ăn chơi truỵ lạc, hƣởng thụ thoả mãn cá nhân, còn bắt nhân dân phải phục dịch, hầu hạ. Trong tác phẩm Một số vấn đề lý luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội có viết: “Nhà Trần từ sau khi Dụ Tông hoang dâm, phóng túng, lại thêm Chiêm Thành xâm lƣợc, quấy rối, thì giặc cƣớp rất nhiều. Chúng cƣớp của bắt ngƣời giữa ban ngày, pháp luật không thể ngăn cấm đƣợc” [85, tr.
Trƣớc tình hình khủng hoảng sâu sắc nhiều mặt của nhà Trần nhƣ thế, vào năm 1400, Hồ Quý Ly ép Thiếu Đế nhƣờng ngôi cho mình, lập nên triều Hồ, lấy niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu. Trƣớc và sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã tiến hành một loạt các biện pháp cải cách về nhiều mặt, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tƣ tƣởng…để củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt theo một hƣớng mới. Có thể thấy, Hồ Quy Ly là một nhân vật hành động, có tầm nhìn, có năng lực và sự quyết đoán mạnh mẽ. Đề ra những biện pháp cải cách lật đổ triều Trần, ông muốn tìm ra con đƣờng giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại Việt cuối thời kỳ nhà Trần, tìm ra lối thoát nhằm xây dựng một nhà nƣớc tập quyền vững mạnh.
Tuy nhiên Hồ Quý Ly cũng là một con ngƣời đầy thủ đoạn, độc đoán, chủ quan duy ý chí, cộng với các chính sách cải cách nửa vời, thiếu triệt để, dẫn đến chỗ làm mất lòng dân. Kết cục là ông bị chống đối từ nhiều phía, dân chúng không đồng tình ủng hộ. Nhân cơ hội này, nhà Minh đe dọa và tiến hành cuộc xâm lƣợc. Nhà Hồ mau chóng sụp đổ (1400 - 1407), triều đại Lê sơ lên ngôi thay thế triều đại Nhà Hồ nhƣ là một tất yếu của lịch sử, nó hợp với quy luật dựng nƣớc đi đôi với giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh giành thắng lợi, ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (29 tháng 4 năm 1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long), khôi phục tên nƣớc là Đại Việt mở đầu triều đại Lê sơ. Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, giữa lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau tạo thành quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Trong đó, lực lƣợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất cả về nội dung, trình độ và tính chất; còn quan hệ sản xuất có tính độc lập tƣơng đối tác động trở lại lực lƣợng sản xuất theo hai chiều hƣớng hoặc là thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự phát triển của lực lƣợng sản xuất. Trong công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt thế kỷ XIV – XV, thời kỳ Lê sơ, với sự tập trung đi sâu cho việc cơi nới sức dân, phát huy, đề cao vai trò nhân dân, tập hợp sức mạnh đoàn kết một lòng của quân dân Đại Việt trong lao động sản xuất nông nghiệp, thƣơng nghiệp, thủ công nghiệp; nâng cao đời sống chính trị, tƣ tƣởng; quan tâm tới xây dựng quân đội, xây dựng hệ thống pháp luật.
đồng thời đã sáng tạo ra nhiều công cụ lao động mới phục vụ cho sản xuất vật chất. Nên đã góp phần quan trọng làm cho lực lƣợng sản xuất phát triển mạnh mẽ, theo đó là một quan hệ sản xuất tƣơng ứng đã thúc đẩy xã hội phát triển tiến lên. Đất nƣớc Đại Việt dần dần đƣợc hồi phục và phát triển lên một đỉnh cao mới về kinh tế - chính trị, quân đội, văn hóa, giáo dục…, đây chính là những yếu tố cơ bản đã chi phối, ảnh hƣởng trực tiếp đến sự hình hành và phát triển tính nhân văn trong tƣ tƣởng Nguyễn Trãi. Về kinh tế, trong thời gian đô hộ của nhà Minh và cuộc chiến tranh giải phóng bảo vệ Tổ quốc đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế Đại Việt vốn đã bị suy yếu, khủng hoảng trong những thập kỷ cuối thời Trần.
Đồng ruộng xơ xác, làng xóm tiêu điều, nhân dân phiêu tán, nền thủ công, thƣơng nghiệp suy sụp. Sau khi đất nƣớc giành đƣợc độc lập, nhà nƣớc và nhân dân với lòng yêu nƣớc, lòng tự hào dân tộc đang vƣơn cao, đã hợp sức cùng nhau khôi phục sản xuất, hàn gắn các vết thƣơng chiến tranh và đƣa nền kinh tế phát triển lên một giai đoạn mới. Về tình hình ruộng đất, sau khi giành đƣợc thắng lợi, đất nƣớc hoàn toàn giải phóng, nhà Lê một mặt cho 25 vạn quân về làm ruộng, lấy lại đất cũ của mình và khôi phục sản xuất, mặt khác kêu gọi nhân dân phiêu tán do loạn lạc chiến tranh trở về quê cũ, cùng nhau xây dựng lại xóm làng, đồn điền, nghề nghiệp. Để đảm bảo cho phát triển sản xuất, Lê Thái Tổ chỉ đạo cho các làng xã làm sổ ruộng đất và trên cơ sở đó nhà nƣớc chủ động phân phối, quản lý.
Với chính sách trọng nông của thời kỳ Lê sơ đã thực sự mang lại kết quả tốt. Nhiều năm sau, nhớ lại thời kỳ này, nhân dân đã ca ngợi: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông. Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”. Trong lĩnh vực công thƣơng nghiệp, bên cạnh sự phục hồi phát triển nông nghiệp, việc xây dựng lại kinh thành, thị tứ, thị trấn cũng đƣợc quan tâm và phát triển nhanh chóng.
Các ngành nghề truyền thống nhƣ kéo tơ, dệt lụa, đan lát, rèn đúc, dệt chiếu, làm nón, đúc đồng. ngày càng phát triển ở các làng xã, trong đó Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công của cả nƣớc, thời bấy giờ Thăng Long đƣợc chia thành 36 phƣờng, mỗi phƣờng làm một nghề khác nhau. Nhìn chung nền kinh tế nông nghiệp, công thƣơng nghiệp xã hội Đại Việt thời kỳ Lê sơ phát triển thêm một bƣớc đáng kể so với trƣớc.