Chương 1: Hanh trình sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của Lê Văn Thao, “Chương2; Nhân vật và không gian nghệ thuật trong văn xuôi Lê Văn Thảo. “Chương 3: Cốt truyện và ngôn từ trong văn xuôi Lê Văn Thảo. CHUONG I HANH TRINH SANG TAO VA QUAN NIEM NGHE THUAT CUA LE VAN THAO 1. HANH TRINH SANG TAO CUA LÊ VĂN THẢO 1.
Từ nhà văn chuyên viết về “những cảnh đời nhà binh”. Nhà văn của xứ sở Nam Bộ, Người không chịu giả, Người kỂ chuyện xuyên thời gian. là những cách nói thể hiện tình cảm yêu quý và trần trọng, của độc giả dành tặng cho nhà văn Lê Văn Thảo. Ông sinh ra trong thập niên 30 của thế kỷ XX, trải qua hai cuộc kháng chiến và chứng kiết biết bao đổi thay của thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước.
Vốn xuất thân từ vùng đồng. 'bằng sông Cửu Long, mỗi tác phẩm của Lê Văn Thảo đều viết về mảnh đất và con người Nam Bộ như một sự trỉ ân với quê hương, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn và chắp cánh cho ngòi bút của ông bay bồng. Sinh ra trong một gia đình khá giả nên Lê Văn Thảo có điều kiện đến trường. Kháng chiến chống Pháp nổ ra, lúc đó Lê Văn Thảo bảy tuổi, học vỡ lòng trong chiến khu vùng Đồng Tháp Mười.
Đến năm 1950, ông về học tiểu học và trung học ở vùng Long Xuyên. Năm 1959, ông học lên đệ nhất ở trường Chu Văn An. Nhà văn bồi hồi nhớ lại: “Tôi còn nhớ cảnh Sài Gòn bị ném bom năm 1945, ba tôi tham gia thanh niên tiền phong, sau khi đi kháng chiến, đem cả gia đình vào ở trong chiến khu vài ba năm sau chiến tranh ác liệt, má tôi lại dem anh em chúng tôi về Sài Gòn chia nhau gởi các nhà bà con, có lúc tôi được ở biệt thự, được đi học, chiều chiều ngôi trên xe kéo đi đạo mát (.) Sau này, đầu những năm 1960, lúc tôi học đại học, Sai Gòn là một thành pl sôi sục, vừa xong đánh Pháp đang chuẩn bị đánh Mĩ, đường phố xe cô dập đìu ánh đèn nhưng bên trong là những cảnh bắt bớ, đánh đập [2, tr. 59] Nam 1962, chang trai Dương Ngọc Huy di theo cách mạng khi dang là sinh viên năm thứ ba khoa Toán, trường Đại học Khoa học Sải Gòn.
Những năm đó, trường Đại học Khoa học còn dạy bằng tiếng Pháp, sinh viên trường. có tinh thần cách mạng thường tổ chức. iu tranh đòi quyền được học bằng tiếng Việt. Ông kế: “Tôi cùng tham gia đấu tranh với anh em.
Sau mới ết đó là tổ chức được cách mạng hướng dẫn” |2, tr. 59] Lê Văn Thảo là một trong những gương mặt điển hình của thế hệ sinh viên Sài Gòn lên rừng tham gia kháng chiến. Ông vào chiến khu làm dân công. tải đạn, nhiều năm ở những vùng có chiến sự sôi động nhất.
Lê Văn Thảo trở thành người lính và trực tiếp cằm súng trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Ông tâm sự: “Đó là một trận đánh quyết tử. Trước khi lên đường, chúng tôi đã biết điều đó, trong thâm tâm ai cũng nghĩ không biết mình có còn sống không. Nếu sống sẽ được đi trên đường phổ Sài Gòn giải phóng (.
Trận đánh bắt đầu khó khăn, tôi vào trong bị đánh bật ra, lạ trở vào. Tran đánh sinh tử và ác liệt đó đã dé lại trong ông nhiều ki niệm mạnh mẽ và ấn tượng. khó quên 'Vốn yêu thích văn chương từ rất sớm nhưng do điều kiện khách quan, sông không được học tập, trau đồi kiến thức văn học. Đến năm 1965, trong môi trường quân đội, dưới sự đìu dắt và động viên của nhà văn Anh Đức, ông mới bắt đầu nghiệp viết với bút danh Lê Văn Thảo bằng những bài phóng sự chiến trường.
Khi ấy, được tiếp xúc với nhiều người, với cuộc sống sôi động ở nhiều nơi, được gặp các nhà văn đàn anh có kinh nghiệm cũng như đọc nhiều tác phẩm của họ. là điều kiện để ngòi bút Lê Văn Thảo thực sự trưởng, thành. Ông trả lời bạn đọc trên Tạp chí Nhà văn: “Tôi thực sự viết lúc vào. trong chiến khu, có dịp đi nhiều nơi, gặp nhiều người, lăn lộn chiến trường dự.
những trận đánh lớn, trải qua những hiểm nguy, khốc liệt nhứt. Tôi viết phóng. sự chiến trường, thêm ít truyện ngắn, viết sốt sắng say mê với những chuyện kế chân thật, giản dị. 62] Lê Văn Thảo trưởng thành trong những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt.
Trong chiến dịch Mậu Thân, sống cùng các đơn vị bộ đội suốt ba tháng trong vòng vây kẻ thù, “có ngày, tôi chôn cắt 10 liệt sĩ. người bạn của tôi là chiến sĩ xung kích, tôi lắng nghe họ kể chuyện và ghi lại những tâm tình” [88]. Chính tháng ngày đói khổ, thiếu thốn đã tạo cơ duyên. để nhà văn có nguồn chắt liệu vô biên mà mãi sau này vẫn còn là cảm hứng.
chủ đạo trong nhiều sáng tác của ông. Những tác phẩm đầu tay được Nxb Văn nghệ Giải phóng in trong tập truyện và “Ngoài mặt trận (1969). Năm 1970, nhà văn xuất bản ký sự Từ zhế cao và sau đó là tập truyện ngắn Đém Tháp. Các tác phẩm trong tập truyện ngắn này như: Đém Tháp Mười, Chuyện xã tôi, Di thăm chồng, Chuyện một có thanh niền xung phong, Người tù số 92, Chuyện bên bở sông Vàm Cỏ đều viết về cuộc sống của những chiến.
sĩ và đồng bảo Nam Bộ trong chiến tranh chống Mĩ. Bằng những câu chuyện nhỏ, với cách kể giản dị, có phần sơ lược nhưng người đọc nhận thấy sự chân. thực và thành tâm ở nhà văn. Chính vì vậy, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp một người đàn bà tay bồng con, tay xách giỏ vượt qua bao chốt kiểm dịch để Øi dhăm chồng.
Kết thúc truyện, câu hỏi: “Tai sao tên "bình định” kia, tên bận đồ bà ba đen đang ngồi trước mặt chị, lại có lòng tốt cho. chị đi thăm chồng chị? Nhứt định không phải vì sợ hoặc vì thương hại rồi” 69, tr. 107] khiến người đọc không khỏi day dứt và ám ảnh. Cũng như điều bắt ngờ của nhân vật xưng "tôi" (Đêm Tháp Mười) khi về tới trạm giao liên M trong đêm tối và hình ảnh “người nông dân tật nguyễn có cuộc đời đầy đau.
thương kia đêm đêm đẩy xuồng vũ khí ra ngoài mặt trận hiện rõ rằng trước mắt tôi. Truyện kết thúc bằng nỗi niềm trăn trở của nhân vật: “Chuyện đứa nhỏ với cái chân buộc vào gốc cột thì tôi biết, chồng chị biết, nhưng chúng tôi đều giữ kín trong lòng. Nó sẽ mãi mai bi mat, lặng lẽ như bao chuyện hằng bao nhiêu năm nay trên đồng nước này vậy. Chuyện đơn giản nhưng hẳn đã để lại nhiều dư vị trong lòng bạn đọc, nhắc nhớ chúng ta về một thời đau thương mà anh ding cua dân tộc và sự hi sinh thầm lặng của mỗi người dan dat Việt Dân tộc Việt Nam đã trải qua nửa thé ki có chiến tranh nên sự biển động.
vô cùng lớn lao. Hoàn cảnh bắt bình thường ấy đã chỉ phối số phận từng con người, cả trong chiến tranh và cả thời hậu chiến; là một vấn đẻ lớn không chỉ trong quá khứ mà cả hiện tại và tương lai. “ĐỀ tài chiến tranh như một vùng, mỏ vừa lộ thiên, vừa nhiều vỉa ngầm đang khai phá dở dang mà trữ lượng còn rit lớn. Một vùng mỏ văn học đầy hấp dẫn với các cây bút đầy tâm huyết” [41, tr.
Nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 tập trung vào chủ đề chiến đấu cho nền độc lập, tự do của đất nước. Người lính trong văn học. thời kì này, được dắn thân vào những nơi gian khô, ác liệt để thử thách ý chí kiên định va lí tưởng mà họ đã chọn. Nhiều tác phẩm đặt các chiến sĩ trước tình huồng nghiệt ngã giữa sống và chết để khẳng định ý nghĩa cao cả của sự.
Đó là những con người đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh và khát vọng của cộng đồng, của dân tộc. Chiến tranh không chỉ tàn phá con người về thể xác mà còn hủy hoại cả tinh thần. Nhiều nhà văn từ cuộc chiến đi ra, chứng kiến tận những vinh quang và mắt mát nên viết rất thành công về đề tài này như: Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Bảo Ninh, Thái Bá Lợi, Văn Lê, Trung Trung Đỉnh. những năm kháng chiến chống Mĩ, Lê Văn Thảo cùng sống và chiến đầu với chiến sĩ quân giải phóng, do vậy, đề tài chiến tranh với những người lính bình.
thường, tình đồng đội của họ vẫn là để tải nhà văn yêu thích. Qua nhiều tác phẩm, người viết dẫn độc giá vào thể giới của lòng dũng cảm, tình người, đức. Nói cách khác, đó là thể giới của cái cao cả, cái đẹp vượt lên trên sự tàn phá, hủy diệt của bom đạn chiến tranh. Không chỉ trực tiếp phản ánh hiện tác giả còn hướng ngòi bút vào việc ca ngợi những con người niềm tin và nghị lực.
Họ đã cống hiển hết mình, góp phần tuyển. Sau khi đất nước hòa bình, Lê Văn Thảo về công tác tại tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Trở vẻ với cuộc sống đời thường, công việc viết lách với ông cực kỳ khó khăn, phải mắt một thời gian để nhà văn nghiền ngẫm, suy nghĩ về hiện thực. Năm 1978, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu.
tay Bên lở bên bi. Tác phẩm viết về hoạt động binh vận của quân và dân tỉnh. Long An thời kỳ 1967- 1968, được ấp ủ, thai nghén trong suốt những năm. tháng sống và chiến của tác giả.
Ra đời trong những năm đầu đất nước. thống L tác phẩm đã góp pÏ tích cực vào việc gợi mở cho thể hệ thanh. niên thời ấy, nhất là lớp thanh niên đô thị, hiểu biết hơn về cuộc chiến tranh. vừa tồi qua, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và vai trò của những người nông dân bình thường.
Viết về những năm tháng khói lửa, văn Lê Văn Thảo tỉnh khôi, sáng sủa và chất chứa tâm tình bởi con người, tình đời dù trải qua chiến tranh vẫn không hề bị chai sạn. Mỗi trang viết mang lại một góc nhìn khác về những. người lính trong thời cl n: Vừa bình thường vừa cao cả, vừa giản dị vừa vĩ đại. Nhà văn đã dành nhiễu trăn trở, yêu thương và khâm phục người chiến sĩ, họ là những người con của đất nước, dũng cảm trong chiến đắu, vượt qua hiểm nguy, đương đầu với khó khăn và chấp nhận hy sinh.
những chiến sĩ quả cảm hiển đâng tuổi xuân cho sự nghiệp vĩ đại của dan tộc hiện lên như những biểu tượng cao đẹp của thời đại.