chương 1, chúng tôi khảo sát, thống kê biểu hiện hình thức của các THTM theo các trường nghĩa, nghiên cứu chúng trong các biến thể. Chương 3: Biểu hiện ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường trung học phổ thông. Chúng tôi tập trung vào biểu hiện ý nghĩa của các THTM trong thực tiễn hành chức của văn chương, khám phá những nét nghĩa phái sinh đặc sắc trong từng ngữ cảnh của tác phẩm. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ 1. Khái niệm tín hiệu Trong đời sống, để đạt hiệu quả giao tiếp, để trao đổi thông tin với nhau, người ta thường sử dụng các tín hiệu (TH). Do đó, một chuyên ngành khoa học ra đời mang tên Tín hiệu học để nghiên cứu chuyên sâu về TH. Vậy, TH là gì? Đã có nhiều quan niệm khác nhau về TH.
Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chọn định nghĩa của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán trong cuốn giáo trình Nhập môn ngôn ngữ học. TH được định nghĩa như sau: “Tín hiệu là dấu hiệu quy ước để truyền đạt thông tin. Đó là một sự vật, một hiện tượng kích thích vào giác quan của ta, làm cho ta tri giác được, lí giải và nghĩ tới một cái gì đó ngoài sự vật, hiện tượng ấy” [10, 34]. TH là một dạng vật chất tồn tại trong tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra, mang tính quy ước nhất định và được tập thể xã hội thừa nhận.
TH tự nhiên là những sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan trong tự nhiên, độc lập với ý muốn con người, ví dụ: mây đen, sấm chớp, trời ráng mỡ gà, đêm trời nhiều sao, chuồn chuồn bay thấp, hoa phượng nở…TH nhân tạo là một dạng hình thức vật chất do con người tạo ra hoặc mượn để truyền tải một nội dung thông tin, biểu hiện một ý niệm nào đó, ví dụ: tiếng còi tàu, trống trường, chuông nhà thờ, biển báo giao thông, … Như vậy, một TH nhân tạo sẽ thường bao gồm 2 thuộc tính như sau: 8 Phải là một dạng vật chất Tín hiệu nhân tạo Phải gợi ra một ý niệm khác, không phải là chính nó Một tín hiệu thường có hai mặt: cái biểu đạt (signifiant) (CBĐ) và cái được biểu đạt (signifie) (CĐBĐ) kết hợp với nhau theo quan hệ võ đoán. Sự gắn bó giữa CBĐ và CĐBĐ giống như hai mặt của một tờ giấy, hễ có một là có cả hai, không thể tách rời được. Có thể hình dung như sau: CBĐ Đèn đỏ hay TH = Cấm hút thuốc ++=+= CĐBĐ Dừng lại 1. Phân loại tín hiệu Các nhà nghiên cứu TH học đã phân các TH thành những phạm trù khác nhau.Buhler chia các TH thành: symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng); symptome (TH bộc lộ trạng thái tâm sinh lý, tư tưởng, tình cảm của người nói); signal (TH gây tác động tâm sinh lý cho người nghe).
Pierce phân chia TH thành ba loại chính: hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index) và ước hiệu (symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ mà F. de Saussure đã đưa ra. Theo đó, đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ CBĐ và CĐBĐ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được. Morris dựa vào mối quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị để chia TH thành hai loại: chỉ hiệu (singel indexes) và định hiệu (singnes caracterisant).
Tiếp theo, ông lại phân chia các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu trưng (symbole). Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH. Ông phân chia TH dựa trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người. Trong đó, tác giả quan tâm tới những TH biểu hiện (TH không giao tiếp).
Những TH biểu hiện về bản chất là các hình hiệu và chức năng của chúng không phải là công cụ giao tiếp mà là công cụ để phản ánh, miêu tả thực tế khách quan. Chúng là sản phẩm của các loại hình nghệ thuật và thuộc đối tượng nghiên cứu của Nghệ thuật học. Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân tạo. Trong TH nhân tạo, ông lại phân tích thành TH giao tiếp và TH không giao tiếp.
Ông còn dựa theo đặc tính thể chất của TH mà phân chia các TH thành TH thị giác, TH thính giác, TH xúc giác. Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã, ông chia các TH thành TH thứ cấp (còn gọi là ký hiệu) và TH sơ cấp. Guiraud cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại TH. Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa ra bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình.
Theo ông, TH là một thực thể đa diện cho nên căn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau. Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân loại. Những tiêu chí phân loại mà tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1) Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2) Dựa vào nguồn gốc của TH, 3) Dựa vào mối quan hệ giữa các biểu hiện và cái được biểu hiện, 4) Căn cứ vào chức năng xã hội của TH [3, 715-718]. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản nhất và quan trọng nhất, đó là chức năng tư duy và chức năng giao tiếp.
Để thực hiện hai chức năng này, ngôn ngữ được tổ chức theo hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tín hiệu và nguyên tắc hệ thống. Nói cách khác ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. Dựa trên lí thuyết TH học, mỗi TH luôn có hai mặt là CBĐ (hình thức) 10 và CĐBĐ (nội dung), F. de Saussure xác định THNN như sau: “THNN kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh.
Hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này sẽ có cái kia. Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu đạt và hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu đạt” [27, 121]. Bản chất của THNN luôn có tính hai mặt, quan hệ khăng khít, gắn bó, không thể tách rời. NHÀ CBĐ TH = CĐBĐ Từ đó, F.
de Saussure đã chỉ ra hai đặc tính của THNN, đó là tính võ đoán và tính hình tuyến. Tính võ đoán là quan hệ không có lí do, không giải thích được giữa CBĐ và CĐBĐ của THNN. Ví dụ, khái niệm “sự vật do con người tạo ra, có mái, tường, nền, cửa ra vào và dùng để ở, sinh hoạt”; trong tiếng Việt gọi là “nhà”, tiếng Anh là “house”, còn tiếng Trung Quốc được biểu thị bằng chữ “家” (âm jia),…Khái niệm ấy được biểu diễn bằng hình thức âm thanh và chữ viết như thế nào hoàn toàn do sự quy ước lâu đời của dân tộc ấy, quốc gia ấy, không thể giải thích xác đáng. THNN có tính hình tuyến.
Không như những TH khác có thể xuất hiện đồng thời trong cùng không gian, thời gian; THNN lần lượt xuất hiện, lần lượt được lĩnh hội theo trật tự tuyết tính. Người ta không thể cùng một lúc nói được nhiều tiếng mà phải phát âm lần lược từng tiếng theo dòng ngữ lưu, hết cái này rồi tới cái khác; điều này hoàn toàn tương tự khi viết. Tính hình tuyến tạo nhiều ưu thế trong sáng tạo văn chương. Nhờ đó, nhà văn thỏa sức đi sâu vào tâm lí nhân vật mà không lo bị giới hạn về thời gian.
Tuy nhiên, vì tính hình tuyến mà ngôn ngữ bị hạn chế khi muốn diễn tả 11 những sự kiện hay trạng thái tình cảm, cảm xúc diễn ra đồng thời ở cùng thời điểm và không gian khác nhau. THNN không riêng lẻ, rời rạc mà nằm trong hệ thống nhất định. de Saussure cho rằng: “Thường người ta không nói bằng tín hiệu riêng lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức, vốn cũng là tín hiệu. Chẳng hạn trong văn chương, một số TH đi theo từng cặp như: mận – đào, thuyền – bến, hoa – bướm,… Thuyền đi để bến đợi chờ Tình đi, nghĩa ở bao giờ quên nhau Chẳng nên tình trước nghĩa sau Bến này dãi bóng, trăng thâu đợi thuyền.
(Ca dao) Trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu coi ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu sơ cấp được xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất. Ông lưu ý về đặc tính đa chức năng của các THNN so với các TH khác nói chung và TH mang chức năng giao tiếp nói riêng. Nếu các TH khác trong hệ thống chỉ mang chức năng TH học thì THNN không thuần túy là chức năng giao tiếp, đồng thời còn là công cụ tư duy, để tổ chức xã hội, để thỏa mãn những nhu cầu thẩm mĩ,…Vì vậy, THNN vừa là phương tiện giao tiếp, công cụ để nhận thức, biểu hiện, … Từ các phương diện, chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý nghĩa TH của chúng trên tất cả những đơn vị mang ý nghĩa (tức đơn vị có hai mặt): từ, cụm từ, câu, đoạn, văn bản. Mỗi một THNN vừa mang những thông tin về sự vật, hiện tượng được nói đến, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, lối sống, sinh hoạt, trạng thái tâm lí của con người.
Chẳng hạn, khi đọc những câu ca dao sau: Cây đa, bến nước, con đò 12 Biết rằng bạn cũ còn chờ ta không Ví dù hết đợi hết trông Cây đa còn đó, tấm lòng còn đây Cây đa, bến nước, con đò đã trở thành những hình ảnh thân thuộc của mỗi làng quê Bắc Bộ Việt Nam. Ngoài ý nghĩa sự vật, hình ảnh cây đa – bến nước còn mang ý nghĩa biểu tượng. Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Cùng với sự trường tồn ấy, cây đa – bến nước thường là không gian sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người dân làng, là nơi chuyện trò, tâm tình của những đôi trai gái yêu nhau, … Mỗi THNN đều bao hàm một hình thức ngữ âm và một nội dung ngữ nghĩa tương ứng.
Giá trị của THNN do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định. Tuy nhiên, ngôn ngữ là một hệ thống TH phức tạp bao gồm nhiều yếu tố đồng loại và không đồng loại, số lượng không xác định. Do đó, nó sẽ tạo ra những hệ thống lớn và nhiều hệ thống con khác nhau. Mỗi hệ thống con sẽ bao gồm các yếu tố tương đối đồng loại.
Chẳng hạn: Từ đơn Cấu tạo Từ phức Biểu vật Từ Ngữ âm Nghĩa Biểu niệm Ngôn ngữ Từ vựng .