Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về hồi chỉ và hồi chỉ zéro trên thế giới Hồi chỉ được manh nha nghiên cứu từ thời cổ đại Hy Lạp dưới tên gọi Latin là “paraphrasis”, mang ý nghĩa “cộng thêm một cách, một dạng của biểu thức”[Dẫn theo 71, tr. Và đặc biệt, đến công trình nghiên cứu của ông tổ ngành ngôn ngữ học cấu trúc F.
de Saussure thì nó được xem như một dạng đối lập giữa ngôn ngữ và lời nói. Tiếp theo là hàng loạt những ngầm định công nhận có một dạng biến thể của câu trong đó có phát ngôn tỉnh lược như: S. Lyons 1995, George Yule (1997),. Gilliam Brown (1991) trong Phân tích diễn ngôn do Trần Thuần dịch (2002) xem hồi chỉ là phép liên kết quy chiếu nội hướng tức là nó không chỉ ra ngoài mà chỉ vào trong lòng văn bản.
Đó là quan hệ ngược hướng với phần văn bản trước đó. Ông khẳng định, với hướng này, các yếu tố hồi chỉ có tần xuất sử dụng cao so với ngoại chỉ. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cũng chú ý nhiều đến liên kết hồi chỉ. Gast & Koning (2008) đã so sánh phương tiện hồi chỉ giữa tiếng Anh và tiếng Đức trong công trình“Sentence Anaphora in English and German”, Freie University Berlin 2008.[124] và chỉ ra những khác biệt trong các đại từ chúng tôi, chúng ta như những biểu thức hồi chỉ mang tính ngữ dụng.
Trên thế giới, hồi chỉ zéro được nghiên cứu trong các chuyên ngành ngôn ngữ từ ngôn ngữ học về câu đến ngôn ngữ học văn bản, gần đây là phân tích diễn ngôn. Phân tích diễn ngôn đã trải qua một thời gian phát triển mạnh mẽ trong khoảng 50 năm gần đây, dưới nhiều tên gọi khác nhau như ngôn ngữ học văn bản, 7 phân tích văn bản, phân tích chức năng,. với đối tượng nghiên cứu khác nhau. Ở giai đoạn ngôn ngữ học văn bản phân tích diễn ngôn chủ yếu quan tâm đến liên kết với hàng loạt công trình nghiên cứu của Halliday và Hassan (1976) và các công trình nghiên cứu ở Liên xô cũ.
Ở thời kỳ hậu văn bản các vấn đề mạch lạc và cấu trúc được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, lĩnh vực nghiên cứu này có tên là phân tích diễn ngôn để chỉ đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ không phải ở tĩnh trạng mà luôn luôn động trong hoàn cảnh xã hội – văn hóa. Khi văn bản thực sự được biết đến rộng rãi năm 1970 thì tất cả các nhà nghiên cứu đều nhận thấy mọi tìm hiểu về ngữ nghĩa của câu với muôn hình vạn trạng cách biểu hiện khác nhau trong hành chức đều phải được xem xét kĩ lưỡng ở một môi trường rộng lớn hơn là văn bản. Mà đã là văn bản thì hiển nhiên phải có kết cấu hình thức và nội dung ngữ nghĩa.
Nói về hình thức, văn bản phải được trình bày theo một kết cấu nhất định và nói về nội dung, chắc chắn văn bản phải hướng người đọc đến một tư tưởng, một chủ đề xuyên suốt nào đó. Điều đó dẫn đến một nhận định thống nhất: văn bản là một thực thể luôn có tính liên kết. Cùng với đó là khả năng lí giải các hiện tượng ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa nào đó tồn tại trong văn bản. Một trong những hiện tượng được nhắc đến thường xuyên là khả năng sử dụng những đơn vị có hình thức đặc biệt, xem nó tồn tại không phải với tư cách riêng lẻ mà nằm trong một chỉnh thể cú pháp trên câu và cuối cùng là nằm trong văn bản.
Bằng những đường hướng lí thuyết này, ở chỗ này hay chỗ khác, trong cách triển khai nội dung các công trình nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ đã đặt cho hồi chỉ zéro bằng những tên gọi khác nhau như cách nói rút gọn, cách dồn nén thông tin trong câu đơn, cách hồi cố,. Và xem nó như một hiện tượng ngôn ngữ cấu thành tính liên kết của văn bản. Bàn về vấn đề này đã có những công trình nghiên cứu công phu trên thế giới, tiêu biểu là Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Halliday do Hoàng Văn Vân dịch, Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học của Gal’ perin I. do Hoàng Lộc dịch, Ngữ pháp văn bản của O.
Moskalskaja do Trần Ngọc Thêm dịch,.P, 1987, trong công trình “Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ”, xem văn bản là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, tiếp cận văn bản ở các khía cạnh về tính liên kết, tính hoàn chỉnh, tính liên tục,. Ông cho rằng “cần phải hiểu câu trong một đơn vị lớn hơn là nhất thể trên câu: nhất thể trên câu được hiểu với một mức độ rành mạch ít nhiều, là một nhất thể kết cấu phức gồm trên một câu độc lập, mang tính hoàn chỉnh về ý nghĩa trong văn cảnh của lời nói mạch lạc và có tư cách một phần giao tiếp trọn vẹn” và “cơ sở của mạch lạc liên kết là những đặc điểm khác của kết cấu văn bản, đó chính là hồi cố, hàm nghĩa và chức năng tạo lập văn bản. Sự hồi cố ở đây được biểu đạt thông qua những phương tiện ngôn ngữ chỉ thông tin đã qua, đồng thời cũng nhấn mạnh đến phần thông tin quan trọng ở vị ngữ vì vị ngữ mang cấu trúc thông báo ngữ nghĩa của cả câu. Moskalskaja, 1981, trên ngữ liệu tiếng Đức nghiên cứu rất kĩ chỉnh thể ngữ pháp trên câu, tâm đắc với “khối liên hiệp các câu”[Dẫn theo 28, tr.12] và cho rằng trung tâm sự chú ý của nó không chỉ là sự toàn vẹn của bản thân nó mà còn là các phương pháp phân loại, phân đoạn các ngữ đoạn, qui chúng về những lớp nhất định bằng phương pháp thay thế và cải biến.
Theo đó, ông chỉ ra rằng hiện tượng rút gọn trong câu đã được nghiên cứu kĩ trong ngôn ngữ Đức và các ngôn ngữ khác đồng thời khẳng định: “Cơ sở của việc nén thông tin, tức là việc đưa vào câu một hoặc một tuyến vị thể bằng những mệnh đề được rút gọn, điều đó kéo theo việc phức tạp hóa cấu trúc cú pháp của câu và tăng độ sâu của câu”[28, tr.219] Hồi chỉ được M. Hasan trên ngữ liệu tiếng Anh gọi tên rõ ràng trong “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” gắn liền với việc thực hiện tỉnh lược, tức là giả định một thành phần nào đó bị bỏ trống. Ông xem nó là một dạng của phép thế, gắn liền với phép thế. Nên “tỉnh lược và thay thế cả cú xuất hiện điển hình trong một chuỗi hội thoại nơi mà trong câu trả lời mọi thứ đều bị lược bỏ trừ thành phần mang thông tin”[36, tr.
Và một trong những phân tích quan trọng của Halliday là sự qui chiếu nhằm tạo ra liên kết văn bản bằng 3 hướng: hồi chỉ, ngoại chỉ và so sánh. Tình hình nghiên cứu hồi chỉ và hồi chỉ zéro ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề hồi chỉ và hồi chỉ zéro thường được nghiên cứu chủ yếu gắn liền với vấn đề tỉnh lược (ellipsis). Liên quan tới hồi chỉ và hồi chỉ zéro trong diễn ngôn cũng như trong hội thoại cho đến nay có thể liệt kê ra hàng loạt những công trình của các tác giả trong và ngoài nước như: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Chí Hòa, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Thiện Giáp, Phạm Văn Tình, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Hòa, Bùi Minh Toán, Trần Kim Phượng,. Cách tiếp cận chủ yếu của các tác giả là mở rộng phạm vi phân tích cấu trúc câu đến phân tích đơn vị lớn hơn câu và qui tắc kết hợp chuỗi câu để tạo thành diễn ngôn.
Và điểm cốt yếu làm cho một chuỗi câu trở thành diễn ngôn là mạch lạc và mạng mạch. “Phân tích diễn ngôn (discourse analysis) là cách tiếp cận thuộc phương pháp luận (chưa được đồng thuận xác nhận là một lý thuyết) đối với việc phân tích ngôn ngữ bậc trên câu, bao gồm các tiêu chuẩn như “liên kết” (cohesion – gồm hồi chiếu, thay thế), “mạch lạc”(coherence), “mạng mạch” (texture) v.v, có tính đến mối quan hệ với tình huống bên ngoài và các quy ước xã hội ảnh hưởng đến giao tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ”.401] Mặc dù hồi chỉ zéro không được gọi tên rõ ràng trong các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nhưng rất nhiều tác giả cho rằng các phát ngôn có chứa ngữ đoạn hồi chỉ zéro chính là phát ngôn tỉnh lược. “Tỉnh lược được coi là thế bằng zéro”[3, tr.186]; “Tỉnh lược là bỏ một ngữ đoạn mà sự có mặt không cần thiết. Nói một cách khác, đó là một phép thay thế một ngữ đoạn bằng đại từ hồi chỉ zéro” [39, tr.365]; “Tỉnh lược là một dạng của hồi chỉ.
Đó là hồi chỉ zéro” [29, tr. Vì vậy, về bản chất, hồi chỉ zéro chính là ngữ đoạn bị tỉnh lược trong phát ngôn trực thuộc (câu dưới bậc, câu rút gọn, câu tỉnh lược,. Đỗ Hữu Châu cũng xem hồi chỉ zéro là phương thức liên kết tỉnh lược và chỉ ra rằng “Trong hoạt động giao tiếp, dựa vào tình huống hoặc ngữ cảnh, người ta có thể lược một hoặc một vài yếu tố nào đó. Yếu tố đó đã được tình huống hoặc ngữ cảnh cho biết rõ… Khi lĩnh hội, người ta phải dựa vào câu đi trước để có thể hiểu được yếu tố bị tỉnh lược.
Nhờ thế các câu liên kết được với nhau. Do đó có thể gọi đây là sự hồi chỉ zéro.146] 10 Trong các công trình của mình, các tác giả đều thống nhất cho rằng một câu được coi là câu tỉnh lược khi một trong hai thành phần nòng cốt của câu bị lược bỏ, có thể là chủ ngữ, có thể là vị ngữ hoặc có thể là cả cụm chủ vị (trong cấu trúc chủ - vị hoặc cấu trúc đề - thuyết). Tuy nhiên, cách tiếp cận về câu tỉnh lược thì vẫn còn đi theo nhiều luận giải khác nhau. Xét một cách tổng thể, nghiên cứu của các tác giả kể trên có thể quy về hai xu hướng chính: Thứ nhất, nghiên cứu hồi chỉ zéro, hay tỉnh lược bằng không, được nhìn nhận từ góc độ phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu trên cơ sở các thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,.
khi không đặt câu vào ngữ cảnh, môi trường sinh động cho việc hiểu nghĩa của nó. Tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu này là các tác giả: Nguyễn Kim Thản; Hoàng Trọng Phiến; Nguyễn Minh Thuyết; .