Hồi chỉ zéro trong hội thoại qua một số truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu việt nam từ 1986 đến 2000

Khám phá hồi chỉ zéro trong hội thoại qua các truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000, phân tích và đánh giá sâu sắc.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

169
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu về hồi chỉ và hồi chỉ zéro trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu hồi chỉ và hồi chỉ zéro ở Việt Nam

1.4. Những vấn đề chung về phân tích diễn ngôn và phân tích hội thoại

1.5. Phép tỉnh lược và hồi chỉ zéro trong hội thoại

1.6. Mạch lạc, liên kết, quy chiếu và liên kết quy chiếu hồi chỉ zéro

1.7. Cơ chế tạo lập hồi chỉ zéro trong hội thoại

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HỒI CHỈ ZÉRO TRONG HỘI THOẠI QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000

2.1. Hồi chỉ zéro đơn

2.2. Hồi chỉ zéro tương đương với chủ ngữ

2.3. Hồi chỉ zéro tương đương với vị ngữ

2.4. Hồi chỉ zéro phức

2.5. Đặc điểm của các loại hồi chỉ zéro phức

2.6. Phân loại hồi chỉ zéro phức

2.7. Hồi chỉ zéro là sự im lặng

2.7.1. Im lặng thể hiện trạng thái cảm xúc của nhân vật giao tiếp

2.7.2. Im lặng thể hiện sự phê phán

2.7.3. Im lặng thể hiện sự khinh bỉ, coi thường

2.7.4. Im lặng thể hiện sự phản đối

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA HỒI CHỈ ZÉRO TRONG HỘI THOẠI QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000

3.1. Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng kinh nghiệm

3.2. Tạo tính ngắn gọn cho phát ngôn

3.3. Tránh lặp lại từ ngữ nặng nề, đa dạng hóa văn bản

3.4. Duy trì đề tài hội thoại

3.5. Phát triển đề tài hội thoại

3.6. Tạo tính lôgic cho các phát ngôn trong hội thoại

3.7. Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng liên nhân

3.8. Thể hiện thông tin cũ trong phát ngôn

3.9. Tiêu điểm hóa thông tin trong phát ngôn

3.10. Thể hiện nội dung thông tin ngầm ẩn

3.11. Thể hiện thông tin về các kiểu tính cách nhân vật

3.12. Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng liên nhân thông qua quy tắc cộng tác hội thoại

3.13. Hồi chỉ zéro thể hiện chức năng liên nhân thông qua quy tắc lịch sự

3.14. Hồi chỉ zéro thể hiện siêu chức năng ăn n

3.15. Hồi chỉ zéro thể hiện cách tổ chức ngôn ngữ tác phẩm

3.16. Hồi chỉ zéro thể hiện giọng điệu trần thuật độc đáo của tác giả

3.17. Tiểu kết chương 3

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Khám Phá Hồi Chỉ Zéro Trong Hội Thoại Tổng Quan

Hồi chỉ zéro là một hiện tượng ngôn ngữ quan trọng trong hội thoại, đặc biệt trong các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1986-2000. Hiện tượng này không chỉ thể hiện sự tinh tế trong cách tổ chức ngôn ngữ mà còn phản ánh những biến chuyển trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn. Nghiên cứu hồi chỉ zéro giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra ý nghĩa trong giao tiếp.

1.1. Định Nghĩa Hồi Chỉ Zéro Trong Ngôn Ngữ Học

Hồi chỉ zéro được định nghĩa là hiện tượng khi một thành phần ngữ pháp bị lược bỏ nhưng vẫn có thể hiểu được nhờ vào ngữ cảnh. Điều này tạo ra sự ngắn gọn và hiệu quả trong giao tiếp.

1.2. Vai Trò Của Hồi Chỉ Zéro Trong Văn Học Việt Nam

Trong văn học Việt Nam, hồi chỉ zéro không chỉ là một phương tiện ngôn ngữ mà còn là một công cụ nghệ thuật giúp các tác giả thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm của nhân vật.

II. Những Thách Thức Khi Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro

Nghiên cứu hồi chỉ zéro gặp nhiều thách thức, từ việc xác định các loại hồi chỉ đến việc phân tích giá trị ngữ nghĩa của chúng. Các nhà nghiên cứu cần phải xem xét ngữ cảnh và cách thức mà hồi chỉ zéro được sử dụng trong các tác phẩm cụ thể.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Phân Loại Hồi Chỉ Zéro

Việc phân loại hồi chỉ zéro thành các loại khác nhau đòi hỏi sự tinh tế và hiểu biết sâu sắc về ngữ pháp và ngữ nghĩa. Điều này có thể dẫn đến những tranh cãi trong giới nghiên cứu.

2.2. Ảnh Hưởng Của Ngữ Cảnh Đến Hồi Chỉ Zéro

Ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc xác định ý nghĩa của hồi chỉ zéro. Một hồi chỉ có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro Hiệu Quả

Để nghiên cứu hồi chỉ zéro, các nhà nghiên cứu có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ phân tích ngữ nghĩa đến phân tích diễn ngôn. Những phương pháp này giúp làm rõ giá trị và chức năng của hồi chỉ trong hội thoại.

3.1. Phân Tích Ngữ Nghĩa Của Hồi Chỉ Zéro

Phân tích ngữ nghĩa giúp xác định cách mà hồi chỉ zéro tạo ra ý nghĩa trong các phát ngôn. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc xem xét các ví dụ cụ thể trong văn bản.

3.2. Phân Tích Diễn Ngôn Trong Tác Phẩm Văn Học

Phân tích diễn ngôn cho phép các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách mà hồi chỉ zéro được sử dụng trong các tác phẩm văn học, từ đó làm nổi bật giá trị nghệ thuật của chúng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hồi Chỉ Zéro Trong Văn Học

Hồi chỉ zéro không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phân tích và giảng dạy văn học. Việc hiểu rõ về hồi chỉ zéro giúp nâng cao khả năng cảm thụ văn học của người đọc.

4.1. Hồi Chỉ Zéro Trong Giảng Dạy Văn Học

Việc giảng dạy hồi chỉ zéro có thể giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách tổ chức ngôn ngữ trong văn bản, từ đó nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn học.

4.2. Giá Trị Nghệ Thuật Của Hồi Chỉ Zéro

Hồi chỉ zéro góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng trong ngôn ngữ văn học, giúp các tác giả thể hiện ý tưởng một cách tinh tế và sâu sắc.

V. Kết Luận Về Hồi Chỉ Zéro Trong Hội Thoại

Hồi chỉ zéro là một hiện tượng ngôn ngữ quan trọng trong hội thoại và văn học Việt Nam giai đoạn 1986-2000. Nghiên cứu hồi chỉ zéro không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn mở ra những hướng đi mới trong nghiên cứu văn học.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Hồi Chỉ Zéro

Nghiên cứu hồi chỉ zéro sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngôn ngữ học và văn học, từ đó làm phong phú thêm hệ thống lý luận hiện có.

5.2. Giá Trị Của Hồi Chỉ Zéro Trong Giao Tiếp

Hồi chỉ zéro không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một công cụ giao tiếp hiệu quả, giúp các nhân vật trong văn học thể hiện tâm tư và tình cảm một cách tinh tế.

09/07/2025
Hồi chỉ zéro trong hội thoại qua một số truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu việt nam từ 1986 đến 2000

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về hồi chỉ và hồi chỉ zéro trên thế giới Hồi chỉ được manh nha nghiên cứu từ thời cổ đại Hy Lạp dưới tên gọi Latin là “paraphrasis”, mang ý nghĩa “cộng thêm một cách, một dạng của biểu thức”[Dẫn theo 71, tr. Và đặc biệt, đến công trình nghiên cứu của ông tổ ngành ngôn ngữ học cấu trúc F.

de Saussure thì nó được xem như một dạng đối lập giữa ngôn ngữ và lời nói. Tiếp theo là hàng loạt những ngầm định công nhận có một dạng biến thể của câu trong đó có phát ngôn tỉnh lược như: S. Lyons 1995, George Yule (1997),. Gilliam Brown (1991) trong Phân tích diễn ngôn do Trần Thuần dịch (2002) xem hồi chỉ là phép liên kết quy chiếu nội hướng tức là nó không chỉ ra ngoài mà chỉ vào trong lòng văn bản.

Đó là quan hệ ngược hướng với phần văn bản trước đó. Ông khẳng định, với hướng này, các yếu tố hồi chỉ có tần xuất sử dụng cao so với ngoại chỉ. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cũng chú ý nhiều đến liên kết hồi chỉ. Gast & Koning (2008) đã so sánh phương tiện hồi chỉ giữa tiếng Anh và tiếng Đức trong công trình“Sentence Anaphora in English and German”, Freie University Berlin 2008.[124] và chỉ ra những khác biệt trong các đại từ chúng tôi, chúng ta như những biểu thức hồi chỉ mang tính ngữ dụng.

Trên thế giới, hồi chỉ zéro được nghiên cứu trong các chuyên ngành ngôn ngữ từ ngôn ngữ học về câu đến ngôn ngữ học văn bản, gần đây là phân tích diễn ngôn. Phân tích diễn ngôn đã trải qua một thời gian phát triển mạnh mẽ trong khoảng 50 năm gần đây, dưới nhiều tên gọi khác nhau như ngôn ngữ học văn bản, 7 phân tích văn bản, phân tích chức năng,. với đối tượng nghiên cứu khác nhau. Ở giai đoạn ngôn ngữ học văn bản phân tích diễn ngôn chủ yếu quan tâm đến liên kết với hàng loạt công trình nghiên cứu của Halliday và Hassan (1976) và các công trình nghiên cứu ở Liên xô cũ.

Ở thời kỳ hậu văn bản các vấn đề mạch lạc và cấu trúc được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, lĩnh vực nghiên cứu này có tên là phân tích diễn ngôn để chỉ đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ không phải ở tĩnh trạng mà luôn luôn động trong hoàn cảnh xã hội – văn hóa. Khi văn bản thực sự được biết đến rộng rãi năm 1970 thì tất cả các nhà nghiên cứu đều nhận thấy mọi tìm hiểu về ngữ nghĩa của câu với muôn hình vạn trạng cách biểu hiện khác nhau trong hành chức đều phải được xem xét kĩ lưỡng ở một môi trường rộng lớn hơn là văn bản. Mà đã là văn bản thì hiển nhiên phải có kết cấu hình thức và nội dung ngữ nghĩa.

Nói về hình thức, văn bản phải được trình bày theo một kết cấu nhất định và nói về nội dung, chắc chắn văn bản phải hướng người đọc đến một tư tưởng, một chủ đề xuyên suốt nào đó. Điều đó dẫn đến một nhận định thống nhất: văn bản là một thực thể luôn có tính liên kết. Cùng với đó là khả năng lí giải các hiện tượng ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa nào đó tồn tại trong văn bản. Một trong những hiện tượng được nhắc đến thường xuyên là khả năng sử dụng những đơn vị có hình thức đặc biệt, xem nó tồn tại không phải với tư cách riêng lẻ mà nằm trong một chỉnh thể cú pháp trên câu và cuối cùng là nằm trong văn bản.

Bằng những đường hướng lí thuyết này, ở chỗ này hay chỗ khác, trong cách triển khai nội dung các công trình nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ đã đặt cho hồi chỉ zéro bằng những tên gọi khác nhau như cách nói rút gọn, cách dồn nén thông tin trong câu đơn, cách hồi cố,. Và xem nó như một hiện tượng ngôn ngữ cấu thành tính liên kết của văn bản. Bàn về vấn đề này đã có những công trình nghiên cứu công phu trên thế giới, tiêu biểu là Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Halliday do Hoàng Văn Vân dịch, Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học của Gal’ perin I. do Hoàng Lộc dịch, Ngữ pháp văn bản của O.

Moskalskaja do Trần Ngọc Thêm dịch,.P, 1987, trong công trình “Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ”, xem văn bản là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, tiếp cận văn bản ở các khía cạnh về tính liên kết, tính hoàn chỉnh, tính liên tục,. Ông cho rằng “cần phải hiểu câu trong một đơn vị lớn hơn là nhất thể trên câu: nhất thể trên câu được hiểu với một mức độ rành mạch ít nhiều, là một nhất thể kết cấu phức gồm trên một câu độc lập, mang tính hoàn chỉnh về ý nghĩa trong văn cảnh của lời nói mạch lạc và có tư cách một phần giao tiếp trọn vẹn” và “cơ sở của mạch lạc liên kết là những đặc điểm khác của kết cấu văn bản, đó chính là hồi cố, hàm nghĩa và chức năng tạo lập văn bản. Sự hồi cố ở đây được biểu đạt thông qua những phương tiện ngôn ngữ chỉ thông tin đã qua, đồng thời cũng nhấn mạnh đến phần thông tin quan trọng ở vị ngữ vì vị ngữ mang cấu trúc thông báo ngữ nghĩa của cả câu. Moskalskaja, 1981, trên ngữ liệu tiếng Đức nghiên cứu rất kĩ chỉnh thể ngữ pháp trên câu, tâm đắc với “khối liên hiệp các câu”[Dẫn theo 28, tr.12] và cho rằng trung tâm sự chú ý của nó không chỉ là sự toàn vẹn của bản thân nó mà còn là các phương pháp phân loại, phân đoạn các ngữ đoạn, qui chúng về những lớp nhất định bằng phương pháp thay thế và cải biến.

Theo đó, ông chỉ ra rằng hiện tượng rút gọn trong câu đã được nghiên cứu kĩ trong ngôn ngữ Đức và các ngôn ngữ khác đồng thời khẳng định: “Cơ sở của việc nén thông tin, tức là việc đưa vào câu một hoặc một tuyến vị thể bằng những mệnh đề được rút gọn, điều đó kéo theo việc phức tạp hóa cấu trúc cú pháp của câu và tăng độ sâu của câu”[28, tr.219] Hồi chỉ được M. Hasan trên ngữ liệu tiếng Anh gọi tên rõ ràng trong “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” gắn liền với việc thực hiện tỉnh lược, tức là giả định một thành phần nào đó bị bỏ trống. Ông xem nó là một dạng của phép thế, gắn liền với phép thế. Nên “tỉnh lược và thay thế cả cú xuất hiện điển hình trong một chuỗi hội thoại nơi mà trong câu trả lời mọi thứ đều bị lược bỏ trừ thành phần mang thông tin”[36, tr.

Và một trong những phân tích quan trọng của Halliday là sự qui chiếu nhằm tạo ra liên kết văn bản bằng 3 hướng: hồi chỉ, ngoại chỉ và so sánh. Tình hình nghiên cứu hồi chỉ và hồi chỉ zéro ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề hồi chỉ và hồi chỉ zéro thường được nghiên cứu chủ yếu gắn liền với vấn đề tỉnh lược (ellipsis). Liên quan tới hồi chỉ và hồi chỉ zéro trong diễn ngôn cũng như trong hội thoại cho đến nay có thể liệt kê ra hàng loạt những công trình của các tác giả trong và ngoài nước như: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Chí Hòa, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Thiện Giáp, Phạm Văn Tình, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Hòa, Bùi Minh Toán, Trần Kim Phượng,. Cách tiếp cận chủ yếu của các tác giả là mở rộng phạm vi phân tích cấu trúc câu đến phân tích đơn vị lớn hơn câu và qui tắc kết hợp chuỗi câu để tạo thành diễn ngôn.

Và điểm cốt yếu làm cho một chuỗi câu trở thành diễn ngôn là mạch lạc và mạng mạch. “Phân tích diễn ngôn (discourse analysis) là cách tiếp cận thuộc phương pháp luận (chưa được đồng thuận xác nhận là một lý thuyết) đối với việc phân tích ngôn ngữ bậc trên câu, bao gồm các tiêu chuẩn như “liên kết” (cohesion – gồm hồi chiếu, thay thế), “mạch lạc”(coherence), “mạng mạch” (texture) v.v, có tính đến mối quan hệ với tình huống bên ngoài và các quy ước xã hội ảnh hưởng đến giao tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ”.401] Mặc dù hồi chỉ zéro không được gọi tên rõ ràng trong các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nhưng rất nhiều tác giả cho rằng các phát ngôn có chứa ngữ đoạn hồi chỉ zéro chính là phát ngôn tỉnh lược. “Tỉnh lược được coi là thế bằng zéro”[3, tr.186]; “Tỉnh lược là bỏ một ngữ đoạn mà sự có mặt không cần thiết. Nói một cách khác, đó là một phép thay thế một ngữ đoạn bằng đại từ hồi chỉ zéro” [39, tr.365]; “Tỉnh lược là một dạng của hồi chỉ.

Đó là hồi chỉ zéro” [29, tr. Vì vậy, về bản chất, hồi chỉ zéro chính là ngữ đoạn bị tỉnh lược trong phát ngôn trực thuộc (câu dưới bậc, câu rút gọn, câu tỉnh lược,. Đỗ Hữu Châu cũng xem hồi chỉ zéro là phương thức liên kết tỉnh lược và chỉ ra rằng “Trong hoạt động giao tiếp, dựa vào tình huống hoặc ngữ cảnh, người ta có thể lược một hoặc một vài yếu tố nào đó. Yếu tố đó đã được tình huống hoặc ngữ cảnh cho biết rõ… Khi lĩnh hội, người ta phải dựa vào câu đi trước để có thể hiểu được yếu tố bị tỉnh lược.

Nhờ thế các câu liên kết được với nhau. Do đó có thể gọi đây là sự hồi chỉ zéro.146] 10 Trong các công trình của mình, các tác giả đều thống nhất cho rằng một câu được coi là câu tỉnh lược khi một trong hai thành phần nòng cốt của câu bị lược bỏ, có thể là chủ ngữ, có thể là vị ngữ hoặc có thể là cả cụm chủ vị (trong cấu trúc chủ - vị hoặc cấu trúc đề - thuyết). Tuy nhiên, cách tiếp cận về câu tỉnh lược thì vẫn còn đi theo nhiều luận giải khác nhau. Xét một cách tổng thể, nghiên cứu của các tác giả kể trên có thể quy về hai xu hướng chính: Thứ nhất, nghiên cứu hồi chỉ zéro, hay tỉnh lược bằng không, được nhìn nhận từ góc độ phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu trên cơ sở các thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,.

khi không đặt câu vào ngữ cảnh, môi trường sinh động cho việc hiểu nghĩa của nó. Tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu này là các tác giả: Nguyễn Kim Thản; Hoàng Trọng Phiến; Nguyễn Minh Thuyết; .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này khám phá những khía cạnh sâu sắc của tư tưởng triết học và văn học Việt Nam, mang đến cho độc giả cái nhìn tổng quan về các tác phẩm nổi bật và những ý tưởng quan trọng trong văn hóa. Đặc biệt, nó nhấn mạnh vai trò của các nhà văn như Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Du trong việc hình thành tư tưởng nhân văn và triết học, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ tư tưởng triết học của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại, nơi phân tích sâu sắc tư tưởng triết học của tác giả. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về tư tưởng nhân văn trong văn học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách áp dụng lý thuyết vào giảng dạy văn học. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề thú vị trong văn học và triết học Việt Nam.