chương 1 chúng tôi nêu lên các khái niệm liên quan đến đề tài, các lý thuyết mà đề tài sử dựng cũng như cơ sở pháp lý liên quan đến đề tài. Sau đó chúng tôi nêu tổng quan về thành phố Hội An, khái quát về hoạt động du lịch tại thành phố Hội An và tổng quan về làng mộc Kim Bồng. Chƣơng 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ LÀNG MỘC KIM BỒNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Nội dung chương 2 chúng tôi xác định giá trị di sản VHPVT của làng mộc, sau đó nêu lên thực trạng và đánh giá việc khai thác giá trị di sản VHPVT của làng nghề trong hoạt động du lịch. Chƣơng 3 GIẢI PHÁP KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ CỦA LÀNG MỘC KIM BỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Nội dung chương 3 chúng tôi nêu lên định hướng quản lý văn hoá trong phát triển du lịch bền vững làng nghề.
Phân tích mô hình SWOT để đưa ra chiến lược phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và đề xuất giải pháp quản lý văn hoá trong phát triển du lịch bền vững cho làng nghề. 21 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm Văn hóa Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người trên nền thế giới tự nhiên - xã hội. Nó ra đời phản ánh hiện thực khách quan lẫn đời sống của từng cá nhân và cộng động người trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong tiến trình phát triển, bất cứ một cộng đồng dân tộc nào cũng muốn tự tạo ra nét văn hóa mang đậm bản sắc riêng để phục vụ bản thân họ và cho chính cộng đồng ấy.
Văn hóa chính là yếu tố nội tại của xã hội loài người, là sản phẩm của con người sáng tạo nên. Năm 1871, nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor đã đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về dân tộc học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [24, tr. Boas, Văn hóa được hiểu là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần cấu thành nên từng cá nhân và tạo ra một nhóm vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đồng với môi trường và các nhóm người khác [9, tr. Như vậy, từ những cá nhân, tập thể và môi trường khác nhau sẽ tạo nên những nền văn hóa từng tộc người khác nhau.
Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao chỉ xét ở góc độ khác biệt. Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: Vì sinh tồn và mục đích cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng được gọi 22 chung là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi hình thức sinh hoạt và biểu hiện của nó mà con người đã sáng tạo để đáp ứng nhu cầu đời sống và sinh tồn [10, tr.
Trong Cơ sở văn hoá Việt Nam Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội” [12, tr. Khác với những định nghĩa trước, ông đã xem văn hóa là một hệ giá trị bao gồm bốn đặc tính: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Đặc biệt, trong Tuyên bố Toàn Cầu về Đa dạng Văn hóa của UNESCO năm 2001 đã định nghĩa “Văn hóa được coi là hệ thống các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của xã hội hay một nhóm người trong xã hội và văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn học, phong cách sống, cách thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [6, tr. Qua những định nghĩa văn hóa trên, trong luận văn này chúng tôi chọn dùng định nghĩa văn hóa của UNESCO bởi định nghĩa này nói văn hóa gồm phong cách sống, cách thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng không chỉ vật chất mà còn tinh thần và xã hội.
Và chúng tôi xem làng mộc Kim Bồng như một chủ thể văn hóa với hệ thống các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của cộng đồng làng mộc trong xã hội. Di sản văn hóa Di sản văn hóa là tài sản của một cộng đồng và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại. Điều 1 Chương I của Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới (1972) đã định nghĩa Di sản văn hóa gồm di tích kiến trúc (monuments): các công trình kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bia ký, các hang động và các bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch 23 sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; nhóm công trình xây dựng (group of buildings): là các nhóm công trình lẻ hoặc liên kết, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; các di chỉ (sites): các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, các khu vực có các di chỉ khảo cổ học xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [46]. Điều 1 Chương I của Luật Di sản Văn hóa (2001) “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [40].
Trong di sản văn hóa của dân tộc có hai bộ phận hữu cơ cấu thành đó là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Chúng luôn gắn bó mật thiết với nhau, tác động qua lại nhưng vẫn tồn tại độc lập bên cạnh nhau. Trong luận văn này, chúng tôi chọn dùng khái niệm di sản văn hóa theo Luật Di sản văn hoá (2001) vì chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ quản lý văn hóa. Di sản văn hóa vật thể Điểm 2 Điều 4 Chương I của Luật Di sản Văn hóa (2001): “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [40].
Di sản văn hóa phi vật thể Điểm 1 Điều 2 Chương I của Công ước về Bảo vệ Di sản VHPVT của UNESCO (2003) đã định nghĩa: Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng cùng với những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa liên quan đến cá nhân, một nhóm người hoặc một cộng 24 đồng; nó được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được cộng đồng không ngừng sáng tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại của cộng đồng với môi trường và lịch sử của họ; đồng thời tôn trọng sự đa dạng trong văn hóa khích lệ tính sáng tạo của con người [6, tr. Điểm 1 Điều 1 của Luật Di sản Văn hoá (sửa đổi 2009) định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [41]. Nếu di sản văn hóa vật thể tồn tại hữu hình, nhìn và cảm nhận được qua các giác quan thì di sản văn hóa phi vật thể lại là cái vô hình, chỉ được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền bí quyết nghề và thường có dị bản. Với các di sản văn hóa vật thể, chúng ta có thể trùng tu, phục dựng nguyên trạng qua các phương tiện kỹ thuật hiện đại của ngày nay, nhưng với di sản văn hóa phi vật thể thì việc bảo tồn giá trị của nó lại phụ thuộc chủ yếu vào các chủ thể sáng tạo văn hóa và chính họ mới là người quyết định có nên bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa nhằm đem lại lợi ích cho cá nhân và cộng đồng.
Trong luận văn này, chúng tôi chọn dùng định nghĩa của Luật Di sản Văn hóa (sửa đổi 2009) vì trong Luật đã chỉ rõ di sản VHPVT là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, thể hiện bản sắc của cộng đồng này so với cộng đồng khác, đồng thời sản phẩm tinh thần này không ngừng tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn sẽ giúp cho chúng tôi xác định các giá trị di sản VHPVT của làng mộc trong quá trình nghiên cứu và phân tích ở chương 2. 25 Làng nghề Làng nghề được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử phát triển của xã hội, với đặc trưng nền sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ và chế độ làng xã đã hình thành nên hình thức phân công lao động trong sản xuất. Nếu như trước đây, sản xuất nông nghiệp là chính và hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp chỉ là phụ trợ, thì nay nó đã có thể tách ra thành một nghề độc lập. Người nông dân trước kia chỉ chuyên làm nông kiêm thợ thủ công thì nay đã có thể trở thành thợ thủ công chuyên nghiệp hoặc bán chuyên kết hợp với làm nông.