PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Các làng bắt đầu bằng từ La là những làng cổ của Hà Tây cũ, Hà Nội mở rộng ngày nay. Ở đó chứa đựng nhiều di sản văn hóa dân gian, đặc biệt là truyền thuyết và lễ hội. Do vậy việc nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội cổ truyền ở các làng La có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong quá trình hình thành và lưu truyền, truyền thuyết không bao giờ chỉ tồn tại dưới dạng ngôn bản mà còn tồn tại cả trong diễn xướng. Trong khi đó các công trình sưu tầm và nghiên cứu về văn hóa ở địa phương hiện nay lại chưa chú ý đặc điểm này, do vậy mà các kết quả sưu tầm và nghiên cứu thường tách rời hai bộ phận truyền thuyết và lễ hội. Như vậy là không đúng với bản chất của sự ra đời và lưu truyền của chúng. Chúng tôi mong muốn, với kết quả nghiên cứu của mình, luận văn Truyền thuyết và lễ hội cổ truyền ở các làng La sẽ góp phần bổ sung một chút ít tư liệu cho việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung ở một số làng cổ của Hà Tây cũ, Hà Nội mở rộng ngày nay.
Hi vọng, đây sẽ là một đóng góp nhỏ góp để hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đồng thời cũng làm sáng rõ một luận điểm mà trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V khóa VIII về việc "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" đã nêu rõ: "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống" [21, tr. Hiện nay các công trình nghiên cứu, sưu tầm truyền thuyết, lễ hội đã có những bước phát triển đáng kể song ở các địa phương còn ít được quan tâm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bối cảnh chung đó, truyền thuyết và lễ hội cổ truyền ở các làng La cũng không là ngoại lệ.
Là một giáo viên vừa sinh sống vừa giảng dạy trên vùng đất của các làng La xưa kia thì việc nghiên cứu và tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội cổ truyền nơi đây với tôi có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp tôi không chỉ hiểu rõ hơn vốn văn học dân gian của quê hương mình nói riêng mà còn hiểu đúng và sâu hơn văn hoá dân gian của đất nước mình nói chung. Hy vọng rằng với sự vận dụng vốn kiến thức của mình trong luận văn này vào việc dạy học, tôi có thể giúp các em hiểu và yêu quê hương mình hơn, từ đó có những ứng xử đúng đắn, và có thái độ trách nhiệm hơn với quê hương chung của tôi và các em. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các làng có từ La đứng đầu ở Hà Tây cũ, Hà Nội mở rộng ngày nay rất nhiều, chỉ tính riêng ở quận Hà Đông và huyện Hoài Đức có tới 8 làng.
Trong luận văn này chúng tôi chỉ chọn truyền thuyết và lễ hội của ba làng: La Cả, La Dương, La Phù Truyền thuyết về thành hoàng làng và một số lễ hội tiêu biểu liên quan tới các thành hoàng làng La Cả, La Dương, La Phù. Thống kê, giải mã các motif, tìm hiểu vai trò của các motif trong việc tạo nên type (kiểu) truyện trong truyền thuyết về các thành hoàng làng La Cả, La Dương, La Phù. Khảo tả lại các lễ hội tiêu biểu ở các làng La Cả, La Dương, La Phù một cách cụ thể và toàn diện. - Phạm vi nghiên cứu: Những truyền thuyết về các thành hoàng làng La Cả, La Dương, La Phù.
(đã công bố và do tác giả sưu tầm bổ sung) 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lễ hội thờ cúng các thành hoàng làng La Cả, La Dương, La Phù. Giới thuyết một số khái niệm và lịch sử vấn đề 3. Giới thuyết một số khái niệm Trong luận văn này, chúng tôi xin giới thuyết một số khái niệm cơ bản sẽ sử dụng trong đề tài.1 Truyền thuyết Truyền thuyết ở Việt nam có từ khá sớm (Thế kỉ XIV, XV). Tuy nhiên thuật ngữ truyền thuyết và việc giới thiệu nó lại ra đợi lại khá muộn, vào khoảng giữa thế kỉ XX.
Năm 1961, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học sư phạm Hà Nội, tác giả Đỗ Bình Trị thừa nhận truyền thuyết là một thể loại và đã đưa ra định nghĩa về nó: “Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử”[97, tr. Báo Nhân dân số 549 ngày 29 tháng 4 năm 1969 có đăng bài của Nhân ngày Giỗ Tổ vua Hùng của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bài báo đã nêu ra vấn đề mẫu chốt của truyền thuyết là mối quan hệ giữa lịch sử và truyền thuyết: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu còn ưa thích”.48-49] Năm 1969, trong công trình Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, tác giả Kiều Thu Hoạch có nêu khái niệm về truyền thuyết: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân, mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn, nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng ” [34, tr.18-19] Năm 1971, trong công trình Truyền thống anh hùng trong loại hình tự sự dân gian, tác giả Phan Trần có bài Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử đã nêu định nghĩa về truyền thuyết: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử. Những nhân vật sự việc đó được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân”.14] Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, Giáo sư Lê Chí Quế, trong giáo trình Văn học dân gian Việt nam, phần Truyền thuyết đã đưa ra định nghĩa về thể loại truyền thuyết, phân loại và phân tích dẫn chứng cụ thể, từ đó người đọc đã thấy được rõ hơn bộ mặt chung của thể loại truyền thuyết: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì”[57, tr.2 Lễ hội cổ truyền Lễ hội cổ truyền là lễ hội đã trở thành truyền thống.
Đó là lễ hội được truyền từ năm này qua năm khác, đời này qua đời khác, lặp đi lặp lại theo một chu kì nhất định, trở thành quy luật. Lễ hội cổ truyền có thể có những tên gọi khác nhau như: lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian,. Gọi như vậy là để phân biệt với lễ hội hiện đại. Lễ và hội là hai khái niệm khác nhau.
Theo Lê Văn Kì và Lê Trung Vũ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong công trình Lễ hội cổ truyền thì các khái niệm này được hiểu như sau: Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm thể hiện lòng tôn kính của dân làng đối với vị thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thành hoàng nói riêng. Đồng thời cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo. Nếu như lễ là một hệ thống tĩnh có tính qui phạm nghiêm ngặt thì hội là một sinh hoạt dân dã phóng khoáng diễn ra trên các bãi sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt các trò, tục hấp dẫn do mình chủ động tham gia. Hội là một hệ thống các trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng.
Hội là sự vận động hối hả liên tục từ các trò chơi, trò diễn đến cả màu sắc, trạng thái, âm thanh.Trong luận văn này chúng tôi hiểu khái niệm lễ hội cổ truyền theo cách hiểu trên.3 Làng và văn hoá làng 3.1 Làng Làng là đơn vị tụ cư cổ truyền ở nông thôn người Việt, một kết cấu cư trú, kinh tế, xã hội, văn hoá đa dạng, một trong ba khâu quan trọng của cấu trúc xã hội truyền thống, nối liền nhà với nước. Làng xuất hiện rất sớm, từ thời Hùng Vương dựng nước, gọi là chạ, trải qua một lịch sử phát triển và biến đổi lâu dài. Bên cạnh việc thi hành luật pháp của nhà nước, làng có lệ làng, có hương ước và khoán ước; giữa một số làng như ở Miền Bắc có tục kết chạ. Làng còn giữ một số yếu tố dân chủ, thô sơ thể hiện trong bầu cử, bãi miễn các chức vụ lí dịch và bộ máy tự quản.
Mỗi làng có đình thờ thành hoàng, thường là người có công chống giặc ngoại xâm hay có công chiêu dân lập ấp, hoặc là các vị tổ sư các ngành nghề thủ công. Làng có những sinh hoạt văn hoá cộng đồng, thể hiện trong các lễ hội, các trò chơi dân gian.2 Văn hoá làng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm văn hoá làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với ba đặc trưng cơ bản: ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá, lối sống, đạo đức.