Chương Ill: Chức năng của so sánh nghệ thuật trong ca dao Nam Bộ |, Chức nang nhận thức. 2,Chức năng biểu cảm, 3, Chức nang thẩm mi. x = a PHAN BA :KẾT LUẬN Tư liệu tham khảo. Luận vin tốt nghiện Trang 8 NỘI DUNG Chương |: KHÁI NIỆM SO SÁNH NGHỆ THUẬT Khi nói về nghệ thuật so sánh, nếu không cẩn thận chúng ta rất dễ đi đến sự nhầm lẫn với so sánh logic.
Vì các yếu tố của so sánh logic và so sánh tu từ rất giống nhau, nhưng về bản thân thì hai biện pháp tu từ này khác nhau. Chúng giống nhau ở chỗ cũng g6m hốn yếu tổ, nếu ở dạng thức đẩy đủ: cái so sánh; cứ sở so sánh; từ so sánh; cái được so sánh. Để hiểu rõ thế nào là so sánh tu từ, thé nào 1A so sánh logic cho thuận tiện trong việc nghiền cứu luận văn, chúng tôi sẽ lan lượt làm rõ khái niệm của mỗi loại. So sảnh logic ; So sánh logic là sự nhận định về sự giống hay khác nhau của hai sự vat cùng loại về một, đặc trưng, tính chất nào đó.
Vidu - Chị A cao bằng chị T Nói như vậy nghĩa là đã công nhận chi A va chị T cao như nhau, không ai cao hơn ai và cũng không ai thấp hơn. Đáng chú ý là ở so sánh logic, các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của nó là nhằm xác lập mối liên hệ giữa hai đối tượng. Chính vì chúng là hai đối tượng cùng loại nên giữa ching có rất nhiều thuộc tinh chung VÍ dâu : Anh A cao hơn anh B Nó hơn chị tôi hai tuổi Trong phép so sánh nay, A và B thường cùng loại. Người ta thườnng so sánh chiéu cao cùng người với người để thấy ai cao, ai thấp, so sánh tuổi của người với người xem ai nhiều, ai ít chứ không so sánh với những đối tượng có tinh trifu tượng, khác loại.
Đặc biết, ở so sánh logic có thể vắng yếu tế cái được so sánh mà không gây ảnh hưởng đến nghĩa của câu. Đây là đều rất hiểm khi gặp ở so sánh tu Lừ. Luận văn tắt nghiện Trang 9 Vĩ dụ : A cao hơn Hoặc vắng cả hai từ so sánh và cái được so sánh, chúng ta có phát ngôn : Vid : Nó cao. Bo là những phát ngỗn so sắnh trifu tượng, trong đó cái được so sánh được coi là hàm ẩn, Cách nói như vậy vẫn làm người đọc, người nghe hiểu được đối tượng mà người nói muốn so sánh đến trong hoàn cảnh nhất định.
Lưu ý rằng khi khôi phục, vị trí của yếu tố được so sánh sẽ cùng loại với cái so sánh. “ A cao hơn ” được hiểu trong hoàn cảnh nhất định sẽ được khôi phục là : A cao hơn anh { em, chị. Và “Nó cao” tức là “Nó cao hơn độ cao trung bình của những người loại ( tuổi , dân P tác. )nhưnó” r Điểm góp phan làm nên sự khác nhau giữa so sánh logic và so sánh tu từ là ở so sánh logic, tính hình tượng, tính biểu cảm, tính thẩm mỹ, nghệ thuật không được chú ý, không phải là mục đích chính của so sánh logic.
So sắnh tu từ : Nếu ở so sánh logic đối tượng đưa ra so sánh là cùng loại thì với so sánh tu tử, cái so sánh va cái được so sánh thuộc những loại khắc nhau và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm cùa từng đối tượng. Chính do mục đích này mà các phép so sánh tu từ ít nhiều đều ” khập khiéng”, đều mang tinh chất khoa trương. Chang hạn, làm sao có thể do được, đếm được tình cảm con người một cách cụ thể nhưng ca dao vẫn nói: Cây đa rụng lá day đình Bao nhiêu lá rụng thương mình bấy nhiêu ( TLI, 208 } Về mặt hình thức, so sánh tu từ khác với mọi biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng ở chỗ bao gid cũng công khai phô bay hai về : - Về so sánh (tam gọi là A) - Vé được so sánh ( tạm gọi là B ) Luận văn tốt nghiệp Trang, 10 Vé A còn được gọi là chủ thể so sánh và vế B là đối tượng so sánh '/Z A và B được nốt với nhau bằng cơ sở so sánh và từ ngữ so sánh. Từ ngữ so ánh thường gặp nhất là: như; giả như; tỷ như.
Ví dụ : Gió đưa bụi chuối tùm lum Mẹ dữ như hùm, ai dám làm dâu. ( TL1, 464 ) Trong bài ca dao trên, chủ thể so sánh là: mẹ; cơ sở so sánh là: dit; tử ngữ so sánh là: như, đối tượng so sánh: hùm. Giữa A và B có một và chỉ cần một thuộc tính chung nên -ó thể dua / và B về cùng một loại, theo chính tiêu chí chung ấy. So sánh oghé thuật lá phép so sánh nhằm quy A và B vốn khác loại vào cùng một phạm vi theo tiêu chí chung.
Nói cách khác, đây là phép so sánh để tìm sự tương đồng,sự giống nhau, và chỉ sự giống nhau mà thôi, giữa những sự vật vốn khác nhau. Chính việc xác định một nét tương đồng nào đó đã gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc. Ví dụ - Áo anh lỗ rách bằng sàng Mẹ anh già yếu, cậy nàng vá may ( TLI, 175 ) Cách so sánh dân gian đã tạo ra một mối liên hệ giữa hai đối tượng rất gần gũi. Cái sàng là một dụng cụ rất quen thuộc đối với người nông dân nên khi đem so sánh chiếc áo rách với cái sàng sẽ giúp họ hình dung được hình ảnh chiếc áo đã rách quá nhiều, rách tả tơi.
Cách so sánh như vậy làm chúng ta thấy quen thuộc và dễ hiểu khi tiếp nhận bài ca dao trên, Ở so sánh logic, vế B có thể vắng mặt nhưng với so sánh tu từ thì nó phải luôn tổn tại, không thể thiếu trong quá trình dién đạt. Đây là yếu tố quan trọng để tạo nên sự tổn tại của so sánh tu từ. Không có vế được so sánh thì không có đối tượng so sánh, mà không có đối tượng so sánh thì không thể tìm ra được điểm giống nhau hay khác nhau. Vì vậy B không thể vắng mặt.
So sánh nghệ thuật còn mang tính biểu cảm, tính hình tượng thông qua ấn tượng mà vật đại điện cho thuộc tính mang lại. Ví dụ Đôi ta mới ngộ một lần Như lúa ngoài đồng gặp trận mưa đêm ( TL1, 406 ) Tác giả dân gian so sánh cuộc gặp gỡ lan đầu của một người con trai và một người con gái “ như lúa ngoài đồng gặp trận mưa đêm”. Câu thứ hai là cái hồn cho cả bài ca dao. Cái hồn ấy chính là con người, là một cặp nam ni Luận văn tốt nphiệp Trang 11 đang bước vào tình yêu với tâm hồn đầy sức sống, đầy hân hoan.
Bài ca dao đã sử dụng hình ảnh lúa ngoài đồng gặp trận mưa đêm mát mẻ để làm bật lên hình tượng đôi trai gái đang tràn ngập hạnh phúc đang được tắm mát trong niềm đam mê khi mới vừa gặp nhau. Ngoài ra ,so sánh tu từ còn mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân, của tác giả , của từng vùng, từng dân tộc. Chẳng hạn so sánh trong câu ca dao : Em như quả xoài trên cây, Gió đông, gió tây, gío nam, gió bắc. Chẳng biết phương nào cho đắc với em ( TL2, 396 ) Cô gái được đưa ra so sánh với hình ảnh “ quả xoài “.
Đây là hình ảnh hết sức gần gũi, quen thuộc và đặc thù của vùng đất Nam Bộ. Trong khi ca đao các mién khác dùng những hình ảnh của lúa giữa đồng, quả bí trên cây, cây quế, cây hổng, để nói đến người phụ nữ thì ca dao Nam Bộ lại dùng hình ảnh cây xoài. Quả xoài là một loại quả rất phổ biến ở Nam Bộ. Cách so sánh như vậy cũng nhằm nhấn mạnh thân phận lơ lửng của người phụ nữ.
Hình ảnh so sánh khác lạ như thế đã tạo nên được nét riêng biệt, đậm dấu ấn của vùng đất Nam Bộ. Do mang đậm chủ ý, cảm tính của người sáng tác nên ở so sánh tu từ đã xảy ra hiện tượng đa nghĩa của ngôn ngữ Ví dụ : Thân em như trái bần trôi Sóng dập gió bồi biết tấp vào đâu ? ( TLI, 378 ) Trong bài ca đao này, “ trái bẩn trôi “ dude xem là chuẩn để so sánh thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũng lênh đênh, lận đận trong dòng đời mà không tìm được hướng đi. Đây quả là một kiểu so sánh thật hình tượng, nó đòi hỏi người đọc, người nghe phải có môt ý niệm chung về hình ảnh trái bẩn. Hình ảnh ấy biểu thị cho đều gì ? Và tại sao lại đem thân phân người phụ nữ so sánh với hình ảnh ấy ? Hai hình ảnh thuộc về hai đối tượng khác nhau, thế mà khi đọc lên vẫn tạo cho chúng ta cảm giác như chúng có một vài điểm nào đó giống nhau khiến cho cái so sánh và cái được so sánh như đồng nhất với nhau.
Nếu so sánh logic, từ so sánh khi thay đổi có thể làm giá trị nghĩa của câu hoàn toàn biến đổi thì trong so sánh tu từ, khi ta thay đổi các từ so sánh này bằng các từ so sánh khác vẫn không làm nội dung cơ bản thay đổi mà chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa. VÍ dụ : Luân văn tốt nghiệp Trang 12 Anh vé kiếm vợ cho xong Em là con tép nhỏ lộn song khó tìm. ( TLI, 173) Nếu thay “ là” bằng “như là” thì nội dung cơ bản của bài ca dao vẫn để nói về thân phận người phụ nữ, nhưng khi ta thay đổi như vậy sẽ làm cho bài ca dao từ sắc thái khẳng định chuyển sang gia định. Sở dĩ có sự thay đổi yếu tố quan hệ so sánh bằng giá trị khác mà nghĩa không thay đổi vì ở đây cái so sánh và cái được so sánh khác loại nên phép so sánh chỉ nói về sự giống nhau, sự tương đồng.