Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở nước ngoài Ẩn dụ được nghiên cứu từ thời cổ đại. Aristotle (384 - 322 TCN) là một trong những học giả đầu tiên nghiên cứu về ẩn dụ.
Chính vì vậy, A. Ortony nhận 8 định rằng: “Bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào về ẩn dụ hầu như bắt buộc phải bắt đầu với những tác phẩm của Aristotle” [156, tr. Aristotle xem ẩn dụ là hình thức trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và thuật hùng biện bằng phương thức chuyển nghĩa. Từ quan niệm của Aristotle, ngôn ngữ học truyền thống xem ẩn dụ là một phương thức phát triển nghĩa mới của từ (ẩn dụ từ vựng) hoặc là một biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ).
Tư tưởng khởi thủy về ẩn dụ của Aristotle đã ảnh hưởng trong suốt 20 thế kỷ. Phải đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng tri nhận (congnitive revolution) tạo ra khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), nhưng đến năm 80 thì lý thuyết mới về ẩn dụ mới chính thức được nhìn nhận - lý thuyết ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor theory). Ẩn dụ được quan niệm không chỉ là một phương tiện tu từ dùng trong thơ ca, mà còn là một phương thức tri nhận thế giới của con người. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, những tư tưởng mang tính đột phá về ẩn dụ đã được hai tác giả I.
Black bàn luận trước đó (1936, 1955). Bởi lẽ, về thực chất, hai tác giả này quan niệm ẩn dụ là một phương tiện tri nhận. Trong tiểu luận The Philosophy of Rhetoric (Triết học tu từ), I. Richards (1936) đã đưa ra thuyết tương tác (interaction theory) trong quá trình nghiên cứu ẩn dụ.
Quan niệm này tiêu biểu cho một hướng tiếp cận mới vượt qua giới hạn của nghiên cứu ẩn dụ trước đó. Richards quan niệm ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ, mà ẩn dụ còn có tính tư tưởng và hành vi của con người. Cách tiếp cận mới về ẩn dụ của I. Richards thể hiện ở ba điểm quan trọng: 1.
ẩn dụ là một nguyên tắc của ngôn ngữ xuất hiện rộng khắp; 2. ý nghĩa của ẩn dụ là kết quả của sự tương tác giữa cái ẩn dụ và cái được ẩn dụ trong tư duy con người; 3. ẩn dụ là một vấn đề của tư duy, kết quả của sự tương tác giữa tư duy và ngữ cảnh [158, tr. Richards đề xuất hai thuật ngữ có tính kỹ thuật cho hai phần căn bản của ẩn dụ: Tenor và Vehicle.
Tenor là “ý tưởng cơ bản hoặc chủ đề chính”, vehicle là phương tiện mô tả tenor. Nói cách khác, “tenor” là “ý tưởng gốc” (original idea), “vehicle” là “ý tưởng phái sinh” (borrowed idea). Cùng tương tác với nhau, chúng tạo ra ý nghĩa; không có sự chuyển nghĩa ở cấp độ từ từ nghĩa đen sang nghĩa bóng. 9 Chúng ta có thể mượn ví dụ của M.
Black để chứng minh cho điều này, trong trường hợp của một phép ẩn dụ đơn giản, “con người là chó sói” (man is a wolf), ý tưởng gốc “con người” được miêu tả thông qua ý tưởng phái sinh “chó sói”. Richards đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngữ nghĩa. Với ba luận điểm của mình, I. Richards đã thành công trong việc gợi mở một hướng tiếp cận mới về ẩn dụ.
Tuy nhiên, phải gần 20 năm sau, qua sự kế thừa và phát triển của M. Black, nghiên cứu về ẩn dụ mới tạo được một bước ngoặt thực thụ. Black cho xuất bản tiểu luận Metaphor trình bày ba quan điểm về ẩn dụ hoạt động như thế nào (three views of how metaphors operate). Đó là quan điểm thay thế (the substitution view), quan điểm so sánh (the comparison view) và quan điểm tương tác (the interaction view).
Tiểu luận này có lẽ đánh dấu một bước chuyển biến thực sự trong cái nhìn về ẩn dụ. Theo quan điểm thay thế, ẩn dụ được dùng để truyền đạt cái ý mà về nguyên tắc có thể được biểu hiện một cách trực tiếp bằng nghĩa đen. Chẳng hạn, ẩn dụ “Richards là một con sư tử” (Richards is a lion) có nghĩa là “Richards dũng mãnh”. Bản chất của ẩn dụ là sự tương đồng giữa những từ “sư tử” (lion) và “dũng mãnh” (brave).
Quan điểm về sự thay thế cho rằng ẩn dụ là yếu tố hoa mĩ, thay thế cho một tên gọi bình thường với hiệu quả tu từ ẩn bên trong mà không mang đến cho câu nói một nhận thức nào mới. Còn với quan điểm so sánh, M. Black cho rằng đó là trường hợp đặc biệt của quan điểm thay thế. “Ẩn dụ bao gồm trong đó việc trình hiện sự tương tự hay tương đồng cơ bản, do đó nói rõ điều gì về từng phần của ẩn dụ” [133, tr.
Black bài bác quan điểm cũ dưới ảnh hưởng của Aristotle về ẩn dụ dựa trên sự so sánh và thay thế. Black, quan điểm so sánh thực ra chỉ là một trường hợp đặc biệt của quan điểm thay thế, vốn xuất phát từ quan điểm về sự tương tự của Aristotle. Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của quan điểm thay thế và quan điểm so sánh, M. Black đề xuất một quan điểm mới về ẩn dụ - quan điểm tương tác.
10 Theo quan điểm tương tác của M. Black, ẩn dụ hoạt động bằng cách gắn đặc tính của những “hàm ý kết hợp” vào chủ đề chính, tức là “tenor”. Black còn đưa ra một luận cứ đầy thách thức đối với quan điểm cố hữu: ẩn dụ gần như tạo ra sự tương tự giữa những sự vật thay vì chỉ hình thành trên những tương tự có sẵn. Black tóm tắt bản chất của quan điểm tương tác qua 7 luận điểm sau: (1) Ẩn dụ có hai chủ thể khác biệt nhau: một chủ thể “chính” (principal) và một chủ thể “phụ” (subsidiary).
(3) Cơ chế ẩn dụ thể hiện ở chỗ chủ thể chính được kèm theo một hệ thống đặc trưng của “những hàm ngôn liên tưởng” (associated implications) có liên hệ với chủ thể phụ. (4) Những hàm ngôn này chính là những liên tưởng đã được thừa nhận trong ý thức của người nói, chúng liên hệ với chủ thể phụ, nhưng trong một số trường hợp, đó có thể là những hàm ngôn không chuẩn (deviant implications) được khám phá bởi nhà văn/nhà thơ. (5) Ẩn dụ dưới dạng hàm ngôn chứa đựng những phán đoán về chủ thể chính có thể ứng dụng cho chủ thể phụ. (6) Điều đó kéo theo những thay đổi trong nghĩa của những từ thuộc cùng nhóm hay cùng hệ thống với biểu thức ẩn dụ.
Một số trong những thay đổi đó có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ. (7) Nói chung, không có những sự “gán ép” nào bắt buộc đối với sự thay đổi về nghĩa, không có quy tắc chung nào cho phép giải thích tại sao một số ẩn dụ có thể chấp nhận sự thay đổi nghĩa, số khác thì không [133, tr. Như vậy, quan điểm của M. Black khác với quan điểm cũ dưới ảnh hưởng của Aristotle về ẩn dụ dựa trên sự so sánh và thay thế.
Black, ẩn dụ gần như tạo ra sự tương tự giữa những sự vật, thay vì chỉ hình thành trên những tương tự có sẵn. Ông cho rằng: trong ngữ cảnh của một phát ngôn mang tính ẩn dụ, hai 11 chủ thể “tương tác” theo các cách sau: (a) sự hiện diện của chủ thể chính (the primary subject) tác động làm người nghe lựa chọn một số thuộc tính của chủ thể phụ (secondary subject’s properties); và (b) “lôi cuốn” người nghe đặt ra một hàm ý phức hợp tương ứng mà nó có thể phù hợp với chủ thể chính; và (c) diễn tả quan hệ tương hỗ, đem lại sự thay đổi tương ứng ở chủ thể phụ. Chẳng hạn, ẩn dụ Con người là chó sói (Man is a wolf) có chủ thể chính là con người và chủ thể phụ là chó sói. Sự hiện diện của chủ thể chính con người làm cho ta lựa chọn một số thuộc tính ở chủ thể phụ, từ đó xây dựng một ý nghĩa tương ứng và phù hợp với ý nghĩa của chủ thể chính, như dã man, sẵn sàng cắn xé nhau để giành miếng ăn… Những thuộc tính ấy xuất hiện ở từ chó sói.
Qua đó, những hiểu biết của chúng ta về cả hai đối tượng con người - chó sói cũng được xem xét trong quan hệ tương tác. Black là ông đã thấy được quá trình và phương thức sản sinh ý nghĩa ẩn dụ, đặt ý nghĩa ẩn dụ và ngữ cảnh trong mối quan hệ gắn bó mật thiết. Cách tạo nghĩa của ẩn dụ là dùng ý nghĩa chủ thể phụ xây dựng nên ý nghĩa chủ thể chính. Quan niệm của M.
Black là một bước ngoặt thực thụ, chuyển việc nghiên cứu ẩn dụ là một biện pháp tu từ sang ẩn dụ là một phương thức tri nhận. Từ nửa sau thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới có những thay đổi cơ bản. “Những năm này được đánh dấu bằng một mốc son chói lọi, đó là sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), con đẻ của cuộc cách mạng tri nhận (congnitive revolution) diễn ra vào đầu những năm 50 ở Mỹ” [17, tr. Tuy nhiên, phải đến thập niên 80, hai tác giả G.
Johnson cho xuất bản công trình Metaphors We Live By thì ngôn ngữ học tri nhận mới thực sự bùng nổ. Trong khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được xem như một phương thức quan trọng để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng trong khả năng tư duy của con người. Từ 1980 đến nay, nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận gắn với những tên tuổi tiêu biểu, như G. Langacker, Fillmore, Sweetser, E.
Jackendoff, Goldberg, Regier, Narayanan, Feldman,… 12 Chính vì nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, ngôn ngữ học tri nhận được tri nhận sẽ là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong thế kỷ XXI. Trong khoảng gần 40 năm qua, lý thuyết về ẩn dụ phát triển mạnh mẽ và không ngừng được đào sâu, mở rộng, phong phú, đa dạng. Ẩn dụ được xem xét ở nhiều khía cạnh, như: 1. miền nguồn - miền đích; 2.
biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ; 3. ánh xạ nguồn - đích, 4. không gian pha trộn hay tích hợp ý niệm; 5. tri nhận và ngôn ngữ; 6.
cơ sở kinh nghiệm (nghiệm thân cơ thể, nghiệm thân tự nhiên, nghiệm thân xã hội); 7. lý thuyết thần kinh về ẩn dụ; 9. ẩn dụ hình ảnh, lược đồ hình ảnh và ẩn dụ lược đồ hình ảnh; 10.