Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Trong Ca Dao Nam Bộ

Tài liệu nghiên cứu Luận văn ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

228
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC LƯỢC ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở nước ngoài

1.3. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở trong nước

1.4. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở các lĩnh vực ngoài ca dao Nam Bộ

1.5. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ

1.6. Những khái niệm cơ bản về ẩn dụ ý niệm

1.6.1. Khái niệm ẩn dụ ý niệm

1.6.2. Ẩn dụ ý niệm và biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ

1.6.3. Miền nguồn, miền đích và ánh xạ

1.6.4. Tương đồng và tương quan

1.6.5. Các loại ẩn dụ ý niệm

1.6.6. Cơ sở kinh nghiệm

1.6.7. Ẩn dụ ý niệm trong thơ ca

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CA DAO NAM BỘ

2.1. Ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN

2.2. Ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ TỰ NHIÊN

2.3. CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN

2.4. CON NGƯỜI LÀ THỰC THỂ TỰ NHIÊN

2.5. CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT

2.6. CON NGƯỜI LÀ CÁ

2.7. CON NGƯỜI LÀ CHIM

2.8. CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT

2.9. CON NGƯỜI LÀ TOÀN THỂ/BỘ PHẬN CÁI CÂY

2.10. GỐC CỦA CON NGƯỜI LÀ GỐC CỦA CÂY

2.11. TRỒNG NGƯỜI, VUN ĐẮP, XÂY DỰNG TÌNH CẢM LÀ GIEO HẠT, TRỒNG CÂY

2.12. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI LÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG SINH HỌC TỰ NHIÊN Ở THỰC VẬT/CỎ CÂY

2.13. PHẨM CHẤT, GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI LÀ THUỘC TÍNH, GIÁ TRỊ CỦA CÂY

2.14. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ

3.1. Ẩn dụ ý niệm DUYÊN

3.2. DUYÊN LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH)

3.3. DUYÊN LÀ SỰ VẬN ĐỘNG

3.4. DUYÊN LÀ SỢI DÂY

3.5. DUYÊN LÀ NGỌN LỬA

3.6. DUYÊN LÀ HÀNG HÓA

3.7. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU

3.8. TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH)

3.9. TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY

3.10. TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA hay TÌNH YÊU LÀ CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA

3.11. TÌNH YÊU LÀ GIA VỊ CỦA THỨC ĂN

3.12. TÌNH YÊU LÀ CÁI VÒNG

3.13. Ẩn dụ ý niệm SẦU

3.14. SẦU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH)

3.15. SẦU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ ĐƯỢC ĐỊNH LƯỢNG/ĐỊNH TÍNH

3.16. SẦU LÀ NƯỚC/MEN SAY

3.17. SẦU LÀ (THỰC THỂ) TÀN LỤI

3.18. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ẨN DỤ ĐỊNH VỊ TRONG CA DAO NAM BỘ

4.1. Ẩn dụ định vị, sắc thái đánh giá và ẩn dụ kéo theo

4.2. Ẩn dụ ý niệm CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC/TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC

4.3. CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC

4.4. TAM CƯƠNG LÀ TÍCH CỰC

4.5. HIẾU TRUNG/HIẾU NGHĨA LÀ TÍCH CỰC. NHÂN NGHĨA LÀ TÍCH CỰC

4.6. TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC

4.7. Ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC/KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC

4.8. HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC

4.9. KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC

4.10. Tiểu kết chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT VÀ TRÍCH DẪN

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Ca Dao Nam Bộ

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ, tư duy, cơ thể và não bộ mở ra một góc nhìn đa chiều về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và con người. Trải nghiệm của con người, cả hướng ngoại và hướng nội, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra ý nghĩa và hình thức của phát ngôn. Các nhà nhân học ngôn ngữ nghiên cứu ẩn dụ như những lược đồ văn hóa, gắn liền với cách chúng ta tri nhận và hiểu về thế giới. Ca dao Nam Bộ (CDNB) kế thừa và sáng tạo, phản ánh ý niệm của người Việt Nam Bộ về thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán xã hội. Các ý niệm này phần lớn mang tính ẩn dụ. Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ca dao Nam Bộ giúp khám phá kho tàng kinh nghiệm, văn hóa dân gian và phương thức tư duy của người Việt Nam Bộ.

1.1. Vai Trò Của Trải Nghiệm Trong Ẩn Dụ Ý Niệm

Trải nghiệm của con người, bao gồm cả thể chất, sinh lý, tâm lý và tâm linh, là nền tảng của ẩn dụ ý niệm. Nghĩa không phải là đặc trưng của phát ngôn mà là sản phẩm của sự tương tác giữa phát ngôn với trải nghiệm của con người. Điều này thể hiện ở bốn chiều quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với chính mình và quan hệ với những thế lực vô thể. Theo [134, tr. ], “ẩn dụ là lý thuyết dân gian về thế giới”.

1.2. Mối Quan Hệ Giữa Tư Duy Ngôn Ngữ Và Văn Hóa

Ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa của người Việt Nam Bộ. Đây là kết quả của quá trình trải nghiệm, nhận thức và cách nhìn thế giới của họ. Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm giúp chúng ta khám phá kho tàng kinh nghiệm, văn hóa dân gian được đúc kết, tích lũy, lưu trữ, chuyển giao và sáng tạo trong cộng đồng bản ngữ.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Ca Dao Nam Bộ

Việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ đối mặt với nhiều thách thức. Thứ nhất, cần xác định và phân loại chính xác các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ. Thứ hai, việc giải mã ý nghĩa sâu xa và ý niệm văn hóa ca dao đằng sau các biểu tượng trong ca dao đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn hóa và lịch sử địa phương. Thứ ba, việc liên kết các ẩn dụ với các mô hình tư duy và tri nhận của người Việt Nam Bộ là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp giữa ngôn ngữ học, văn hóa học và tâm lý học. Cuối cùng, cần có phương pháp tiếp cận phù hợp để phân tích và giải thích các ẩn dụ một cách khách quan và khoa học.

2.1. Xác Định Và Phân Loại Biểu Thức Ngôn Ngữ Ẩn Dụ

Thách thức đầu tiên là nhận diện và phân loại chính xác các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ trong ca dao Nam Bộ. Điều này đòi hỏi sự nhạy bén về ngôn ngữ và khả năng phân biệt giữa nghĩa đen và nghĩa bóng. Cần áp dụng các phương pháp phân tích ngôn ngữ học hiện đại để xác định các ẩn dụ một cách khách quan và có hệ thống.

2.2. Giải Mã Ý Nghĩa Sâu Xa Của Ẩn Dụ

Việc giải mã ý nghĩa sâu xa và ý niệm văn hóa ca dao đằng sau các ẩn dụ là một thách thức lớn. Điều này đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn hóa, lịch sử và phong tục tập quán của người Việt Nam Bộ. Cần phải xem xét các ẩn dụ trong bối cảnh văn hóa cụ thể để hiểu được ý nghĩa thực sự của chúng.

2.3. Liên Kết Ẩn Dụ Với Mô Hình Tư Duy

Liên kết các ẩn dụ với các mô hình tư duy và tri nhận của người Việt Nam Bộ là một nhiệm vụ phức tạp. Cần phải tìm hiểu cách người Việt Nam Bộ tư duy và cảm nhận về thế giới, và cách các ẩn dụ phản ánh những mô hình tư duy này. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa ngôn ngữ học, văn hóa học và tâm lý học.

III. Phương Pháp Phân Tích Ẩn Dụ Ý Niệm Trong Ca Dao

Luận án sử dụng quy trình phân tích ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ theo lược đồ 0. Quy trình này bao gồm các bước: nhận diện, khảo sát, thống kê các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ; nhận diện các miền ý niệm nguồn - đích; thiết lập cơ chế ánh xạ nguồn - đích; khái quát, phân tích tính tầng bậc của các ẩn dụ ý niệm; và tìm hiểu phương thức tư duy. Quy trình này được thực hiện trong sự tương tác liên ngành, có sự hỗ trợ của lý thuyết dân gian và lý thuyết khoa học.

3.1. Nhận Diện Và Thống Kê Biểu Thức Ngôn Ngữ Ẩn Dụ

Bước đầu tiên là nhận diện và thống kê các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ trong ca dao Nam Bộ. Luận án vận dụng thủ pháp nhận dạng ẩn dụ của nhóm Pragglejaz (thủ pháp MIP) và thủ pháp 5 bước của G. Sau khi nhận dạng được các biểu thức ẩn dụ, luận án sẽ thống kê, phân loại thành những loại ẩn dụ ý niệm khác nhau.

3.2. Thiết Lập Cơ Chế Ánh Xạ Nguồn Đích

Sau khi xác định được các miền ý niệm nguồn và đích, luận án sẽ thiết lập cơ chế ánh xạ giữa chúng. Cơ chế ánh xạ này cho thấy cách các thuộc tính của miền nguồn được chuyển sang miền đích, tạo ra ý nghĩa ẩn dụ. Việc phân tích cơ chế ánh xạ giúp hiểu rõ hơn về cách người Việt Nam Bộ tư duy và cảm nhận về thế giới.

3.3. Phân Tích Tính Tầng Bậc Của Ẩn Dụ Ý Niệm

Luận án phân tích tính tầng bậc của các ẩn dụ ý niệm để hiểu rõ hơn về cấu trúc và mối quan hệ giữa các ẩn dụ. Việc phân tích này giúp xác định các ẩn dụ cơ bản và các ẩn dụ phái sinh, cũng như cách các ẩn dụ này tương tác với nhau để tạo ra một hệ thống ý nghĩa phức tạp.

IV. Ứng Dụng Ẩn Dụ Cấu Trúc Con Người Trong Ca Dao

Chương này phân tích ẩn dụ cấu trúc có miền đích là CON NGƯỜI qua hai miền nguồn là THẾ LỰC SIÊU NHIÊN, TỰ NHIÊN. Các ẩn dụ này thể hiện cách người Việt Nam Bộ nhìn nhận và đánh giá về con người, cũng như mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh. Việc phân tích ẩn dụ cấu trúc giúp hiểu rõ hơn về hệ thống giá trị và quan niệm của người Việt Nam Bộ.

4.1. Con Người Là Thế Lực Siêu Nhiên

Một số ca dao Nam Bộ sử dụng ẩn dụ CON NGƯỜI LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN để thể hiện sức mạnh và khả năng phi thường của con người. Các ẩn dụ này thường liên quan đến các vị thần, thánh hoặc các nhân vật huyền thoại. Việc sử dụng ẩn dụ này cho thấy người Việt Nam Bộ tin vào tiềm năng to lớn của con người.

4.2. Con Người Là Tự Nhiên

Ẩn dụ CON NGƯỜI LÀ TỰ NHIÊN được sử dụng rộng rãi trong ca dao Nam Bộ để thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Các ẩn dụ này thường liên quan đến các hiện tượng tự nhiên như sông nước, cây cỏ, động vật. Việc sử dụng ẩn dụ này cho thấy người Việt Nam Bộ coi con người là một phần của tự nhiên.

4.3. Phân Tích Biểu Thức Ngôn Ngữ Ẩn Dụ

Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ có miền ý niệm nguồn là “thế lực siêu nhiên” và “tự nhiên” trong ca dao Nam Bộ cho thấy sự phổ biến của các ẩn dụ này. Việc phân tích các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ cụ thể giúp hiểu rõ hơn về cách người Việt Nam Bộ sử dụng ẩn dụ để diễn đạt ý niệm về con người.

V. Ẩn Dụ Bản Thể Duyên Tình Yêu Sầu Trong Ca Dao

Chương này phân tích ẩn dụ bản thể có miền ý niệm đích là DUYÊN, TÌNH YÊU và SẦU qua các miền nguồn tiêu biểu như VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH), SỰ VẬN ĐỘNG, SỢI DÂY, NGỌN LỬA, HÀNG HÓA, VẬT CHỨA/CHẤT LỎNG TRONG... Các ẩn dụ này thể hiện cách người Việt Nam Bộ cảm nhận và diễn đạt về những khái niệm trừu tượng này.

5.1. Duyên Là Vật Thể Chất Thể

Ẩn dụ DUYÊN LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) thể hiện quan niệm về duyên như một thứ hữu hình, có thể cảm nhận được. Các ca dao thường sử dụng hình ảnh vật thể để mô tả duyên, ví dụ như “duyên như tơ hồng”, “duyên như keo sơn”.

5.2. Tình Yêu Là Sợi Dây

Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY thể hiện sự gắn kết, ràng buộc giữa hai người yêu nhau. Các ca dao thường sử dụng hình ảnh sợi dây để mô tả tình yêu, ví dụ như “tình yêu như sợi chỉ mành”, “tình yêu như dây tơ hồng”.

5.3. Sầu Là Nước Men Say

Ẩn dụ SẦU LÀ NƯỚC/MEN SAY thể hiện trạng thái u buồn, say sưa trong đau khổ. Các ca dao thường sử dụng hình ảnh nước hoặc men say để mô tả nỗi sầu, ví dụ như “sầu như nước lã”, “sầu như men rượu”.

VI. Ẩn Dụ Định Vị Đánh Giá Trong Ca Dao Nam Bộ

Chương này phân tích ẩn dụ định vị, sắc thái đánh giá và ẩn dụ kéo theo trong ca dao Nam Bộ. Các ẩn dụ này thể hiện cách người Việt Nam Bộ đánh giá về các khái niệm như CƯƠNG THƯỜNG, TIỀN TÀI, HẠNH PHÚC, KHỔ ĐAU. Việc phân tích ẩn dụ định vị giúp hiểu rõ hơn về hệ thống giá trị và quan niệm đạo đức của người Việt Nam Bộ.

6.1. Cương Thường Là Tích Cực Tiền Tài Là Tiêu Cực

Ẩn dụ CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC, TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC thể hiện quan niệm đề cao đạo đức, luân thường và coi trọng nhân nghĩa hơn vật chất. Các ca dao thường ca ngợi những người sống theo đạo lý và phê phán những người ham tiền tài.

6.2. Hạnh Phúc Là Tích Cực Khổ Đau Là Tiêu Cực

Ẩn dụ HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC, KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC thể hiện mong muốn về một cuộc sống hạnh phúc, an lành và tránh xa những khổ đau, bất hạnh. Các ca dao thường ca ngợi những điều tốt đẹp và phê phán những điều xấu xa.

6.3. Cơ Sở Kinh Nghiệm Của Ẩn Dụ Định Vị

Cơ sở kinh nghiệm của ẩn dụ CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC/TIÊU CỰC trong ca dao Nam Bộ phản ánh những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt Nam. Lược đồ hình ảnh TIỀN TÀI - NHÂN NGHĨA cho thấy sự đối lập giữa hai khái niệm này trong tư duy của người Việt Nam Bộ.

05/06/2025
Luận văn ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở nước ngoài Ẩn dụ được nghiên cứu từ thời cổ đại. Aristotle (384 - 322 TCN) là một trong những học giả đầu tiên nghiên cứu về ẩn dụ.

Chính vì vậy, A. Ortony nhận 8 định rằng: “Bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào về ẩn dụ hầu như bắt buộc phải bắt đầu với những tác phẩm của Aristotle” [156, tr. Aristotle xem ẩn dụ là hình thức trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và thuật hùng biện bằng phương thức chuyển nghĩa. Từ quan niệm của Aristotle, ngôn ngữ học truyền thống xem ẩn dụ là một phương thức phát triển nghĩa mới của từ (ẩn dụ từ vựng) hoặc là một biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ).

Tư tưởng khởi thủy về ẩn dụ của Aristotle đã ảnh hưởng trong suốt 20 thế kỷ. Phải đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng tri nhận (congnitive revolution) tạo ra khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), nhưng đến năm 80 thì lý thuyết mới về ẩn dụ mới chính thức được nhìn nhận - lý thuyết ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor theory). Ẩn dụ được quan niệm không chỉ là một phương tiện tu từ dùng trong thơ ca, mà còn là một phương thức tri nhận thế giới của con người. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, những tư tưởng mang tính đột phá về ẩn dụ đã được hai tác giả I.

Black bàn luận trước đó (1936, 1955). Bởi lẽ, về thực chất, hai tác giả này quan niệm ẩn dụ là một phương tiện tri nhận. Trong tiểu luận The Philosophy of Rhetoric (Triết học tu từ), I. Richards (1936) đã đưa ra thuyết tương tác (interaction theory) trong quá trình nghiên cứu ẩn dụ.

Quan niệm này tiêu biểu cho một hướng tiếp cận mới vượt qua giới hạn của nghiên cứu ẩn dụ trước đó. Richards quan niệm ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ, mà ẩn dụ còn có tính tư tưởng và hành vi của con người. Cách tiếp cận mới về ẩn dụ của I. Richards thể hiện ở ba điểm quan trọng: 1.

ẩn dụ là một nguyên tắc của ngôn ngữ xuất hiện rộng khắp; 2. ý nghĩa của ẩn dụ là kết quả của sự tương tác giữa cái ẩn dụ và cái được ẩn dụ trong tư duy con người; 3. ẩn dụ là một vấn đề của tư duy, kết quả của sự tương tác giữa tư duy và ngữ cảnh [158, tr. Richards đề xuất hai thuật ngữ có tính kỹ thuật cho hai phần căn bản của ẩn dụ: Tenor và Vehicle.

Tenor là “ý tưởng cơ bản hoặc chủ đề chính”, vehicle là phương tiện mô tả tenor. Nói cách khác, “tenor” là “ý tưởng gốc” (original idea), “vehicle” là “ý tưởng phái sinh” (borrowed idea). Cùng tương tác với nhau, chúng tạo ra ý nghĩa; không có sự chuyển nghĩa ở cấp độ từ từ nghĩa đen sang nghĩa bóng. 9 Chúng ta có thể mượn ví dụ của M.

Black để chứng minh cho điều này, trong trường hợp của một phép ẩn dụ đơn giản, “con người là chó sói” (man is a wolf), ý tưởng gốc “con người” được miêu tả thông qua ý tưởng phái sinh “chó sói”. Richards đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngữ nghĩa. Với ba luận điểm của mình, I. Richards đã thành công trong việc gợi mở một hướng tiếp cận mới về ẩn dụ.

Tuy nhiên, phải gần 20 năm sau, qua sự kế thừa và phát triển của M. Black, nghiên cứu về ẩn dụ mới tạo được một bước ngoặt thực thụ. Black cho xuất bản tiểu luận Metaphor trình bày ba quan điểm về ẩn dụ hoạt động như thế nào (three views of how metaphors operate). Đó là quan điểm thay thế (the substitution view), quan điểm so sánh (the comparison view) và quan điểm tương tác (the interaction view).

Tiểu luận này có lẽ đánh dấu một bước chuyển biến thực sự trong cái nhìn về ẩn dụ. Theo quan điểm thay thế, ẩn dụ được dùng để truyền đạt cái ý mà về nguyên tắc có thể được biểu hiện một cách trực tiếp bằng nghĩa đen. Chẳng hạn, ẩn dụ “Richards là một con sư tử” (Richards is a lion) có nghĩa là “Richards dũng mãnh”. Bản chất của ẩn dụ là sự tương đồng giữa những từ “sư tử” (lion) và “dũng mãnh” (brave).

Quan điểm về sự thay thế cho rằng ẩn dụ là yếu tố hoa mĩ, thay thế cho một tên gọi bình thường với hiệu quả tu từ ẩn bên trong mà không mang đến cho câu nói một nhận thức nào mới. Còn với quan điểm so sánh, M. Black cho rằng đó là trường hợp đặc biệt của quan điểm thay thế. “Ẩn dụ bao gồm trong đó việc trình hiện sự tương tự hay tương đồng cơ bản, do đó nói rõ điều gì về từng phần của ẩn dụ” [133, tr.

Black bài bác quan điểm cũ dưới ảnh hưởng của Aristotle về ẩn dụ dựa trên sự so sánh và thay thế. Black, quan điểm so sánh thực ra chỉ là một trường hợp đặc biệt của quan điểm thay thế, vốn xuất phát từ quan điểm về sự tương tự của Aristotle. Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của quan điểm thay thế và quan điểm so sánh, M. Black đề xuất một quan điểm mới về ẩn dụ - quan điểm tương tác.

10 Theo quan điểm tương tác của M. Black, ẩn dụ hoạt động bằng cách gắn đặc tính của những “hàm ý kết hợp” vào chủ đề chính, tức là “tenor”. Black còn đưa ra một luận cứ đầy thách thức đối với quan điểm cố hữu: ẩn dụ gần như tạo ra sự tương tự giữa những sự vật thay vì chỉ hình thành trên những tương tự có sẵn. Black tóm tắt bản chất của quan điểm tương tác qua 7 luận điểm sau: (1) Ẩn dụ có hai chủ thể khác biệt nhau: một chủ thể “chính” (principal) và một chủ thể “phụ” (subsidiary).

(3) Cơ chế ẩn dụ thể hiện ở chỗ chủ thể chính được kèm theo một hệ thống đặc trưng của “những hàm ngôn liên tưởng” (associated implications) có liên hệ với chủ thể phụ. (4) Những hàm ngôn này chính là những liên tưởng đã được thừa nhận trong ý thức của người nói, chúng liên hệ với chủ thể phụ, nhưng trong một số trường hợp, đó có thể là những hàm ngôn không chuẩn (deviant implications) được khám phá bởi nhà văn/nhà thơ. (5) Ẩn dụ dưới dạng hàm ngôn chứa đựng những phán đoán về chủ thể chính có thể ứng dụng cho chủ thể phụ. (6) Điều đó kéo theo những thay đổi trong nghĩa của những từ thuộc cùng nhóm hay cùng hệ thống với biểu thức ẩn dụ.

Một số trong những thay đổi đó có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ. (7) Nói chung, không có những sự “gán ép” nào bắt buộc đối với sự thay đổi về nghĩa, không có quy tắc chung nào cho phép giải thích tại sao một số ẩn dụ có thể chấp nhận sự thay đổi nghĩa, số khác thì không [133, tr. Như vậy, quan điểm của M. Black khác với quan điểm cũ dưới ảnh hưởng của Aristotle về ẩn dụ dựa trên sự so sánh và thay thế.

Black, ẩn dụ gần như tạo ra sự tương tự giữa những sự vật, thay vì chỉ hình thành trên những tương tự có sẵn. Ông cho rằng: trong ngữ cảnh của một phát ngôn mang tính ẩn dụ, hai 11 chủ thể “tương tác” theo các cách sau: (a) sự hiện diện của chủ thể chính (the primary subject) tác động làm người nghe lựa chọn một số thuộc tính của chủ thể phụ (secondary subject’s properties); và (b) “lôi cuốn” người nghe đặt ra một hàm ý phức hợp tương ứng mà nó có thể phù hợp với chủ thể chính; và (c) diễn tả quan hệ tương hỗ, đem lại sự thay đổi tương ứng ở chủ thể phụ. Chẳng hạn, ẩn dụ Con người là chó sói (Man is a wolf) có chủ thể chính là con người và chủ thể phụ là chó sói. Sự hiện diện của chủ thể chính con người làm cho ta lựa chọn một số thuộc tính ở chủ thể phụ, từ đó xây dựng một ý nghĩa tương ứng và phù hợp với ý nghĩa của chủ thể chính, như dã man, sẵn sàng cắn xé nhau để giành miếng ăn… Những thuộc tính ấy xuất hiện ở từ chó sói.

Qua đó, những hiểu biết của chúng ta về cả hai đối tượng con người - chó sói cũng được xem xét trong quan hệ tương tác. Black là ông đã thấy được quá trình và phương thức sản sinh ý nghĩa ẩn dụ, đặt ý nghĩa ẩn dụ và ngữ cảnh trong mối quan hệ gắn bó mật thiết. Cách tạo nghĩa của ẩn dụ là dùng ý nghĩa chủ thể phụ xây dựng nên ý nghĩa chủ thể chính. Quan niệm của M.

Black là một bước ngoặt thực thụ, chuyển việc nghiên cứu ẩn dụ là một biện pháp tu từ sang ẩn dụ là một phương thức tri nhận. Từ nửa sau thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới có những thay đổi cơ bản. “Những năm này được đánh dấu bằng một mốc son chói lọi, đó là sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), con đẻ của cuộc cách mạng tri nhận (congnitive revolution) diễn ra vào đầu những năm 50 ở Mỹ” [17, tr. Tuy nhiên, phải đến thập niên 80, hai tác giả G.

Johnson cho xuất bản công trình Metaphors We Live By thì ngôn ngữ học tri nhận mới thực sự bùng nổ. Trong khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được xem như một phương thức quan trọng để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng trong khả năng tư duy của con người. Từ 1980 đến nay, nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận gắn với những tên tuổi tiêu biểu, như G. Langacker, Fillmore, Sweetser, E.

Jackendoff, Goldberg, Regier, Narayanan, Feldman,… 12 Chính vì nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, ngôn ngữ học tri nhận được tri nhận sẽ là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong thế kỷ XXI. Trong khoảng gần 40 năm qua, lý thuyết về ẩn dụ phát triển mạnh mẽ và không ngừng được đào sâu, mở rộng, phong phú, đa dạng. Ẩn dụ được xem xét ở nhiều khía cạnh, như: 1. miền nguồn - miền đích; 2.

biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ; 3. ánh xạ nguồn - đích, 4. không gian pha trộn hay tích hợp ý niệm; 5. tri nhận và ngôn ngữ; 6.

cơ sở kinh nghiệm (nghiệm thân cơ thể, nghiệm thân tự nhiên, nghiệm thân xã hội); 7. lý thuyết thần kinh về ẩn dụ; 9. ẩn dụ hình ảnh, lược đồ hình ảnh và ẩn dụ lược đồ hình ảnh; 10.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Trong Ca Dao Nam Bộ" khám phá sâu sắc các ẩn dụ và ý niệm trong ca dao của vùng Nam Bộ, giúp người đọc hiểu rõ hơn về văn hóa và tâm tư của người dân nơi đây. Bằng cách phân tích các hình ảnh và biểu tượng trong ca dao, tài liệu không chỉ làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật mà còn phản ánh những khía cạnh xã hội và tâm lý của cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc nắm bắt các thông điệp sâu sắc, từ đó có thể áp dụng vào việc nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về ca dao và văn hóa dân gian, hãy tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu ca dao dân ca dưới góc nhìn bối cảnh trường hợp ca dao dân ca đồng bằng sông cửu long, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về bối cảnh văn hóa của ca dao. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca dao quảng ninh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các nhân vật và đối tượng trong ca dao, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của bạn về thể loại văn học này. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam đặc điểm ca dao đồng tháp sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa trong ca dao của Đồng Tháp, mở rộng thêm hiểu biết về sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam.