Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ" của tác giả Đào Duy Tùng được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Công Đức, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 62 22 02 40).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ luận điểm của ngôn ngữ học tri nhận: ẩn dụ không đơn thuần là biện pháp tu từ hay phương thức chuyển nghĩa từ vựng bề mặt, mà là một phương thức tư duy cơ bản giúp con người ý niệm hóa thế giới. Ẩn dụ ý niệm phản ánh mối quan hệ giữa ngôn ngữ với con người trên nhiều chiều kích: thể chất (physical), sinh lý (physiological), tâm lý (psychological) và tâm linh (spiritual). Ý nghĩa của phát ngôn là sản phẩm tương tác giữa ngôn ngữ và trải nghiệm của con người theo bốn chiều quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với chính bản thân và quan hệ với thế giới thần linh (những thế lực vô thể). Từ góc nhìn nhân học ngôn ngữ, ẩn dụ đóng vai trò như các lược đồ văn hóa (cultural schemata) và lý thuyết dân gian về kinh nghiệm (folk theories of experience). Kho tàng ca dao Nam Bộ hình thành cùng lịch sử khẩn hoang hơn 300 năm, vừa kế thừa các giá trị truyền thống của người Việt, vừa định hình những nét tư duy mới gắn liền với môi trường tự nhiên, sinh thái và văn hóa - xã hội vùng đất mới. Mặc dù công tác sưu tầm ca dao Nam Bộ đã được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX (năm 1888) và nhiều công trình nghiên cứu nội dung tư tưởng ra đời từ thập niên 60 và 80 của thế kỷ XX, nhưng hướng tiếp cận chuyên sâu về mặt ngôn ngữ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận vẫn còn là khoảng trống chưa được khảo sát toàn diện.

Mục đích nghiên cứu tối hậu của luận án là xác định hệ thống ý niệm ẩn dụ và làm sáng tỏ phương thức tư duy của người Việt Nam Bộ thông qua các biểu thức ngôn ngữ trong ca dao. Để hiện thực hóa mục đích này, tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Nhiệm vụ i: Nhận diện, khảo sát, thống kê các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ;
  • Nhiệm vụ ii: Nhận diện các miền ý niệm nguồn và miền ý niệm đích;
  • Nhiệm vụ iii: Thiết lập cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích;
  • Nhiệm vụ iv: Khái quát, phân tích tính tầng bậc của các ẩn dụ ý niệm;
  • Nhiệm vụ v: Tìm hiểu phương thức tư duy của cộng đồng bản ngữ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ, với đơn vị cơ sở là các ý niệm chi phối đời sống thường nhật: CON NGƯỜI, DUYÊN, TÌNH YÊU, SẦU, CƯƠNG THƯỜNG, TIỀN TÀI, HẠNH PHÚC, KHỔ ĐAU.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Vùng đất Nam Bộ.
  • Phạm vi thời gian ngữ liệu: Các tác phẩm ca dao được sản sinh, lưu truyền trong lịch sử khẩn hoang hơn 300 năm của vùng đất Nam Bộ, được sưu tầm, tuyển chọn trong các công trình xuất bản từ năm 1984 đến năm 2006.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung khảo sát các mô hình ánh xạ từ các miền nguồn THẾ LỰC SIÊU NHIÊN, TỰ NHIÊN (hiện tượng tự nhiên, thực thể tự nhiên, động vật, thực vật); VẬT THỂ/CHẤT THỂ (không được định danh), SỰ VẬN ĐỘNG, SỢI DÂY, NGỌN LỬA, HÀNG HÓA; cùng các sắc thái đánh giá TÍCH CỰC, TIÊU CỰC sang các miền đích kể trên, từ đó thiết lập ba loại hình: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định vị.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ở cả phạm vi quốc tế lẫn Việt Nam:

Ở nước ngoài, nghiên cứu ẩn dụ khởi đầu từ thời cổ đại với Aristotle (384 - 322 TCN), người xem ẩn dụ là phương tiện trang trí và nghệ thuật hùng biện thông qua chuyển nghĩa. Đến thế kỷ XX, quan điểm này bị thay thế bởi bước chuyển tri nhận. I. A. Richards (1936) trong tác phẩm The Philosophy of Rhetoric đề xuất thuyết tương tác (interaction theory) với hai thành tố căn bản là Tenor (ý tưởng gốc) và Vehicle (ý tưởng phái sinh), khẳng định ẩn dụ là một nguyên tắc bao trùm của ngôn ngữ và tư duy. Max Black (1955) trong tiểu luận Metaphor hệ thống hóa ba quan điểm: quan điểm thay thế (the substitution view), quan điểm so sánh (the comparison view) và quan điểm tương tác (the interaction view). Black bác bỏ hai quan điểm đầu và phát triển quan điểm tương tác qua 7 luận điểm, xem ẩn dụ tạo ra sự tương đồng giữa các sự vật thông qua hệ thống "hàm ngôn liên tưởng" (associated implications).

Bước ngoặt lớn diễn ra vào năm 1980 khi G. Lakoff và M. Johnson xuất bản công trình Metaphors We Live By, chính thức xác lập lý thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory - CMT). Các tác giả khẳng định hệ thống ý niệm của con người có bản chất ẩn dụ và bắt nguồn từ chủ nghĩa hiện thực kinh nghiệm (experiential realism). Tiếp đó, Z. Kövecses (2000, 2002, 2005, 2010) phát triển nghiên cứu ẩn dụ cảm xúc (Metaphor and Emotion), phân tích mô hình văn hóa/dân gian về cảm xúc qua kịch bản 5 giai đoạn: Nguyên nhân $\rightarrow$ Cảm xúc $\rightarrow$ Kiểm soát $\rightarrow$ Mất kiểm soát $\rightarrow$ Phản ứng hành vi (sau rút gọn thành: Nguyên nhân $\rightarrow$ Cảm xúc $\rightarrow$ (Kiểm soát) $\rightarrow$ Phản ứng), đồng thời lý giải tính phổ quát và đặc thù văn hóa của ẩn dụ dựa trên cơ sở thần kinh - cơ thể và trải nghiệm văn hóa - xã hội. Luận án cũng điểm lại lý thuyết ẩn dụ cơ sở (primary metaphor) của J. Grady (1997), mô hình thuật toán thần kinh của S. Narayanan (1997), lý thuyết thần kinh về ẩn dụ (neural theory of metaphor) và hiện tượng "liên kết thần kinh" (neural binding) của G. Lakoff, lý thuyết không gian pha trộn (blending theory) của G. Fauconnier và M. Turner (1998, 2002), các nghiên cứu ẩn dụ trong văn học, tục ngữ, thơ ca của Lakoff và Turner (1989, More Than Cool Reason), M. Turner (1987, 1996), R. Gibbs (1994), cùng các nghiên cứu nhân học, khảo cổ học tri nhận của E. Slingerland (2005), Wiseman (2007) và T. Gill (2011).

Tại Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận được Lý Toàn Thắng giới thiệu từ năm 1994 qua bài viết về tri nhận không gian, sau đó hoàn thiện trong chuyên luận Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (2005), chính thức xác lập thuật ngữ "tri nhận" và "ý niệm". Tiếp đó, Diệp Quang Ban (2008) thảo luận việc dịch thuật ngữ sang "nhận thức" và "khái niệm", trong khi Trần Văn Cơ (2006, 2007, 2009, 2010) kiên trì khẳng định tính khu biệt của "tri nhận" và "ý niệm", xuất bản chuyên khảo Khảo luận ẩn dụ tri nhận (2009) và phác thảo hướng nghiên cứu hình thái học tri nhận. Nguyễn Đức Tồn (2002, 2008, 2010) nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ và tư duy của người Việt qua thành ngữ, xác định bản chất tư duy cụ thể, hình tượng bắt nguồn từ văn hóa nông nghiệp lúa nước với hai đặc trưng thực vật và sông nước. Trịnh Sâm (từ 2002 đến 2016) tập trung làm sáng tỏ miền ý niệm sông nước, ý niệm tim, cùng tính phổ quát và đặc thù của các miền nguồn tiếng Việt. Nguyễn Đức Dân nghiên cứu các giới từ không gian theo nguyên lý dĩ nhân vi trung; Nguyễn Hòa phân tích sự ý niệm hóa thời gian dựa trên không gian.

Đối với ca dao Nam Bộ, tình hình nghiên cứu dưới lăng kính tri nhận trước thời điểm luận án chỉ ghi nhận bài viết của Trịnh Sâm về "Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Nam Bộ" và một số bài báo khảo sát ban đầu của chính tác giả Đào Duy Tùng về biểu tượng cá, chim, cang thường. Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện một công trình khảo cứu có hệ thống, toàn diện đầu tiên về ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ, mô hình hóa các cơ chế ánh xạ từ tư liệu ca dao để khám phá bản chất tư duy và văn hóa của người Việt Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng các khái niệm và nguyên lý nền tảng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm:

  • Khái niệm ẩn dụ ý niệm: Được công thức hóa dưới dạng "MIỀN Ý NIỆM A LÀ MIỀN Ý NIỆM B", phản ánh việc hiểu và trải nghiệm miền ý niệm này (thường trừu tượng, khó nắm bắt) thông qua miền ý niệm khác (thường cụ thể, quen thuộc).
  • Miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain): Miền nguồn có tính vật chất, cụ thể, dựa trên kinh nghiệm tri giác - vận động; miền đích mang tính trừu tượng, tâm lý, tình cảm hoặc luân lý.
  • Cơ chế ánh xạ (mappings): Là sự tương ứng mang tính hệ thống giữa các yếu tố thành phần của miền nguồn sang miền đích. Ánh xạ có tính đơn hướng (từ nguồn đến đích, không thể đảo ngược), tính cục bộ (chỉ ánh xạ một số thuộc tính nổi trội) và cơ chế làm nổi bật - che giấu (highlighting and hiding), nghĩa là khi làm nổi bật một số khía cạnh này sẽ đồng thời che giấu những khía cạnh khác của ý niệm.
  • Tương đồng và tương quan: Tác giả bác bỏ lý thuyết so sánh truyền thống vốn cho rằng ẩn dụ dựa trên sự tương đồng khách quan có sẵn. Dưới góc nhìn tri nhận, luận án khẳng định ẩn dụ dựa trên các tương quan trong kinh nghiệm, gồm hai loại: sự đồng hiện về kinh nghiệm (experiential cooccurrence) và sự tương đồng về kinh nghiệm (experiential similarity) do chính ẩn dụ tạo ra.
  • Ba loại ẩn dụ theo chức năng tri nhận (G. Lakoff và M. Johnson): Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor), ẩn dụ bản thể (ontological metaphor) và ẩn dụ định vị (orientational metaphor).
  • Ba luận điểm phương pháp luận nghiệm thân (Lakoff & Johnson, 1999) được vận dụng xuyên suốt:
    1. Tâm trí vốn dĩ là nghiệm thân (the mind is inherently embodied);
    2. Tư duy hầu hết là vô thức (thought is mostly unconscious);
    3. Các ý niệm trừu tượng phần lớn là ẩn dụ (abstract concepts are largely metaphorical).

Về phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:

  • Thủ pháp nhận dạng ẩn dụ ý niệm: Vận dụng thủ pháp nhận diện từ ngữ ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) của nhóm Pragglejaz (2007) kết hợp thủ pháp 5 bước của Gerard Steen (G. Steen) để xác định biểu thức ẩn dụ từ văn bản.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Thu thập, phân loại và định lượng tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ theo từng miền nguồn và miền đích.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các thành tố ý niệm, thuộc tính tương tác và cơ chế ánh xạ; sau đó tổng hợp thành hệ thống nguyên lý tri nhận.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp ngôn ngữ học với triết học, tâm lý học, thần kinh học, y học và các tri thức, kinh nghiệm dân gian.
  • Phương pháp mô hình hóa: Xây dựng các lược đồ ánh xạ nguồn - đích, lược đồ hình ảnh và lược đồ thực thể.
  • Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa: Rút ra các đặc trưng tư duy, quy luật ý niệm hóa của cộng đồng từ các dữ liệu ngôn ngữ cụ thể.

Nguồn ngữ liệu khảo sát được trích xuất từ ba tuyển tập ca dao tiêu biểu:

  1. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb TP. Hồ Chí Minh (ký hiệu trích dẫn: NB);
  2. Khoa Ngữ văn, Đại học Cần Thơ (1999), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (phần ca dao - dân ca), Nxb Giáo dục (ký hiệu trích dẫn: CL);
  3. Huỳnh Ngọc Trảng (2006), Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, Nxb Tổng hợp Đồng Nai (ký hiệu trích dẫn: LT). Toàn bộ hệ thống ngữ liệu minh chứng được thống kê và lưu trữ tại tập Phụ lục đính kèm dài 194 trang của luận án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương này dành cho việc tổng thuật lịch sử nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trên thế giới từ thời cổ đại của Aristotle, qua thuyết tương tác của I. A. Richards và M. Black, đến sự hình thành của ngôn ngữ học tri nhận với G. Lakoff, M. Johnson, Z. Kövecses, J. Grady, G. Fauconnier, M. Turner. Tác giả cũng tổng thuật tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam qua các công trình của Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Đức Tồn, Trịnh Sâm, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Hòa. Trên cơ sở đó, chương 1 xác lập hệ thống lý luận công cụ gồm: bản chất của ẩn dụ ý niệm; sự phân biệt giữa ẩn dụ ý niệm và biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ; cấu trúc miền nguồn, miền đích và ánh xạ; tương đồng và tương quan kinh nghiệm; ba loại hình ẩn dụ (cấu trúc, bản thể, định vị); tính nghiệm thân và cơ sở kinh nghiệm; đặc điểm của ẩn dụ ý niệm trong thơ ca dân gian.

Chương 2. ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CA DAO NAM BỘ

Chương 2 tập trung phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích là CON NGƯỜI thông qua hai miền nguồn lớn: THẾ LỰC SIÊU NHIÊN và TỰ NHIÊN.

  • CON NGƯỜI LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN: Phản ánh thế giới quan tâm linh của người bình dân Nam Bộ, trong đó con người, thân phận, hành vi và các mối quan hệ được ánh xạ từ đặc tính của thần, phật, tiên, ma quỷ, bụt (được khảo sát tại Bảng 2.2).
  • CON NGƯỜI LÀ TỰ NHIÊN: Được phân chia thành các tiểu hệ thống dựa trên môi trường sinh thái sông nước và nông nghiệp Nam Bộ:
    • CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN: Ánh xạ từ nắng, mưa, gió, bão, con nước lớn, nước ròng, mây trời sang tâm trạng, biến cố cuộc đời (Bảng 2.3).
    • CON NGƯỜI LÀ THỰC THỂ TỰ NHIÊN: Ánh xạ từ dòng sông, con lạch, đất phù sa, bùn lầy, đá (Bảng 2.4).
    • CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT: Nổi trội là hai mô hình CON NGƯỜI LÀ CÁ và CON NGƯỜI LÀ CHIM. Đây là các sinh vật gắn chặt với môi trường sinh thái ngập nước Tây Nam Bộ, phản ánh các trạng thái thân phận (cá cắn câu, cá chậu chim lồng, chim quyên, cá bống).
    • CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT: Gồm các ánh xạ chi tiết: Con người là toàn thể/bộ phận cái cây; Gốc của con người là gốc của cây; Trồng người, vun đắp, xây dựng tình cảm là gieo hạt, trồng cây; Các giai đoạn phát triển của con người là sự tăng trưởng sinh học tự nhiên ở thực vật/cỏ cây; Phẩm chất, giá trị của con người là thuộc tính, giá trị của cây (thân cây dẻo dai, quả ngọt, hoa thơm, rễ bám sâu). Tần số của các biểu thức thuộc miền siêu nhiên và tự nhiên được tổng hợp tại Bảng 2.1.

Chương 3. ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ

Chương 3 khảo sát cách thức người bình dân Nam Bộ tri nhận các thực thể tinh thần, tâm lý và tình cảm vô hình, trừu tượng bằng cách vật thể hóa chúng thành các thực thể, chất thể có ranh giới, hình khối, thể tích hoặc lượng hóa được. Ba ý niệm đích trọng tâm được phân tích:

  • Ẩn dụ ý niệm DUYÊN: Tri nhận qua các miền nguồn: Duyên là vật thể/chất thể (không được định danh); Duyên là sự vận động (duyên đến, duyên đi, trôi nổi); Duyên là sợi dây (buộc, thắt, se, nối, đứt); Duyên là ngọn lửa (bén duyên, tàn nụ); Duyên là hàng hóa (mua duyên, bán duyên, đổi duyên, lỡ duyên). Tần số xuất hiện được thống kê ở Bảng 3.2.
  • Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU: Tri nhận qua các miền nguồn: Tình yêu là vật thể/chất thể (không được định danh); Tình yêu là sợi dây (dây tơ, chỉ hồng); Tình yêu là vật chứa hay Tình yêu là chất thể trong vật chứa (chứa chan, đầy, vơi, tràn); Tình yêu là gia vị của thức ăn (ngọt bùi, cay đắng, mặn mà, chua chát); Tình yêu là cái vòng (quẩn quanh, trói buộc, không lối thoát). Tần số xuất hiện được thống kê ở Bảng 3.3.
  • Ẩn dụ ý niệm SẦU: Tri nhận qua các miền nguồn: Sầu là vật thể/chất thể (không được định danh); Sầu là vật thể/chất thể được định lượng/định tính (khối sầu, gánh sầu, đo sầu, nặng sầu); Sầu là nước/men say (uống sầu, giọt sầu, say sầu); Sầu là (thực thể) tàn lụi (héo sầu, úa sầu). Tần số xuất hiện được thống kê ở Bảng 3.4. Bảng 3.1 tổng hợp toàn bộ các biểu thức ngôn ngữ của ba ý niệm bản thể này.

Chương 4. ẨN DỤ ĐỊNH VỊ TRONG CA DAO NAM BỘ

Chương 4 phân tích các ý niệm đạo đức xã hội và trạng thái cảm xúc dựa trên sự định hướng không gian (trên - dưới, gần - xa, trong - ngoài), trạng thái vận động, hình thể hình học (vuông, tròn) và trạng thái của vật chứa (đầy, vơi):

  • Cặp ý niệm CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC / TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC:
    • Cương thường được định vị theo các cấu trúc hình học trọn vẹn, bền vững: Tam cương là tích cực ("trọn tam cương"); Hiếu trung/hiếu nghĩa là tích cực ("tròn hiếu trung", "làm dâu không tròn"); Nhân nghĩa là tích cực ("nhân nghĩa vuông tròn", "nghĩa nhân như bát nước đầy").
    • Tiền tài bị định vị ở sắc thái tiêu cực: Tiền tài là hư vô, trôi nổi, dễ biến đổi, đặt thấp hơn giá trị luân thường đạo lý ("tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim").
  • Cặp ý niệm HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC / KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC:
    • Hạnh phúc gắn liền với định hướng hướng thượng (lên trên), sự rộng mở, tròn đầy, ấm áp, kết nối gần gũi.
    • Khổ đau gắn liền với định hướng hướng hạ (xuống dưới, chìm đắm), sự phân tán, đứt gãy, thiếu hụt, đắng cay và xa cách.

Bảng tổng hợp hệ thống các mô hình ẩn dụ ý niệm theo chương trong luận án:

Chương Loại hình ẩn dụ Miền ý niệm đích Miền ý niệm nguồn chính Biểu thức / Lược đồ tiêu biểu
Chương 2 Ẩn dụ cấu trúc CON NGƯỜI THẾ LỰC SIÊU NHIÊN Thần, phật, bụt, tiên, ma quỷ
CON NGƯỜI TỰ NHIÊN Hiện tượng tự nhiên (mưa, nắng, gió, dòng nước)
Thực thể tự nhiên (sông ngòi, bùn, đá, lạch)
Động vật (CÁ, CHIM)
Thực vật (gốc cây, cành lá, hoa quả, gieo trồng)
Chương 3 Ẩn dụ bản thể DUYÊN VẬT THỂ / CHẤT THỂ Vật thể vô danh, sự vận động, sợi dây, ngọn lửa, hàng hóa
TÌNH YÊU VẬT THỂ / VẬT CHỨA Sợi dây, chất thể trong vật chứa, gia vị thức ăn, cái vòng
SẦU VẬT THỂ / MEN SAY Vật thể định lượng/định tính, nước/men say, thực thể tàn lụi
Chương 4 Ẩn dụ định vị CƯƠNG THƯỜNG TÍCH CỰC (TRÒN / ĐẦY) "Trọn tam cương", "tròn hiếu trung", "bát nước đầy"
TIỀN TÀI TIÊU CỰC (HƯ VÔ / THẤP) Phấn thổ, trôi nổi, phù vân
HẠNH PHÚC TÍCH CỰC (HƯỚNG THƯỢNG) Bay lên, sum họp, ấm áp, no đủ
KHỔ ĐAU TIÊU CỰC (HƯỚNG HẠ) Rơi rụng, chìm đắm, phân ly, cay đắng

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần củng cố và kiểm chứng giá trị phổ quát của lý thuyết ẩn dụ ý niệm do các học giả Âu - Mỹ khởi xướng khi ứng dụng vào một loại hình diễn ngôn văn học dân gian phương Đông cụ thể là ca dao Nam Bộ. Nghiên cứu khẳng định nguyên lý tính nghiệm thân của ngôn ngữ: ý niệm và biểu thức ngôn ngữ không tồn tại biệt lập mà bắt nguồn sâu xa từ sự tương tác giữa cơ thể con người với môi trường tự nhiên, sinh thái và bối cảnh văn hóa - xã hội bản địa.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại những kết quả cụ thể:

  • Làm sáng tỏ cơ chế tri nhận và phương thức tư duy của người Việt Nam Bộ thông qua mô hình ba bình diện tương tác hữu cơ: ca dao Nam Bộ - văn hóa Nam Bộ - người Việt Nam Bộ. Kết quả cho thấy phương thức tư duy của người bình dân Nam Bộ thiên về tính cụ thể, trực quan, lấy con người làm trung tâm (dĩ nhân vi trung) và chịu sự quy định mạnh mẽ của không gian địa lý sông nước, hệ động - thực vật châu thổ.
  • Cung cấp một hệ thống phân loại và số liệu thống kê chi tiết về các biểu thức ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ thông qua 8 bảng biểu và 27 lược đồ ánh xạ, làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu ngôn ngữ học văn hóa tiếp theo.
  • Về mặt ứng dụng và kiến nghị giải pháp, tác giả đề xuất đưa kết quả nghiên cứu vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy ca dao dân ca Nam Bộ trong chương trình ngữ văn tại các trường phổ thông và đại học, chuyển từ cách phân tích tu từ thuần túy sang tiếp cận ngôn ngữ - tư duy tri nhận; đồng thời khuyến nghị các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tiếp tục khai thác các mô hình tri nhận để giải mã thế giới quan của cư dân các vùng miền khác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ phạm vi ngữ liệu chỉ giới hạn khảo sát trong ba công trình sưu tầm xuất bản gồm: Ca dao dân ca Nam Bộ (1984), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (1999) và Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh (2006). Luận án chưa thể bao quát toàn bộ các biến thể, dị bản ca dao được sưu tầm và diễn xướng thực địa ngoài ba ấn phẩm này. Đồng thời, phạm vi các ý niệm đích mới tập trung vào một số ý niệm tiêu biểu (Con người, Duyên, Tình yêu, Sầu, Cương thường, Tiền tài, Hạnh phúc, Khổ đau), chưa thể khảo sát toàn diện mọi phạm trù ý niệm khác của đời sống tinh thần người Nam Bộ.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng phạm vi khảo sát đối sánh giữa ca dao Nam Bộ với ca dao Bắc Bộ và Trung Bộ để làm nổi bật rõ nét hơn những hằng số văn hóa chung của dân tộc Việt Nam cùng những biến số tri nhận đặc thù của từng vùng địa - văn hóa; bên cạnh đó là hướng nghiên cứu ứng dụng lý thuyết không gian pha trộn (blending theory) sâu hơn vào các thể loại văn học dân gian khác như tục ngữ, truyện cười, vè Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu và Ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt ở phương pháp nhận diện và quy trình phân tích ánh xạ nguồn - đích.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Văn học, Văn hóa học, Văn học dân gian trong việc tìm kiếm cách tiếp cận liên ngành để khám phá chiều sâu tư duy của người bình dân Nam Bộ qua ca dao.
  • Giáo viên ngữ văn tại các trường phổ thông trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy phần văn học địa phương và ca dao dân ca.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống 27 lược đồ ánh xạ tri nhận, các bảng thống kê phân loại biểu thức ẩn dụ và tập Phụ lục dài 194 trang trích dẫn ngữ liệu gốc có mã hóa thư mục rõ ràng.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngữ liệu ca dao Nam Bộ trong luận án được khảo sát từ những nguồn tư liệu cụ thể nào? Ngữ liệu được thu thập từ ba công trình: Ca dao dân ca Nam Bộ (Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, 1984), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (phần ca dao - dân ca) (Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ, 1999) và Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh (Huỳnh Ngọc Trảng, 2006), kèm theo tập phụ lục ngữ liệu 194 trang.

2. Ba luận điểm mang tính phương pháp luận xuyên suốt của luận án là gì? Tác giả vận dụng ba luận điểm phương pháp luận của G. Lakoff và M. Johnson (1999): "tâm trí vốn dĩ là nghiệm thân" (the mind is inherently embodied), "tư duy hầu hết là vô thức" (thought is mostly unconscious) và "các ý niệm trừu tượng phần lớn là ẩn dụ" (abstract concepts are largely metaphorical).

3. Tác giả vận dụng thủ pháp nào để nhận diện biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ từ văn bản? Tác giả phối hợp hai thủ pháp khoa học: thủ pháp nhận dạng ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) của nhóm nghiên cứu Pragglejaz (2007) và thủ pháp nhận diện 5 bước của Gerard Steen (G. Steen).

4. Trong ẩn dụ bản thể, những ý niệm tâm lý trừu tượng nào được chọn làm miền đích? Chương 3 của luận án tập trung khảo sát ba miền ý niệm đích thuộc đời sống tâm lý, tình cảm trừu tượng của con người là DUYÊN, TÌNH YÊU và SẦU, sau đó quy chiếu chúng về các miền nguồn vật chất cụ thể như vật thể/chất thể, sợi dây, ngọn lửa, hàng hóa, vật chứa, gia vị thức ăn và men say.

5. Quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận về "sự tương đồng" trong ẩn dụ khác biệt như thế nào so với quan niệm truyền thống? Quan niệm truyền thống cho rằng ẩn dụ dựa trên sự tương đồng khách quan có sẵn giữa hai thực thể. Ngôn ngữ học tri nhận chỉ ra rằng không có tương đồng khách quan tuyệt đối; các tương đồng trong ẩn dụ là do ẩn dụ tạo ra, dựa trên các tương quan kinh nghiệm của con người, gồm sự đồng hiện về kinh nghiệm và sự tương đồng về kinh nghiệm thông qua quá trình trải nghiệm và tương tác với môi trường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đào Duy Tùng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận. Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tường minh ba loại hình ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định vị trên khối ngữ liệu ca dao được sưu tầm hơn ba trăm năm qua. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa của cư dân Nam Bộ, khẳng định tính nghiệm thân và vai trò chi phối của môi trường sinh thái sông nước đối với phương thức ý niệm hóa dân gian.