Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu chiếc ghe ngo của cộng đồng người Khmer Nam Bộ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam như một sự vật, hiện tượng văn hóa hay hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng, Luận án đưa ra những luận bàn về sự khác nhau trong trải nghiệm tính thiêng và thế tục trong văn hóa. Cụ thể, tác giả đã thực hiện nghiên cứu hai dạng thức thiêng và thế tục của ghe ngo trong văn hóa Khmer Nam Bộ và trong không gian bảo tàng, từ đó chỉ ra sự cần thiết phải nhìn nhận các dạng thức này của sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể, không thể tách rời. Đây là một cách tiếp cận mang tính khách quan, hướng đến cách nhìn khoan dung và hòa hợp giữa những người có niềm tin và ứng xử thực hành tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, góp phần tích cực vào quá trình bảo tồn các giá trị di sản văn hóa của hiện vật bảo tàng.
Trong quá trình thực hiện Luận án, tác giả đã kế thừa kết quả của nhiều nghiên cứu đi trước mà các nhà khoa học trong và ngoài nước đã thực hiện, bao gồm các công trình nghiên cứu lý luận, các công trình khảo cứu về văn hóa Khmer trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, một số nghiên cứu liên quan tới ghe ngo và hội đua ghe ngo, các nghiên cứu về bảo tàng và hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng. Các nghiên cứu lý luận Kết quả nghiên cứu và quan điểm của một số học giả trong nước là cơ sở khoa học và nguồn tư liệu quan trọng định hướng cho nghiên cứu của Luận án. Từ góc độ nhân học văn hóa, tác giả Nguyễn Thị Hiền cho rằng, “mỗi nền văn hóa có những “chuẩn mực” riêng của nó trong việc hiểu và đánh giá, từ đó các luan an 13 nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận phù hợp, tránh những quan điểm áp đặt, vị chủng luận. Hiển nhiên có những ứng xử được coi là bình thường trong xã hội này, nhưng lại không bình thường hay thậm chí không tồn tại trong xã hội khác.
Chúng ta biết rằng cùng một âm thanh, động tác, biểu tượng hay hành động của xã hội này có thể có ý nghĩa khác nhau (hay không có ý nghĩa) trong xã hội khác. Vì vậy, áp dụng chuẩn mực của một xã hội này vào một xã hội khác đơn giản không thực sự đúng và có thể là sai” [40]. Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo, tác giả Đỗ Quang Hưng nhận định rằng, lịch sử nhận thức của con người về văn hóa- tôn giáo đã trải qua nhiều thăng trầm, trong đó có thể khái quát thành một số thời kỳ cơ bản. Trước tiên là thời kỳ chưa phân định rạch ròi các khái niệm tôn giáo, văn hóa và yếu tố thần linh, siêu nhiên hầu như bao trùm lên các yếu tố trần thế.
Đến một thời kỳ phát triển nhất định, con người bắt đầu tìm cách phân biệt các yếu tố trần tục và siêu nhiên. Từ khi xuất hiện cuộc cách mạng khoa học thứ nhất, “văn hóa thế tục” được quan tâm, thậm chí có nhà khoa học còn mong muốn đưa các quan niệm thế tục trở thành nhận thức phổ quát, bao trùm các quan niệm văn hóa-tôn giáo. Quan điểm quan trọng nhất của Đỗ Quang Hưng ở nghiên cứu này, đó là trong bối cảnh của thời kỳ hậu hiện đại và toàn cầu hóa hiện nay, con người cần phải xem xét lại ứng xử về mối quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo, trong đó “văn hóa thế tục” và “văn hóa tôn giáo” cần được nhìn nhận một cách dung hòa và có sự tôn trọng lẫn nhau [53]. Những quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng trên đây góp phần giúp nghiên cứu sinh xác định rõ hơn hướng tiếp cận của mình khi nghiên cứu hai dạng thức thiêng và thế tục của sự vật, hiện tượng, từ đó khẳng định tính đa dạng của văn hóa hay là sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt trong quan niệm và đức tin tôn giáo.
Mircea Eliade (1907 – 1986) là một nhà khoa học người Rumani, đã từng làm việc tại Ấn Độ, Rumani, Pháp và qua đời ở Mỹ. Các công trình khoa luan an 14 học của Eliade là những đóng góp có giá trị to lớn đối với nền học thuật thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo. Đối với Eliade, khi nghiên cứu tôn giáo, thay vì nghiên cứu lịch đại, tuân thủ nguyên tắc niên biểu cứng nhắc, ông nghiên cứu đồng đại với sự so sánh trên một phạm vi rộng lớn và đa dạng. Cách tiếp cận về tôn giáo của Mircea Eliade có sự tương đồng và kế thừa mạnh mẽ từ hiện tượng học của Martin Heidegger, sự phân biệt tư duy ma thuật và tư duy tôn giáo của James Frazer và đặc biệt là trải nghiệm tôn giáo của Rudolf Otto.
Thông qua Thiêng và Phàm (tên cuốn sách nổi tiếng của ông về chủ đề này) [36], có thể thấy, điểm nổi bật trong nghiên cứu của Eliade nằm ở khả năng hệ thống hóa và khái quát hóa cao. Không đi quá sâu vào những mô tả dân tộc học hay phong tục học về nghi thức, thay vào đó ông trình bày các dẫn chứng đa dạng một cách có hệ thống và qua một cái nhìn tổng thể. Eliade khái quát hóa tính thiêng thông qua hệ thống các yếu tố thiêng (trong bản dịch dùng thuật ngữ linh hiển) theo các mức độ khác nhau và mối quan hệ của chúng với các hiện tượng tôn giáo (hay trải nghiệm tôn giáo) của con người. Dựa vào quan điểm tiếp cận của Mircea Eliade về bản chất của tôn giáo, qua cặp phạm trù “thiêng và phàm”, quan điểm của một số học giả nghiên cứu văn hóa, tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh đương đại, kết hợp với quan sát của bản thân, nghiên cứu sinh sẽ thực hiện nghiên cứu đối sánh và phân tích hai dạng thức thiêng và thế tục của chiếc ghe ngo trong đời sống văn hóa của người Khmer.
Qua đó, có thể nhận thấy “cái thiêng” của sự vật, hiện tượng (ghe ngo và các nghi lễ) có biểu hiện như một hiện thực hoàn toàn khác với cái hiện thực “tự nhiên”, nhưng, “cái thiêng” không được xem xét một cách riêng biệt mà cần nhìn nhận nó trong tính tổng thể của sự vật, hiện tượng, đó là mối quan hệ giữa “cái thiêng” với “cái phàm”. luan an 15 Quan điểm chức năng luận, hay còn gọi là thuyết chức năng, là một trong những trường phái lớn, được sử dụng khá phổ biến trong lý thuyết nghiên cứu văn hóa. Quan điểm này được khởi nguồn từ một số nhà triết học và xã hội học cổ điển, nhưng Emile Durkheim (1858-1917) được coi là người đầu tiên xây dựng khái niệm chức năng một cách có hệ thống và áp dụng vào nghiên cứu khoa học chặt chẽ đối với đời sống xã hội. Truyền thống chức năng luận của Durkheim được tiếp nối trong nhân học nửa đầu thế kỷ XX, chủ yếu ở Anh, với hai đại diện nổi bật là Alfred R.
Thuyết chức năng giải thích vai trò của từng bộ phận trong xã hội và bộ phận đó góp phần như thế nào vào sự ổn định của toàn xã hội. Theo quan điểm của Malinowski [158], văn hóa là phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu của các cá nhân riêng biệt và cộng đồng. Do đó, mọi vật thể văn hóa (hữu hình hay vô hình) đều có ý nghĩa và chức năng cụ thể. Luận án sẽ phân tích kỹ hơn quan điểm tiếp cận của Mircea Eliade và Bronislaw Malinowski ở phần Cơ sở lý luận.
Về cơ sở lý thuyết bảo tàng học, một số nghiên cứu có thể coi như những cuốn cẩm nang cung cấp những thông tin cơ bản nhất như các định nghĩa và khái niệm về các lĩnh vực hoạt động bảo tàng, như cuốn Cơ sở bảo tàng [106], Cẩm nang bảo tàng [35], Cơ sở bảo tàng học Trung Quốc [87], hoặc đề cập tới lịch sử phát triển của khoa học nghiên cứu bảo tàng như Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga [58]. Đặc biệt, thông qua tập hợp bài viết trong tập Xây dựng ý tưởng và phát triển trưng bày, tài liệu tập huấn do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu, hỗ trợ và phát triển văn hóa A&C phối hợp thực hiện đã cho thấy xu hướng tiếp cận mới của các bảo tàng trên thế giới vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI [6]. Xu hướng này càng được nhìn nhận rõ hơn trong các nghiên cứu về Bảo tàng học mới mà tiêu biểu là New Museology do Peter Vergo chủ biên [173]. Có thể nhận thấy đã có một luan an 16 bước chuyển biến rõ rệt trong quan điểm tiếp cận của ngành bảo tàng, quan điểm bảo tàng học mới đặt con người vào vị trí trung tâm của các hoạt động bảo tàng thay cho hiện vật như trong quan điểm của “bảo tàng học cũ.” Theo đó, các hiện vật trong bảo tàng chỉ có giá trị và ý nghĩa đầy đủ khi đặt trong các mối quan hệ với con người hay cộng đồng.
Đối với hoạt động bảo tàng và công tác bảo tồn di sản văn hóa, các ấn phẩm của Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) là nguồn tư liệu quan trọng. Từ năm 2005 – 2012, Cục Di sản văn hóa liên tục xuất bản 6 tập sách Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, trong đó tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và quản lý văn hóa của Việt Nam về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm nội dung lý luận và nhận thức chung về di sản văn hóa phi vật thể, các biện pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể như nghiên cứu, kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa, trao truyền và quảng bá… Về sự tham gia của bảo tàng trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, tác giả Đặng Văn Bài đã nhận định: “Trong lĩnh vực bảo tàng, chúng ta thấy những khuynh hướng sai lệch về cách nhìn nhận giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong cách bộ sưu tập hiện vật gốc và các hình thức hoạt động của bảo tàng” [4]. Các bảo tàng hiện tại chưa chú ý đến việc khai thác các dạng hồi ký, hồi ức, tri thức của cộng đồng cũng như bản thân nghệ nhân như một dạng biểu hiện của “di sản sống.