Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 92 29 040) của nghiên cứu sinh Phạm Thị Thủy Chung, với đề tài "Ghe ngo của người Khmer Nam Bộ từ cộng đồng đến bảo tàng", được thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Chí Bền và TS. Lê Thị Minh Lý (Hà Nội, 2020). Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc độ văn hóa học liên ngành, kết hợp nhân học văn hóa, bảo tàng học và tôn giáo học nhằm giải quyết vấn đề biến đổi chức năng và tính thiêng của hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng trong quá trình dịch chuyển không gian từ đời sống cộng đồng vào không gian trưng bày bảo tàng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dưới góc nhìn văn hóa học, việc thay đổi vị trí của một hiện vật văn hóa dẫn đến sự biến đổi về chức năng và các đặc tính văn hóa. Đối với các hiện vật có tính thiêng (thuộc phạm trù văn hóa phi vật thể, mang tính nhạy cảm cao và dễ bị tổn thương), việc di chuyển từ không gian sáng tạo và thực hành nghi lễ sang không gian trưng bày bảo tàng đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn. Nếu thiếu sự quan tâm đúng mức tới yếu tố thiêng và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng liên quan, hoạt động bảo tàng sẽ dẫn tới bốn hệ quả tiêu cực:

  1. Khách tham quan không tiếp nhận được đầy đủ thông tin về vai trò, ý nghĩa và hệ thống các mối quan hệ xã hội của hiện vật;
  2. Bảo tàng không đạt được hiệu quả trưng bày phục vụ công tác giáo dục và bảo tồn di sản văn hóa;
  3. Bảo tàng nảy sinh những ứng xử không phù hợp, gây tổn thương tới cộng đồng chủ thể sáng tạo, làm suy giảm tính bền vững trong mối quan hệ giữa bảo tàng và cộng đồng;
  4. Ứng xử thiếu thấu cảm của nhà nghiên cứu tác động tiêu cực ngược trở lại, khiến cộng đồng đánh mất niềm tự hào, suy giảm ý thức bảo tồn hoặc nảy sinh nhận thức sai lệch về giá trị di sản của chính họ.

Chiếc ghe ngo của người Khmer tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một trường hợp nghiên cứu điển hình khi hội tụ năm yếu tố: (1) Là hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng; (2) Chứa đựng giá trị lịch sử của nền văn hóa nông nghiệp bản địa từ thời mở đất; (3) Mang giá trị thẩm mỹ của một tác phẩm nghệ thuật tạo hình độc thấu; (4) Là hiện vật có kích thước và trọng lượng lớn ("siêu trường, siêu trọng") trong hệ thống trưng bày; (5) Trải qua quá trình dịch chuyển qua nhiều không gian văn hóa: từ ngôi chùa Khmer đến đường đua nghi lễ, và từ không gian văn hóa cộng đồng Nam Bộ đến không gian trưng bày bảo tàng tại thủ đô Hà Nội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu sự biến đổi chức năng và tính thiêng của hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng khi di chuyển từ không gian văn hóa cộng đồng tới không gian trưng bày trong bảo tàng qua trường hợp chiếc ghe ngo; từ đó bàn luận một số nguyên tắc ứng xử và phương pháp trưng bày linh hoạt đối với loại hình hiện vật này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu các thành tố và đặc trưng văn hóa của ghe ngo trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Khmer Nam Bộ;
    2. Đối sánh hai dạng thức thiêng và thế tục của chiếc ghe ngo gắn với các chức năng khác nhau, từ phương tiện thực hành nghi lễ và thuyền đua trong cộng đồng đến khi trở thành hiện vật bảo tàng;
    3. Đề xuất một số giải pháp nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hai dạng thức thiêng và thế tục của ghe ngo nói riêng và hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng nói chung khi tổ chức trưng bày trong bảo tàng.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

  • Hệ thống câu hỏi nghiên cứu:
    • Câu hỏi 1: Chức năng của chiếc ghe ngo trong cộng đồng và trong bảo tàng khác nhau như thế nào?
    • Câu hỏi 2: Ghe ngo có tính thiêng không? Nếu có, tính thiêng của ghe ngo có còn tồn tại khi chiếc ghe đã rời khỏi cộng đồng và được trưng bày trong bảo tàng?
    • Câu hỏi 3: Xử lý mối quan hệ giữa hai dạng thức thiêng và thế tục của chiếc ghe ngo như thế nào?
  • Hệ thống giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1: Khi ở trong không gian văn hóa cộng đồng, ghe ngo thực hiện chức năng phương tiện thực hành nghi lễ, chuyển tải thông điệp của cộng đồng tới thần linh và gắn kết cộng đồng. Khi trở thành hiện vật trong bảo tàng, chức năng của ghe ngo là hiện vật đại diện cho văn hóa Khmer trong bức tranh văn hóa 54 dân tộc Việt Nam.
    • Giả thuyết 2: Ghe ngo là hiện vật có tính thiêng, biểu hiện đậm nét nhất trong thời gian và không gian của hệ thống nghi lễ liên quan đến ghe ngo và lễ hội Ook Om Bok. Khi chuyển về bảo tàng, tính thiêng biến đổi tùy thuộc vào trải nghiệm văn hóa - tôn giáo của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng tiếp nhận.
    • Giả thuyết 3: Hai dạng thức thiêng và thế tục tồn tại đan xen, bổ sung cho nhau tạo nên giá trị tổng thể của ghe ngo; do đó bảo tàng cần giải pháp linh hoạt để phản ánh cả hai dạng thức, thiết lập mối liên hệ nhân văn giữa công chúng và chủ thể văn hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chiếc ghe ngo của cộng đồng Khmer Nam Bộ trong mối quan hệ với cộng đồng gốc và công chúng bảo tàng, cụ thể gồm: ghe ngo trong đời sống cộng đồng Khmer Nam Bộ; chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam; và sự kết nối giữa hiện vật với công chúng tham quan.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Sóc Trăng (địa bàn có 397.014 người Khmer, chiếm 31,5% tổng dân số Khmer cả nước theo Tổng điều tra dân số năm 2009), trọng tâm là ấp Tam Sóc C1, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú (nơi tọa lạc chùa Tum Pok Sok / chùa Tam Sóc); và không gian trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Khung thời gian lịch sử từ năm 1975 đến nay (thời điểm hội đua ghe ngo được tổ chức quy mô lớn ở Nam Bộ), tập trung vào giai đoạn chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok được chuyển về bảo tàng. Thời gian nghiên cứu thực địa tiến hành từ năm 2014 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:

                            TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Lý thuyết        Bảo tàng học         Văn hóa Việt Nam     Văn hóa Khmer
văn hóa/tôn giáo & Di sản phi vật thể & Sông nước Nam Bộ   & Hội đua ghe ngo
(M. Eliade,      (P. Vergo,           (Đào Duy Anh,        (G. Coedès,
 B. Malinowski,  R. Kurin,            Nguyễn Văn Huyên,    Châu Đạt Quan,
 Đỗ Quang Hưng,  Đặng Văn Bài,        Trần Quốc Vượng,     Huỳnh Ngọc Trảng,
 Nguyễn Thị Hiền)Nguyễn Văn Huy)      Trần Ngọc Thêm)      Sơn Phước Hoan)
  1. Nhóm nghiên cứu lý luận văn hóa và tôn giáo:

    • Quan điểm nhân học văn hóa của Nguyễn Thị Hiền (2006) về tính chuẩn mực văn hóa riêng biệt và việc tránh áp đặt vị chủng luận.
    • Công trình của Đỗ Quang Hưng (2001) về mối quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo, nhấn mạnh sự dung hòa và tôn trọng lẫn nhau giữa "văn hóa thế tục" và "văn hóa tôn giáo" trong bối cảnh hậu hiện đại.
    • Lý thuyết về bản chất tôn giáo của Mircea Eliade (1957/1987) trong tác phẩm Thiêng và Phàm (The Sacred and The Profane), luận giải về các cấp độ hiển linh (hierophany), tính gián đoạn của không gian thiêng và chu kỳ tuần hoàn của thời gian thiêng.
    • Thuyết chức năng của Emile Durkheim (1912), Alfred R. Radcliffe-Brown và đặc biệt là Bronislaw Malinowski (1944, 1948) với luận điểm văn hóa đáp ứng các nhu cầu sinh học và tinh thần, giải tỏa tâm lý bất an và củng cố đoàn kết xã hội.
  2. Nhóm nghiên cứu bảo tàng học và hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng:

    • Các công trình nền tảng về nghiệp vụ bảo tàng: Cơ sở bảo tàng (Trần Thức dịch, 1999), Cẩm nang bảo tàng (G. Ellis Burcaw), Cơ sở bảo tàng học Trung Quốc (Vương Hoành Quân), và nghiên cứu của Kaulen M. (2012) về việc chuyển đổi đối tượng văn hóa vào môi trường bảo tàng.
    • Lý thuyết "Bảo tàng học mới" (New Museology) do Peter Vergo (1989) chủ biên, chuyển dịch trung tâm từ hiện vật sang con người và các mối quan hệ xã hội; quan điểm của Richard Kurin (2004) tại Viện Smithsonian về chia sẻ quyền lực và đối thoại đối tác với cộng đồng nắm giữ di sản; Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể.
    • Quan điểm bảo tàng học tại Việt Nam của Đặng Văn Bài (2007) và Nguyễn Văn Huy (2006, 2008) về khai thác "di sản sống", trao quyền cho chủ thể văn hóa trực tiếp tham gia giới thiệu di sản trong bảo tàng.
    • Các nghiên cứu quốc tế chuyên sâu về hiện vật thiêng trong bảo tàng: Crispin Paine (2013) với Religious Objects in Museums; Bruce M. Sullivan (2015) với Sacred Objects in Secular Spaces: Exhibiting Asian Religions in Museums; Lori Allison Noël (2018) với Exhibition of Belief: The Museum Identity of Religious Objects; và chuyên san Asian Ethnology (2019) do Laurel Kendall chủ biên về đời sống thiêng của đồ vật tại Việt Nam đương đại.
  3. Nhóm nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, Nam Bộ và văn hóa Khmer:

    • Tổng quan văn hóa Việt Nam: Đào Duy Anh (1938), Nguyễn Văn Huyên (1939), Trần Ngọc Thêm (1995), Trần Quốc Vượng (1996, 2000 - tiếp cận Địa - Văn hóa và Địa - Lịch sử), Kiều Thu Hoạch (2016), Nguyễn Văn Kim và Phạm Hồng Tung (2017), Nguyễn Chí Bền (2018), Lý Tùng Hiếu (2019).
    • Môi trường sông nước và tín ngưỡng Nam Bộ: Lê Văn Kỳ (2012), Nguyễn Hữu Hiếu (2004, 2012), Nguyễn Thanh Lợi (2014), Phan Anh Tú (2014), David Biggs (2012).
    • Sử liệu và nghiên cứu văn hóa tộc người Khmer: G. Coedès (1968), Châu Đạt Quan (1295), Lê Hương (1969), Lương Ninh (2005), Mạc Đường (1991), Huỳnh Ngọc Trảng (1983, 1987), Tiền Văn Triệu (1994), Hoàng Túc (1996), Sơn Phước Hoan (1999), Sô-ry-a (2007), Nguyễn Thị Tâm Anh (2015), Lâm Nhân và Trần Văn Út (2015).
    • Nghiên cứu ghe ngo và hội đua: Kỷ yếu hội thảo khoa học của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và UBND tỉnh Sóc Trăng (2013); các bài báo chuyên ngành của Phan Thị Yến Tuyết (2014), Lê Công Lý (2016), Nguyễn Thành Trung và Hà Thị Thùy Dương (2015).

Khoảng trống nghiên cứu xác lập vị trí của luận án: Mặc dù ghe ngo và văn hóa Khmer đã được đề cập rải rác trong các công trình phong tục, lễ hội, nhưng trước luận án này chưa có một chuyên khảo văn hóa học nào nghiên cứu toàn diện chiếc ghe ngo như một biểu tượng văn hóa cộng đồng gắn với tính thiêng. Đồng thời, tại Việt Nam hoàn toàn thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ứng xử của bảo tàng đối với hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng có kích thước lớn khi tách ly khỏi môi trường gốc. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tích hợp hai khung lý thuyết trụ cột của nhân học văn hóa và tôn giáo học:

  1. Lý thuyết Thiêng và Phàm của Mircea Eliade: Eliade luận giải rằng cái thiêng biểu hiện như một thực tại hoàn toàn khác với thực tại tự nhiên thông qua sự linh hiển (hierophany). Tính thiêng mang tính thực tại và sức mạnh tối thượng đối với con người có đức tin. Không gian và thời gian thiêng có cấu trúc bản thể khác biệt hoàn toàn với không gian và thời gian thế tục:
Tiêu chí đối sánh Không gian thiêng Không gian thế tục
Tâm điểm cấu trúc Biểu hiện của sự linh hiển là trung tâm (điểm cố định) Không gian trải rộng đồng nhất, không có tâm điểm
Tính liên tục Không thuần nhất, có đoạn đứt vỡ, có khoảng cách cấm kỵ Thuần nhất, liên tục và không đứt đoạn
Định hướng vận động Vận động có định hướng, quy tụ về trung tâm đức tin Vận động cơ học theo nhu cầu sinh hoạt thường nhật
Bản thể tồn tại Tồn tại tuyệt đối Tồn tại tương đối, không tuyệt đối
Tiêu chí đối sánh Thời gian thiêng (Con người tôn giáo) Thời gian thế tục (Con người phi tôn giáo)
Cấu trúc thời gian Không thuần nhất, không liên tục, đứt đoạn qua nghi lễ Thời gian thuần nhất, trôi chảy liên tục
Khả năng hoàn nguyên Có thể đảo ngược, tái hiện thời gian huyền thoại nguyên thủy Vận động tuyến tính một chiều (quá khứ - hiện tại - tương lai)
Tính chất lịch sử Có tính phi lịch sử, làm ngưng đọng thời gian thế tục Tuân theo nhịp độ thời gian sinh hoạt, lao động và nghỉ ngơi
Quỹ đạo vận động Có tính tái sinh theo chu kỳ vòng tròn (mùa vụ, năm mới) Trôi qua không thể đảo ngược hoặc quay lại
  1. Thuyết Chức năng của Bronislaw Malinowski: Văn hóa là một hệ thống chỉnh thể các bộ phận liên kết nhằm đáp ứng các nhu cầu căn bản của con người và xã hội. Trong các hoạt động có độ rủi ro cao và vượt ngoài tầm kiểm soát duy lý (như ví dụ ngư dân đảo Trobriand đánh bắt ngoài biển sâu so với vùng đầm phá nội địa), tôn giáo và ma thuật vận hành để giải tỏa căng thẳng tâm lý, gia tăng tự tin và củng cố tính cố kết cộng đồng. Trong luận án, ghe ngo được soi chiếu qua chức năng nghi lễ nông nghiệp, chức năng cố kết xã hội và chức năng biểu trưng tộc người.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các nhóm phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp:
    • Quan sát tham gia: Trực tiếp tham dự lễ hội Ook Om Bok, theo dõi nghi thức cúng ghe ngo, lễ hạ thủy, các buổi tập luyện và đua ghe tại Sóc Trăng (2014–2020); ghi chép, chụp ảnh, ghi âm quá trình tương tác của khách tham quan tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
    • Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn bán cấu trúc các sư sãi (Sư cả chùa Tum Pok Sok), chức sắc tôn giáo, nghệ nhân đóng ghe, các vị Achar, thành viên đội đua và trí thức địa phương tại ấp Tam Sóc C1; phỏng vấn chuyên gia bảo tàng học và cán bộ thuyết minh.
    • Điều tra xã hội học (khảo sát định lượng): Thực hiện trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi hỗn hợp theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất) đối với khách tham quan dừng chân tại khu vực trưng bày ghe ngo ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
  • Phương pháp xử lý và phân tích tư liệu:
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Đi sâu nghiên cứu trường hợp duy nhất là chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok.
    • Phương pháp so sánh: So sánh đối sánh trải nghiệm tính thiêng giữa người trong cuộc (cộng đồng Khmer) và người ngoài cuộc (cộng đồng Kinh, Hoa, khách tham quan); so sánh kích thước hiện vật với dung lượng thông tin trưng bày; so sánh kinh nghiệm xử lý hiện vật thiêng tại các bảo tàng quốc tế.
    • Phương pháp tiếp cận lịch sử và phân tích - tổng hợp: Tái hiện bối cảnh lịch sử di cư, tụ cư và sự biến đổi chức năng của hiện vật qua các thời kỳ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về văn hóa của cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ

Chương 1 xác lập nền tảng lý luận và bối cảnh văn hóa - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Tổng lược hệ thống lý thuyết Thiêng - Phàm, thuyết Chức năng và Bảo tàng học mới; định nghĩa các khái niệm cốt lõi: ghe ngo, hiện vật tôn giáo tín ngưỡng, tính thiêng, thế tục, cộng đồng, ký ức cộng đồng.
  • Khái quát điều kiện tự nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long (diện tích 40.548,2 km², dân số 17,8 triệu người) với mạng lưới sông rạch chằng chịt, gắn liền dấu ấn lịch sử văn hóa Phù Nam - Óc Eo từ đầu Công nguyên.
  • Phân tích quá trình tụ cư lịch sử: Sau giai đoạn Thủy Chân Lạp hoang vu, từ thế kỷ X, các nhóm cư dân Khmer di cư đến khai phá các giồng cát cao (phnom/giồng đất) màu mỡ, hình thành các cụm cư trú bền vững.
  • Cấu trúc tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer:
    • Phum: Đơn vị cư trú gồm 5-7 gia đình cùng huyết thống hoặc láng giềng, có rào tre gai bao quanh, đứng đầu là Mê phum.
    • Sóc (Srok): Đơn vị liên kết nhiều phum, tương đương làng xã, có ban quản trị do Mê sóc đứng đầu.
    • Chùa Phật giáo Nam tông (Wat): Trung tâm sinh hoạt tôn giáo, đạo đức và văn hóa; đứng đầu là Sư cả (Tăng trưởng), phối hợp quản lý cùng Ban quản trị chùa (Knã kô ma ca wat) gồm Trùm chùa (Nhôm wat) và Thầy phụ trách nghi lễ (Achar).
  • Kinh tế nông nghiệp lúa nước thích ứng môi trường phèn mặn qua hệ thống nông cụ đặc thù: phảng phát cỏ, cù nèo (pok), nọc cấy mạ (sơ chal), vòng gặt lúa (kần điêu). Đời sống tín ngưỡng là phức hợp hài hòa giữa Phật giáo Theravada, Bàlamôn giáo và tín ngưỡng dân gian (thờ cúng Neak Ta, Arăk).

Chương 2: Ghe ngo trong đời sống văn hóa của cộng đồng Khmer Nam Bộ

Chương 2 tập trung khảo tả toàn diện hiện vật ghe ngo trong không gian sinh hoạt văn hóa bản địa:

  • Vị trí trong diện mạo ghe xuồng Nam Bộ: Đặt ghe ngo trong hệ thống phương tiện thủy đa dạng của vùng sông nước Tây Nam Bộ, chỉ rõ sự khác biệt của ghe ngo so với các loại ghe vận tải, ghe buôn bán thông thường.
  • Ghe ngo trong lễ hội Ook Om Bok: Ghe ngo gắn liền với lễ cúng Trăng (Ook Om Bok) diễn ra vào rằm tháng 10 Âm lịch (thời điểm chuyển giao mùa mưa - mùa khô). Nghi thức đua ghe ngo nguyên thủy mang chức năng của một lễ thức nông nghiệp rước nước, tiễn nước và tạ ơn thần linh sông ngòi sau vụ mùa.
  • Kỹ thuật đóng ghe và tri thức dân gian: Khảo tả quy trình chế tác ghe ngo độc mộc từ thân cây cổ thụ (thường là cây sao); vai trò của nghệ nhân dân gian nắm giữ kỹ thuật đục đẽo, cân bằng thân ghe, kỹ thuật uốn lượn hình rắn thần Naga, vẽ hoa văn biểu tượng linh thú ở mũi ghe.
  • Nghi thức và điều khiển ghe: Phân tích quy tắc bố trí vận động viên chèo bơi, vai trò của người chỉ huy thổi còi/gõ nhịp, người cầm lái và kỹ thuật phối hợp tập thể tạo nên tốc độ di chuyển trên đường đua.
  • Đối sánh hai dạng thức thiêng và thế tục:
    • Dạng thức thiêng: Thể hiện qua hệ thống kiêng kỵ nghiêm ngặt (phụ nữ không được bước qua hoặc ngồi lên ghe ngo; lễ cúng đầu ghe, lễ hạ thủy, lễ đọc kinh cầu an trước khi thi đấu; quan niệm ghe ngo là nơi trú ngụ của linh hồn/thần bảo hộ ngôi chùa).
    • Dạng thức thế tục: Thể hiện khi ghe ngo đóng vai trò là thuyền đua thể thao, biểu tượng sức mạnh và niềm kiêu hãnh của thanh niên phum sóc trong ngày hội. Hai dạng thức này tồn tại thống nhất, không triệt tiêu nhau.

Chương 3: Chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Chương 3 đi sâu vào nghiên cứu trường hợp chiếc ghe ngo cụ thể được sưu tầm về bảo tàng:

  • Lịch sử chùa Tum Pok Sok: Tọa lạc tại ấp Tam Sóc C1, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Phân tích vai trò của các đời Sư trụ trì trong việc gìn giữ truyền thống đóng và đua ghe ngo của chùa (thể hiện qua Sơ đồ chùa Tum Pok Sok - Hình 1 trong văn bản).
  • Chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok: Đây là chiếc ghe ngo có thành tích thi đấu xuất sắc nhất trong lịch sử đua ghe ngo tỉnh Sóc Trăng và khu vực Nam Bộ, từng đoạt nhiều giải vô địch liên tiếp. Chiếc ghe in sâu trong ký ức và tâm thức tự hào của cộng đồng cư dân Tam Sóc.
  • Quá trình chuyển giao và trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Khảo sát hiện trạng trưng bày chiếc ghe ngo tại không gian ngoài trời của Bảo tàng (theo Sơ đồ khu trưng bày ngoài trời - Hình 2). Luận án chỉ ra sự tương phản giữa quy mô vật thể "siêu trường, siêu trọng" với dung lượng thông tin diễn giải còn hạn chế, khiến các câu chuyện văn hóa phi vật thể và tính thiêng bị mờ nhạt.
  • Nhận thức của khách tham quan: Khảo sát thực nghiệm xã hội học qua các bảng thống kê trong văn bản:
    • Bảng 3: Thời gian khách dừng chân tham quan ghe ngo;
    • Bảng 4: Mức độ hài lòng đối với trưng bày chiếc ghe ngo của người Khmer;
    • Bảng 5: Ấn tượng đặc biệt về chiếc ghe ngo;
    • Bảng 6: Mong muốn tìm hiểu thêm về chiếc ghe ngo. Kết quả khảo sát phản ánh phần lớn công chúng chỉ tiếp cận ghe ngo như một chiếc thuyền gỗ dài độc đáo về mặt thị giác hoặc nghệ thuật chạm khắc mà chưa hiểu rõ nguồn gốc nghi lễ, tính thiêng và ký ức cộng đồng gắn liền với chiếc ghe.

Chương 4: Bàn luận về cách xử lý mối quan hệ giữa hai dạng thức thiêng và thế tục của hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng trong bảo tàng

Chương 4 đưa ra các khuyến nghị chuyên môn và giải pháp ứng dụng bảo tàng học:

  • Quy ước và định danh hiện vật: Đề xuất nguyên tắc định danh chính xác hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng trong hệ thống hồ sơ, lý lịch hiện vật tại bảo tàng; không giản lược hiện vật thiêng thành đồ dùng sinh hoạt hay tác phẩm mỹ thuật đơn thuần.
  • Xây dựng nguyên tắc ứng xử: Xác lập bộ nguyên tắc tôn trọng đức tin của cộng đồng chủ thể văn hóa, đồng thời tuân thủ các chuẩn mực đạo đức bảo tàng học quốc tế (ICOM Code of Ethics). Bảo đảm không gian trưng bày không xúc phạm các kiêng kỵ truyền thống.
  • Xử lý hài hòa quan hệ thiêng - thế tục: Phân tích các mô hình trưng bày hiện vật tôn giáo trên thế giới (mô hình bảo tàng như không gian tôn vinh di sản sống, kết hợp nghe nhìn, lời kể của nhân chứng).
  • Đề xuất giải pháp trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Đổi mới phương pháp trưng bày câu chuyện của chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok: bổ sung tư liệu đa phương tiện (âm thanh gõ nhịp, tiếng reo hò, phim tài liệu lễ Ook Om Bok), trưng bày hình ảnh các nghệ nhân và sư sãi chùa Tam Sóc, mời nghệ nhân và chủ thể văn hóa tham gia trình diễn, thuyết minh định kỳ nhằm kết nối bảo tàng với cộng đồng sống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án vận dụng thành công khung lý thuyết liên ngành (kết hợp lý thuyết Thiêng - Phàm của Mircea Eliade, thuyết Chức năng của B. Malinowski và Bảo tàng học mới) vào phân tích sự biến đổi chức năng và tính thiêng của hiện vật văn hóa khi dịch chuyển không gian từ đời sống thực hành tôn giáo sang không gian trưng bày bảo tàng.
  2. Bổ sung hệ thống tư liệu khoa học mới, chân thực và toàn diện về tính thiêng của chiếc ghe ngo với tư cách là một biểu tượng văn hóa nông nghiệp và tâm linh đặc thù của người Khmer Sóc Trăng.
  3. Đóng góp cách tiếp cận mới cho bảo tàng học Việt Nam trong việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản và diễn giải loại hình hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  1. Cung cấp hồ sơ tư liệu chi tiết về chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok (ấp Tam Sóc C1, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) – một di sản vật chất chứa đựng ký ức thể thao và nghi lễ của đồng bào Khmer.
  2. Chỉ ra những hạn chế thực tiễn trong công tác trưng bày hiện vật tôn giáo kích thước lớn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thông qua số liệu điều tra xã hội học khách quan.
  3. Đề xuất hệ thống nguyên tắc ứng xử và phương pháp trưng bày "kể chuyện hiện vật" (storytelling), tăng cường sự tham gia trực tiếp của chủ thể văn hóa (sư sãi, nghệ nhân, người chèo ghe), góp phần xây dựng mối quan hệ đối tác bền vững giữa thiết chế bảo tàng và cộng đồng sáng tạo di sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Nguồn tài liệu tiếng Việt nghiên cứu chuyên sâu về "hiện vật thiêng" và nghiệp vụ bảo tàng ứng xử với đồ thờ tự tôn giáo trong nước còn rất hạn chế, buộc tác giả phải chủ yếu tham chiếu tài liệu học thuật nước ngoài.
    • Luận án tập trung nghiên cứu trường hợp sâu (case study) vào một hiện vật đơn lẻ là chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok (Sóc Trăng) trong khung thời gian thực địa từ năm 2014 đến 2020, do đó chưa có điều kiện khảo sát mở rộng toàn bộ các loại hình hiện vật thiêng của các tộc người khác trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng ứng dụng khung phân tích Thiêng - Thế tục sang các nhóm hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng khác đang lưu giữ trong hệ thống bảo tàng Việt Nam (như tượng thờ Mẫu, đồ cúng tế Shaman giáo, hiện vật nghi lễ Tây Nguyên).
    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả sau khi bảo tàng áp dụng các phương pháp trưng bày mới có sự tương tác của cộng đồng chủ thể.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể:

  1. Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học văn hóa, Dân tộc học, Tôn giáo học và Bảo tàng học; cung cấp khung phân tích mẫu mực về nghiên cứu trường hợp hiện vật văn hóa và phương pháp điền dã dân tộc học.
  2. Đối với cán bộ quản lý và giám tuyển bảo tàng: Đặc biệt là các bảo tàng dân tộc học, bảo tàng tổng hợp cấp tỉnh/thành phố; hỗ trợ xây dựng quy chuẩn ứng xử đạo đức, lập hồ sơ lý lịch hiện vật thiêng và thiết kế không gian trưng bày di sản văn hóa phi vật thể.
  3. Đối với các nhà hoạch định chính sách văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách bảo tồn lễ hội truyền thống Ook Om Bok và phát huy vai trò tự quản của các thiết chế tôn giáo Khmer (chùa, ban quản trị chùa, Achar).

Câu hỏi thường gặp

1. Chiếc ghe ngo được nghiên cứu chuyên sâu trong luận án có xuất xứ từ đâu và có đặc điểm gì nổi bật?

Chiếc ghe ngo nghiên cứu trong luận án thuộc sở hữu của chùa Tum Pok Sok (chùa Tam Sóc), tọa lạc tại ấp Tam Sóc C1, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Đây là chiếc ghe ngo đạt thành tích thi đấu xuất sắc nhất trong lịch sử các kỳ lễ hội đua ghe ngo tại tỉnh Sóc Trăng cũng như toàn khu vực Nam Bộ, trở thành niềm kiêu hãnh và biểu tượng gắn kết của cộng đồng cư dân Tam Sóc trước khi được bàn giao về trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

2. Hai khung lý thuyết nền tảng nào được tác giả tích hợp sử dụng trong luận án?

Tác giả sử dụng kết hợp hai khung lý thuyết:

  • Lý thuyết Thiêng và Phàm (The Sacred and The Profane) của Mircea Eliade để phân tích bản chất của tính thiêng, sự linh hiển và sự đối sánh giữa không gian - thời gian thiêng với không gian - thời gian thế tục.
  • Thuyết Chức năng (Functionalism) của Bronislaw Malinowski để giải thích vai trò của ghe ngo trong việc đáp ứng nhu cầu tinh thần, giải tỏa bất an tâm lý trước tự nhiên và củng cố trật tự, đoàn kết xã hội.

3. Tính thiêng của chiếc ghe ngo biến đổi như thế nào khi chuyển từ ngôi chùa/đường đua vào không gian bảo tàng?

Khi ở trong không gian chùa Khmer và lễ hội Ook Om Bok, ghe ngo là phương tiện thực hành nghi lễ mang tính thiêng đậm nét, gắn với hệ thống kiêng kỵ và niềm tin tâm linh của cộng đồng. Khi chuyển về bảo tàng (một không gian thế tục), tính thiêng biến đổi tùy thuộc vào trải nghiệm của người tiếp nhận: đối với công chúng phi tôn giáo, ghe ngo trở thành một hiện vật đại diện văn hóa tộc người hoặc tác phẩm điêu khắc gỗ; nhưng đối với cộng đồng chủ thể Khmer, ghe ngo vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng thiêng liêng cần được tôn kính.

4. Phương pháp điều tra xã hội học tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được tiến hành ra sao?

Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi hỗn hợp theo kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất) đối với đối tượng là khách tham quan dừng chân quan sát chiếc ghe ngo tại khu trưng bày ngoài trời. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp trong các bảng thống kê (từ Bảng 3 đến Bảng 6) về thời gian dừng chân, mức độ hài lòng, ấn tượng thị giác và nhu cầu tiếp nhận thêm các câu chuyện văn hóa của khách tham quan.

5. Những nông cụ và thiết chế xã hội truyền thống đặc thù nào của người Khmer Nam Bộ được luận án ghi nhận?

  • Thiết chế xã hội: Phum (đứng đầu là Mê phum), Sóc (đứng đầu là Mê sóc), Ban quản trị chùa (Knã kô ma ca wat), Sư cả (Tăng trưởng) và các vị Thầy phụ trách nghi lễ (Achar).
  • Nông cụ truyền thống: Chiếc phảng phát cỏ năn/cỏ lác, cù nèo (pok) dùng vơ cỏ, nọc cấy (sơ chal) dùng chọc lỗ cắm mạ trên chân đất cứng phèn mặn, và chiếc vòng (kần điêu) dùng gặt lúa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thủy Chung là công trình nghiên cứu hệ thống về chiếc ghe ngo của người Khmer Nam Bộ qua trường hợp chiếc ghe ngo chùa Tum Pok Sok tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Bằng việc kết hợp lý thuyết Thiêng - Phàm của Mircea Eliade và thuyết Chức năng của Bronislaw Malinowski, luận án đã làm sáng tỏ sự chuyển biến chức năng và tính thiêng của hiện vật khi tách khỏi không gian thực hành tín ngưỡng để hòa vào không gian trưng bày bảo tàng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc xây dựng các chuẩn mực ứng xử đạo đức và phương pháp trưng bày linh hoạt, nhân văn đối với các hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng trong hoạt động bảo tàng đương đại.