Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1. Một số vấn đề về đời sống tỉnh thần 1. Quan niệm về đời sống tinh than Dé đưa ra quan niệm về đời sống tinh than làm cơ sở lý luận nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trong luận văn, trước hết cần làm rõ các khái niệm liên quan như đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh than. Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, quan niệm Mác xít trong nghiên cứu văn hóa đã phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Các nghiên cứu Mác xit đã chỉ ra rằng: Quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, con người sản xuất ra những điều kiện vật chất và phương tiện sinh hoạt đồng thời sản xuất ra ý thức: “Con người là kẻ sáng tạo ra các quan niệm, tư tưởng của mình”, đưới nhiều dạng khác nhau (ý thức tôn giáo, ý thức khoa học, ý thức nghệ thuật, ý thức pháp quyên, ý thức đạo đức. Như vậy, Con người ở đây được hiểu từ hai góc độ: Con người viết hoa với nghĩa tương đương xã hội loài người và con người cá nhân riêng lẻ. Xã hội loài người trải dài trong lich sử ton tại của con người với sự hiện hữu của các nền văn minh, văn hóa khác nhau. Trong khi con người cá nhân là một thực thê xã hội sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định, trong điều kiện hoàn cảnh tự nhiên, xã hội nhất định: “Có thể quan niệm sự phát triển văn hóa như là sự thống nhất giữa việc làm chủ văn hóa quá khứ và việc tạo ra những giá trị văn hóa mới.
Trong quá trình làm chủ, hình thái vat thé của văn hóa chuyên vào hình thái cá nhân (những kết quả phát triển văn hóa trước đó trở thành tài sản cá nhân), còn trong quá trình sáng tạo, hình thái cá nhân sẽ chuyên sang hình thái vật thé (con người thé hiện các khiếu năng, tri thức thành kết quả mới trong hoạt động của mình). Sự phát triển văn hóa là ở chỗ, một mặt thông qua việc làm chủ văn hóa hiện có con người trở thành 11 thực thé xã hội, mặt khác trong quá trình hoạt động sáng tạo sẽ hình thành thế giới vật thé phong phú da dang, tạo ra những điều kiện sống thiết yếu của con người” [I, Tr. Các hoạt động của con người trong lát cắt lich sử thé hiện sự kết nối hiện tại và quá khứ, giữa sự kế thừa văn hoá và sáng tạo văn hóa của từng xã hội cụ thể (giới hạn địa lý, không thời gian nhất định) với từng cá nhân chính là đời sống văn hóa của một cộng đồng. Đời sống văn hóa của một cộng đồng, do vậy, thể hiện qua các hoạt động trên hai mặt: Thứ nhất, làm chủ, kế thừa, bảo quản, pho biến, cải tao kinh nghiệm quá khứ, nhờ làm chủ được văn hóa của quá khứ mới thực hiện được mối liên hệ với lịch sử, sự kế thừa văn hóa giữa các thế hệ; Thứ hai, sáng tạo các giá trị vật thé, giá trị tinh thần, đây là mặt quan trọng, quyết định sự phát triển của văn hóa.
Như vậy, đời sống văn hóa là một khái niệm chỉ sự vận động của văn hóa trong không gian, thời gian xác định, của một chủ thê nhất định. Đời sống văn hóa của con người bao gồm hai khía cạnh vật chất và tinh thần, chia tách tương đối thành đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần. Từ đó toàn bộ các giá trị văn hóa được xác định thuộc về văn hóa vật thể hay thuộc về văn hóa phi vật thé. Hình thái phi vat thé của sự ton tai văn hóa tinh than chính là: “Ý thức xã hội bao gồm toàn bộ những khái niệm, tư tưởng, lý luận, học thuyết khác nhau, hợp thành tài sản tinh thần của xã hội”.
Do đó, đời sống văn hóa tinh than chỉ bao gồm lĩnh vực văn hóa tinh thần. Đời sống văn hóa tinh thần do vậy đương nhiên có nội hàm hẹp hơn khái niệm đời sống văn hóa. Đời sống tinh thần bao quát lĩnh vực hoạt động nào của con người? Đời song tinh thần và đời sống văn hóa tinh thần có sự giao thoa khi cùng chỉ sự hoạt động của con người trong lĩnh vực tinh thần. Sự khác nhau giữa hai khái niệm này năm ở giá trị văn hóa.
Mác cho răng, căn cứ vào mức độ tự nhiên 12 được con người chuyền biến thành “bản chất người” tức mức độ tự nhiên được con người khai thác cải tạo thì có thể xem xét được trình độ văn hóa chung của con người”. Giá tri văn hóa trong một san phẩm, một hiện vật chính là tính chất, mức hữu ích đáp ứng nhu cầu của con ngưởi ở một trình độ nhất định, mặt khác giá trị văn hóa trong một sản phẩm còn phản ánh trình độ phát triển, mức hoàn thiện về thé chat, trí tuệ, thâm mĩ và dao đức của người sáng tao ra các sản pham ấy. Không phải tat cả các vật phẩm con người sáng tạo ra đều đạt tới giá trị văn hóa bao gồm cả các giá trị văn hóa tinh than: “Hiện vật nào có khả năng thỏa mãn nhu cầu phát triển nhất của con người trong một giai đoạn nhất định, dưới một hình thái “nhân bản hóa” cao nhất mới được gọi là “hiện vật văn hóa”. [1, tr 26, 27, 29] Từ nhận thức trên, luận văn đưa ra quan niệm về khái niệm đời sống tinh thần như sau: “Mội mặt khái niệm đời sống tinh than bao quát toàn bộ đời sống văn hóa tinh than của con người, phản ánh quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa phi vật thé; Mặt khác, khái niệm đời sống tinh than phản ánh mọi hoạt động tỉnh than của con người trong quá trình vận động thực tiễn của xã hội và cá nhân tạo ra các vật phẩm đáp ứng nhu cầu con người ở mọi trình độ từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp.
” Đời sống tinh thần được thể hiện qua lối sống, sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận khái niệm đời sống tinh thần giới han trong các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, do đó sẽ sử dụng khái niệm đời sống tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh khái niệm đời sống tinh thần. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo là quá trình con người bộc lộ, thực hành, hoàn thiện về niềm tin tín ngưỡng dân gian, ý thức tôn giáo. GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Tôn giáo tín ngưỡng cũng như nhiều hiện tượng khác, đều là sản phẩm của một xã hội, phản ánh nhận thức xã hội.
Do tính đặc thù của nó, tôn giáo tín ngưỡng không chỉ là một bộ phận của đời sống văn hóa tinh than, 13 mà còn là bộ phận hữu cơ gan bó mật thiết với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Do vậy, các nhà nghiên cứu văn hóa, nhất là văn hóa dân gian không thé không từ góc độ đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng dé có thé tiếp cận văn hóa dân tộc một cách sâu sắc hơn” [57]. Đặc biệt việc nghiên cứu lễ hội - một hình thức tín ngưỡng dân gian tổng hợp với các biểu hiện phong phú trong sinh hoạt tâm linh của một cộng đồng như nhạc lễ, múa thiêng, diễn xướng nghỉ lễ. đã giúp khám phá sự tương tác, mối liên kết chặt chẽ giữa các hình thức văn hóa nghệ thuật tín ngưỡng và nghệ thuật đời thường.2 Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo cỗ truyền trong cộng đồng người Khmer Nam bộ.
La cộng đồng dân cư nông nghiệp trồng lúa nước, người Khmer Nam bộ sống định cư trong các Phum Sóc. “Phum Sóc” là địa giới vật chất, xác định địa bàn sinh sống của một cộng đồng người Khmer nhất định; Phum Sóc là một hình thức tổ chức xã hội cơ sở quan trọng của người Khmer có cơ chế vận hành, t6 chức quản trị riêng tạo nên những thiết chế vật chất cơ bản trong đó có ngôi chùa Khmer. Khi đề cập đến nét văn hoá Phum sóc của người Khmer thì vấn đề này tương đối đa dạng không chỉ giới hạn tại tỉnh Kiên Giang mà cả vùng Nam bộ phong phú không kém phần đa dạng. Tuy nhiên, do sự phát triển kinh tế vượt bậc của xã hội ngày nay cũng như việc giao lưu văn hoá giữa các dân tộc qua các thời kỳ đã tạo nên diện mạo mới cho văn hoá Phum sóc ngày nay.
Hình thức tổ chức xã hội của phum sóc là cộng đồng dân cư chung sống với nhau tương tự như hội đồng làng, xã ở thời kỳ trước. Có thé thấy hình thức tổ chức này vẫn đang trong giai đoạn biến đổi cụ thé như: Trong giai đoạn thăng trầm của lịch sử đã từng tồn tại một tô chức hội đồng làng của Phum sóc do trưởng làng là người đứng đầu và điều hành mọi công việc (trưởng làng phải là người có đức có tài, hiểu biết thâm sâu về giáo lý Phật giáo do người dân tin tưởng đề cử bầu ra, ngày nay vai trò trưởng làng đã được thay đổi thành trưởng ấp theo đúng cơ chế vận hành của bộ máy hành 14 chính Nhà nước). Bên cạnh những biến đổi đó người Khmer cơ bản vẫn giữ và tuân thủ nguyên tắc truyền thống của mình. Theo như kết quả khảo sát thực tiễn tại tỉnh Kiên Giang cho thấy răng: Một số tập tục truyền thống như “Cắt tóc trả ơn bà mụ” đã giúp cho mẹ và bé vượt cạn thành công, hình thức này đã không còn phô biến như thời kỳ đầu mà thay vào đó là họ thỉnh, mời hoặc trực tiếp đến chùa nhờ nhà Sư ban phước lành cho đứa bé được khoẻ mạnh.
Trường hợp đối với những ngôi chùa trong Phum sóc thì không cô định số lượng. Mỗi phum sóc có thé có 1 hoặc 2 ngôi chùa hoặc có thé nhiều hơn như tại tỉnh Trà Vinh có 7 huyện, toàn tỉnh có 143 ngôi chùa Phật giáo Nam tông của người Khmer, có Phum sóc lên đến 8 ngôi chùa. Điều đó chứng tỏ rằng số lượng ngôi chùa còn tuỳ thuộc vào phạm vi hoạt động của Phum sóc và số lượng tín đồ Phật tử nhiều hay ít, thậm chí có ngôi chùa hình thành từ rất sớm trước khi hình thành Phum sóc như chùa Ratanaransi “Láng Cát” (Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang) được hình thành cách đây hơn 600 năm, sau khi ngôi chùa được hình thành thì một bộ phận người dân mới trở về nương nhờ cửa Phật và dần hình thành Phum sóc như ngày nay.